TÓM TẮT TÀI LIỆU KỲ MÔN - LỤC GIÁP ẨN ĐỘN LỤC NGHI

I. TAM KỲ (Ba kỳ)

Tam Kỳ là phạm trù chọn ngày tốt thứ hai trong Kỳ Môn Độn Giáp, sau Tam Cát Môn.

  • Ất là Nhật Kỳ (sao ban ngày)

  • Bính là Nguyệt Kỳ (sao ban đêm)

  • Đinh là Tinh Kỳ (sao sao) (Ghi chú: nguyên bản viết "Đinh là Nhật Kỳ" nhưng theo chuẩn thường gọi Đinh là Tinh Kỳ, có lẽ do nhầm lẫn, nhưng dịch sát nguyên bản: "Đinh là Nhật Kỳ" - tuy nhiên trong các tài liệu khác, Ất là Nhật Kỳ, Bính Nguyệt Kỳ, Đinh Tinh Kỳ. Ở đây giữ nguyên: "Đinh vi nhật kỳ" nhưng chú thích.)

II. LỤC NGHI (Sáu nghi)

Lục Nghi là sự phân chia mang tính giai đoạn trong khu vực lớn của Lục Thập Giáp Tử, lấy Lục Giáp làm đầu mỗi tuần, được biểu hiện qua sáu thiên can: Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Đây chính là điều thường gọi là Lục Giáp ẩn độn dưới Lục Nghi.

  • Giáp Tý Mậu: Giáp Tý ẩn trong Mậu Nghi. Mười giờ từ Giáp Tý đến Quý Dậu là tuần Giáp Tý, lấy Giáp Tý làm đầu tuần.

  • Giáp Tuất Kỷ: Giáp Tuất ẩn trong Kỷ Nghi. Mười giờ từ Giáp Tuất đến Quý Mùi là tuần Giáp Tuất, lấy Giáp Tuất làm đầu tuần.

  • Giáp Thân Canh: Giáp Thân ẩn trong Canh Nghi. Mười giờ từ Giáp Thân đến Quý Tỵ là tuần Giáp Thân, lấy Giáp Thân làm đầu tuần.

  • Giáp Ngọ Tân: Giáp Ngọ ẩn trong Tân Nghi. Mười giờ từ Giáp Ngọ đến Quý Mão là tuần Giáp Ngọ, lấy Giáp Ngọ làm đầu tuần.

  • Giáp Thìn Nhâm: Giáp Thìn ẩn trong Nhâm Nghi. Mười giờ từ Giáp Thìn đến Quý Sửu là tuần Giáp Thìn, lấy Giáp Thìn làm đầu tuần.

  • Giáp Dần Quý: Giáp Dần ẩn trong Quý Nghi. Mười giờ từ Giáp Dần đến Quý Hợi là tuần Giáp Dần, lấy Giáp Dần làm đầu tuần.

Trong Kỳ Môn, Dương cục bố trí thuận, Âm cục bố trí nghịch. Nhưng dù thuận hay nghịch, thứ tự các Kỳ Nghi trên bàn Kỳ Môn luôn là: Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, Đinh, Bính, Ất.

III. BÁT THẦN (Tám vị thần)

  1. Trực Phù: Đứng đầu Bát Thần. Căn cứ vào cung nó đóng để xác định phân bố của các thần khác. Gặp Cát Cách thì chủ về những sự vật mang tính lãnh đạo, quý trọng; gặp Hung Cách thì chủ về thất thế, lạc thời.

  2. Đằng Xà: Liên quan đến những sự việc thần bí. Gặp Cát Cách chủ về nghi ngờ, thần kinh; gặp Hung Cách chủ về hư kinh, quái dị, tranh chấp, khuyết tật.

  3. Thái Âm: Mang ý nghĩa cực kỳ bí mật. Gặp Cát Cách chủ về việc mừng, kín đáo, nhu thuận, hòa hợp; gặp Hung Cách chủ về thị phi, tai tiếng, khó bộc lộ.

  4. Lục Hợp: Hàm nghĩa hòa hợp. Gặp Cát Cách chủ về việc trung gian hòa giải, thuận hòa, tốt đẹp; gặp Hung Cách chủ về bị liên lụy, tranh cãi, tư thông.

  5. Bạch Hổ: Tính hung dữ hiếu chiến. Gặp Cát Cách chủ về tích cực nhanh nhạy, có sức ảnh hưởng; gặp Hung Cách chủ về bệnh tật, tai họa, chết chóc, tranh đấu.

  6. Huyền Vũ: Tính thích lừa đảo. Gặp Cát Cách chủ về khéo léo, biến hóa, mưu kế; gặp Hung Cách chủ về thị phi, kiện cáo, trộm cướp, gian dối, phản phúc thất thường.

  7. Cửu Địa: Tính âm nhu hòa thuận, lưỡng lự. Gặp Cát Cách chủ về tiêu cực, tĩnh lặng, nhu thuận, chậm chạp; gặp Hung Cách chủ về ưu buồn, bệnh tật, chết chóc, mờ ám.

  8. Cửu Thiên: Tính hiếu thắng. Gặp Cát Cách chủ về tích cực chủ động, có vai trò lãnh đạo; gặp Hung Cách chủ về khinh suất, hấp tấp, lực bất tòng tâm.

Trong Kỳ Môn, Dương cục thì Bát Thần bố trí theo chiều thuận (kim đồng hồ), Âm cục bố trí theo chiều nghịch (ngược kim đồng hồ).

IV. VỊ TRÍ NGUYÊN THỦY CỦA BÁT MÔN VÀ CỬU TINH

  • Tốn 4: Thiên Phụ tinh – Đỗ Môn

  • Ly 9: Thiên Anh tinh – Cảnh Môn

  • Khôn 2: Thiên Nhuế tinh, Thiên Cầm tinh – Tử Môn

  • Chấn 3: Thiên Xung tinh – Thương Môn

  • Trung 5: (trống, gọi là Trung cung)

  • Đoài 7: Thiên Trụ tinh – Kinh Môn

  • Cấn 8: Thiên Nhâm tinh – Sinh Môn

  • Khảm 1: Thiên Bồng tinh – Hưu Môn

  • Càn 6: Thiên Tâm tinh – Khai Môn

V. BỐ CỤC KỲ MÔN

1. Hỷ kỵ của các hệ thống trong Kỳ Môn

  • Vượng suy của Môn và Tinh: Trong dự đoán thực tế, ngoài việc tham khảo thuộc tính của sự vật và tướng mạo của người, sự vượng suy của Môn và Tinh không quan trọng. Kỳ Môn chủ yếu xem phạm trù do Cát Môn, Hung Môn quyết định, xem các cách cục do Kỳ và Nghi tạo thành, dựa vào sinh khắc của Cửu Cung Bát Quái để luận cát hung. Vì vậy, Môn và Tinh không cần bàn vượng suy.

  • Phạm vi hỷ kỵ của Kỳ, Nghi, Bát Thần:

    • Tam Kỳ (Ất, Bính, Đinh) chỉ tác động trong cùng cung giữa Thiên bàn và Địa bàn, không tương tác với Kỳ, Nghi ở cung khác. Trừ khi lâm Quý Thủy, Tam Kỳ thích được sinh, không thích bị khắc. Kiêng kỵ nhất là lâm vào hai Nghi Canh, Quý và bị đồng tính khắc (ví dụ: Đinh gia Quý, Ất gia Tân...).

    • Lục Nghi (tức Lục Giáp) cũng chỉ tác động trong cùng cung giữa Thiên bàn và Địa bàn, không tương tác với Kỳ, Nghi ở cung khác. Lục Nghi chủ yếu xem Không vong.

    • Tam Kỳ, Lục Nghi phần lớn thời gian được định làm tọa độ (thước đo), thần dụng (dụng thần) và ngày giờ ứng nghiệm.

    • Bát Thần không có vượng suy, chỉ có sắc thái biểu tượng riêng.

Tóm lại: Cửu Cung chủ yếu xem sinh khắc; Cửu Tinh xem tướng mạo; Bát Môn luận phạm trù cát hung; Tam Kỳ xem hỷ kỵ; Lục Nghi xem Không vong; Bát Thần xem tính tình.

2. Lựa chọn Dụng thần

  • Môi trường, hoàn cảnh: lấy Bát Môn làm Dụng thần.

  • Lục thân (các mối quan hệ): lấy Thập Thiên can trên Thiên bàn làm Dụng thần.

    • Can năm (Thiên bàn) đại diện cho cha mẹ, bậc bề trên.

    • Can tháng (Thiên bàn) đại diện cho anh chị em, bạn bè, đồng nghiệp.

    • Can ngày (Thiên bàn) đại diện cho đương sự.

    • Can giờ (Thiên bàn) đại diện cho con cái, cấp dưới, đối thủ.

  • Hôn nhân: Canh (Thiên bàn) đại diện cho nam, Ất đại diện cho nữ, Bính đại diện cho tình nhân nam, Đinh đại diện cho tình nhân nữ.

  • Các lĩnh vực khác: Tân đại diện cho tội phạm, kẻ trộm; Đinh đại diện cho bài thi, văn bằng; Cách cục mà Canh lâm vào đại diện cho thời gian ứng nghiệm của một số sự việc.

VI. NGUYÊN LÝ DỰ ĐOÁN KỲ MÔN

Kỳ Môn chia làm hai khu vực:

  • Khu vực tốt: chủ yếu là ba môn Khai, Hưu, Sinh.

  • Khu vực xấu: gồm các môn Đỗ, Cảnh, Thương, Tử, Kinh.

Tuy nhiên, trong dự đoán thực tế, không phải cứ gặp Cát Môn là ứng việc tốt, gặp Hung Môn là ứng việc xấu.

Các bước tiến hành:

  1. Xác định tọa độ (座標 - Tọa độ): Tọa độ chính là đương sự.

    • Ví dụ: Đoán việc quan cho anh trai → lấy can tháng (đại diện anh em) làm tọa độ, lấy Khai Môn (đại diện quan) làm Dụng thần.

    • Đoán tài lộc cho con cái → lấy can giờ làm tọa độ, lấy Sinh Môn làm Dụng thần.

    • Đoán cho chính đương sự → lấy can ngày làm tọa độ, hoặc lấy cung người đó đang ngồi làm tọa độ.

  2. Luận cát hung: Dùng Bát Môn để luận phạm trù cát hung, dùng sự sinh khắc giữa các cung (Cửu cung Địa bàn) để luận cát hung.

    • Tọa độ lâm Khai, Hưu, Sinh (Tam Cát Môn):

      • Được Dụng thần (cung Dụng thần) sinh trợ → Cát.

      • Bị Dụng thần khắc hoặc tiết khí → Hung.

    • Tọa độ lâm Đỗ, Kinh, Thương, Tử, Cảnh (Ngũ Hung Môn):

      • Được Dụng thần sinh trợ → Hung.

      • Bị Dụng thần khắc hoặc tiết khí → Cát.

    • Nếu tọa độ và Dụng thần đồng cung: luận cát hung dựa vào tổ hợp cách cục của chính cung đó và tham khảo các cung khác.

  3. Luận chi tiết môi trường và sự việc:

    • Dùng sao, thần, môn, kỳ, nghi mà tọa độ lâm để mô tả hoàn cảnh của người hỏi.

    • Dùng sao, thần, môn, kỳ, nghi mà cung Dụng thần lâm để mô tả hoàn cảnh của sự việc cần hỏi.

  4. Luận mức độ lớn nhỏ của cát hung:

    • Căn cứ vào tổ hợp của cung tọa độ và quan hệ sinh khắc của cung Dụng thần đối với nó.

    • Tọa độ lâm Cát Môn, Cát Cách, được Dụng thần sinh trợ càng vượng thì càng tốt.

    • Tọa độ lâm Cát Môn, Cát Cách, bị Dụng thần khắc tiết càng vượng thì càng xấu.

    • Tọa độ lâm Hung Môn, Hung Cách, bị Dụng thần khắc tiết càng vượng thì càng tốt.

    • Tọa độ lâm Hung Môn, Hung Cách, được Dụng thần sinh vượng càng mạnh thì càng xấu. 

      • Nếu lực sinh khắc nhỏ thì mức độ cát hung cũng nhỏ tương ứng.

       

      Về nguyên tắc "bị khắc thì không làm tiết hao đi khí lực của chủ khắc"

      Thông thường, bên bị khắc không làm tiết hao đi lực lượng của bên chủ khắc.

      • Tọa độ cung lâm Hung Môn, Hung Cách thì hung.

      • Tọa độ cung lâm Cát Môn, Cát Cách thì cát.

      Chỉ trong những ngày sau đây, bên bị khắc mới có thể tiết hao lực lượng của bên chủ khắc:

      • Ngày Dần, Mão: Cung 3 (Chấn), cung 4 (Tốn) tiết hao lực lượng của cung 6 (Càn), cung 7 (Đoài). (Mộc tiết Kim)

      • Ngày Hợi, Tý: Cung 1 (Khảm) tiết hao lực lượng của cung 2 (Khôn), cung 8 (Cấn). (Thủy tiết Thổ)

      • Ngày Tỵ, Ngọ: Cung 9 (Ly) tiết hao lực lượng của cung 1 (Khảm). (Hỏa tiết Thủy)

      • Ngày Thân, Dậu: Cung 6 (Càn), cung 7 (Đoài) tiết hao lực lượng của cung 9 (Ly). (Kim tiết Hỏa)

      • Ngày Thìn, Tuất, Sửu, Mùi: Cung 2 (Khôn), cung 8 (Cấn) tiết hao lực lượng của cung 4 (Tốn), cung 5 (Trung). (Thổ tiết Mộc)

      Động và Tĩnh (trong dự đoán Kỳ Môn)

      Khi dự đoán bằng Kỳ Môn, nhất thiết phải phân biệt là động chiếm (động quẻ, có sự di động) hay tĩnh chiếm (tĩnh quẻ, không di động). Cả động chiếm và tĩnh chiếm đều lấy sinh khắc Ngũ hành của cung Địa bàn mà tọa độ (dụng thần) đang đóng để luận cát hung. Tuy nhiên:

      • Động chiếm: Lấy Thiên bàn mà dụng thần đóng để xác định thuộc tính của sự vật.

      • Tĩnh chiếm: Lấy Địa bàn mà dụng thần đóng để xác định thuộc tính của sự vật.

      Động chiếm là khi người cầu hỏi đang đi lại hoặc có ngoại ứng rõ ràng vào lúc chiếm đoán. Ví dụ: Địa bàn là cung Cấn, Thiên bàn là cung Càn tương lâm. Nếu là động chiếm thì ứng ở Thiên bàn cung Càn, lấy tượng quẻ Càn làm chủ, tức là nhân vật là ông già, phương hướng Tây Bắc, bệnh về đầu, công việc liên quan đến chính phủ hoặc cơ quan tài chính.

      Bát Thần chủ yếu đại diện cho tính cách và dự định của con người. Cửu Tinh dựa vào thuộc tính Bát quái tương ứng để phân định giới tính và ngoại hình. Tám quẻ trên Thiên bàn đại diện cho một số thuộc tính của sự vật.

      Vượng suy của tám cung (Bát cung vượng suy)

      Chủ yếu dựa vào địa chi của ngày để quyết định vượng suy của tám cung:

      • Ngày Hợi, Tý: Các cung Khảm (1), Chấn (3), Tốn (4) vượng; các cung khác suy.

      • Ngày Dần, Mão: Các cung Chấn (3), Tốn (4), Ly (9) vượng; các cung khác suy.

      • Ngày Tỵ, Ngọ: Các cung Ly (9), Khôn (2), Cấn (8) vượng; các cung khác suy.

      • Ngày Thân, Dậu: Các cung Càn (6), Đoài (7), Khảm (1) vượng; các cung khác suy.

      • Ngày Thìn, Sửu: Các cung Cấn (8), Càn (6), Đoài (7) vượng; các cung khác suy.

      • Ngày Mùi, Tuất: Cung Khôn (2) vượng; các cung khác suy.

      Vượng suy của tám cung liên quan đến mức độ lớn nhỏ của cát hung ứng nghiệm, đặc biệt là trong cách cục Phục ngâm.

      Tác dụng của Thập Can (mười can)

      Thập Can chính là Giáp ẩn độn và Tam Kỳ, Lục Nghi. Phần lớn thời gian chúng chỉ được định làm tọa độ, dụng thần và ngày giờ ứng nghiệm. Kỳ Nghi ở bản cung không tác động với Kỳ Nghi ở cung khác. Chỉ khi được định làm tọa độ và dụng thần, Kỳ Nghi ở Thiên bàn và Địa bàn mới phát sinh tác dụng trong chính cung đó. Kỳ Môn chủ yếu dùng Thập Can để luận thời gian: xa thì ứng vào năm tháng, gần thì ứng vào ngày giờ.

      Thập Can có hợp hóa và hợp vấp (hợp mà không hóa). Hợp hóa và hợp vấp chỉ được luận trong cùng một cung giữa Thiên bàn và Địa bàn. Chỉ có cung tọa độ (dụng thần) mới luận hợp hóa và hợp vấp. Hợp hóa và hợp vấp là các trường hợp như: Thiên bàn Quý, Địa bàn Mậu; hoặc Thiên bàn Mậu, Địa bàn Quý; hoặc Thiên bàn Ất, Địa bàn Canh; hoặc Địa bàn Canh, Thiên bàn Ất.

      Địa bàn là gốc rễ, Thiên bàn là ngọn non. Nếu can Địa bàn bị hợp vấp mà lại xuất hiện ở Thiên bàn của một cung khác, thì đó là yếu tố tham khảo quan trọng. Ví dụ: Mậu và Quý hợp vấp ở cung Chấn, nhưng Địa bàn Quý lại xuất hiện ở Thiên bàn cung Càn, lúc này cần chủ yếu tham khảo tác dụng của cung Càn đối với cung tọa độ để luận. Nếu cung mà can Địa bàn bị hợp vấp xuất hiện ở Thiên bàn không tác động đến cung tọa độ, thì vẫn lấy cung dụng thần ban đầu làm tham khảo chính.

      Không vong phản đoán (phá vỡ quy tắc thông thường)

      Tầm quan trọng của Không vong gần như quyết định một nửa tỷ lệ chính xác của dự đoán Kỳ Môn. Chỉ khi Lục Nghi được định làm tọa độ hoặc dụng thần mới luận Không vong. Không vong phản đoán có nghĩa là: bình thường luận là cát thì lại ứng với hung, bình thường luận là hung thì lại ứng với cát.

      Các cặp Thiên can Không vong (tuần không) là:

      • Tuần Giáp Tý: Kỷ không vong (tức các can Kỷ trong tuần này ở cung không)

      • Tuần Giáp Tuất: Canh không vong

      • Tuần Giáp Thân: Tân không vong

      • Tuần Giáp Ngọ: Nhâm không vong

      • Tuần Giáp Thìn: Quý không vong

      • Tuần Giáp Dần: Mậu không vong

      (Cần lưu ý: Xác định theo giờ để luận Không vong)

      Các trường hợp KHÔNG luận Không vong:

      • Lục Giáp (bản thân Giáp) không có Không vong. Ví dụ: tuần Giáp Tý mà gặp Giáp Tuất, thuộc về Lục Giáp xuất hiện, thì Giáp đó không luận Không vong.

      • Lục Giáp, Tam Kỳ, Bát Môn, Cửu Tinh, Bát Thần: không luận Không vong.

      • Cung tọa độ (cung người hỏi ngồi hoặc lấy làm tọa độ): không luận Không vong.

      • Can Thiên bàn ở cung hợp vấp: không luận Không vong.

      • Cung Canh (nơi Lục Canh đóng) hoặc Canh trong cách cục "Canh Cách": không luận Không vong.

      • Hình phạt Tý Mão hình: chủ yếu về tai họa quan chức, Tý Mão hình không luận Không vong.

      Tính cách và tướng mạo (Tình tính tướng mạo)

      Bát Thần luận tính cách:

      • Trực Phù: vững vàng, lương thiện.

      • Đằng Xà: đa nghi, thần kinh chất.

      • Thái Âm: nội hướng, trầm tĩnh.

      • Lục Hợp: hòa nhã, khéo liên kết người.

      • Bạch Hổ: nóng tính, cương cường.

      • Huyền Vũ: giả dối, khéo biến hóa.

      • Cửu Địa: chậm chạp, u sầu.

      • Cửu Thiên: hướng ngoại, nóng vội.

      Lấy Cửu Tinh trên Thiên bàn để luận tướng mạo:

      Bất kể là sao nào, hễ được Nhật kiến (hành của ngày) sinh trợ thì là người cao; bị Nhật kiến khắc hoặc tiết thì là người thấp. (Lấy cung khởi đầu của tuần để luận vượng suy).

      • Thiên Xung, Thiên Phụ, Thiên Cầm, Thiên Tâm, Thiên Nhâm: khi gặp vượng thì đẹp, khi gặp suy thì xấu.

      • Thiên Nhuế, Thiên Bồng, Thiên Anh, Thiên Trụ: khi gặp suy thì đẹp, khi gặp vượng thì xấu.

      Trong trường hợp Địa bàn ở cung đang vượng:

      • Nếu Cửu Tinh trên Thiên bàn được cung mà nó đóng sinh trợ thì người béo.

      • Nếu Cửu Tinh trên Thiên bàn bị cung mà nó đóng khắc hoặc tiết thì người gầy.

      • Thiên Nhuế, Thiên Cầm, Thiên Nhâm: phần nhiều mặt vuông.

      • Thiên Tâm, Thiên Trụ, Thiên Xung: phần nhiều mặt tròn.

      • Thiên Phụ: phần nhiều mặt tròn dài.

      • Thiên Anh: phần nhiều mặt tròn vuông.

      • Thiên Bồng: phần nhiều mặt bầu dục.

      Động chiếm thì ứng ở Thiên bàn, Tĩnh chiếm thì ứng ở Địa bàn.

LỤC THÂN (Sáu mối quan hệ)

1. Cha mẹ và bậc bề trên

Khi đoán về cha mẹ và bậc bề trên, lấy Thiên bàn của Can năm làm tọa độ. Đoán việc gì thì dựa vào quan hệ tác động của cung Dụng thần đối với cung mà Thiên bàn Can năm đóng để luận cát hung.

2. Anh chị em, bạn bè, đồng nghiệp

Lấy Can tháng làm tọa độ. Đoán việc gì thì dựa vào quan hệ tác động của cung Dụng thần đối với cung mà Thiên bàn Can tháng đóng để luận cát hung.

3. Con cái và bậc đàn em

Lấy Can giờ làm tọa độ. Đoán việc gì thì dựa vào quan hệ tác động của cung Dụng thần đối với cung mà Thiên bàn Can giờ đóng để luận cát hung.

HÔN NHÂN VÀ THAI SẢN

1. Hôn nhân

Trong hôn nhân:

  • Thiên bàn Canh đại diện cho bên nam.

  • Thiên bàn Ất đại diện cho bên nữ.

  • Thiên bàn Bính đại diện cho tình nhân nam (nhân tình của nữ? Thực tế Bính là tình phu, tức người tình nam của nữ)

  • Thiên bàn Đinh đại diện cho tình nhân nữ (tình phụ).

Tướng mạo luận theo Cửu Tinh trên Thiên bàn, tính cách luận theo Bát Thần.

  • Đoán cho nam giới: Dựa vào quan hệ tác động của Ất, Đinh đối với cung tọa độ.

    • Tọa độ lâm Cát Môn, Cát Cách, được cung Ất Kỳ sinh trợ → hôn nhân viên mãn.

    • Tọa độ lâm Cát Môn, bị cung Ất Kỳ khắc tiết → gia đình bất hòa.

    • Nếu bị cung Ất Kỳ lâm Hung Cách khắc tiết → ly dị.

    • Tọa độ lâm Hung Môn, Hung Cách, bị cung Ất Kỳ khắc tiết → hôn nhân viên mãn.

    • Tọa độ lâm Hung Môn, bị cung Ất Kỳ sinh trợ → gia đình bất hòa.

    • Cung Ất Kỳ lâm Hung Cách sinh trợ tọa độ → ly dị.

    • Đinh Kỳ tác dụng tốt lên tọa độ thì có tình nhân nữ, tác dụng không tốt thì không có.

  • Đoán cho nữ giới: Dựa vào quan hệ tác động của Canh, Bính đối với cung tọa độ. Cách luận cát hung tương tự như đối với nam.

Phân biệt Nội bàn – Ngoại bàn:

  • Dương độn: các cung 1, 8, 3, 4 là Nội bàn; các cung 9, 2, 6, 7 là Ngoại bàn.

  • Âm độn: các cung 1, 8, 3, 4 là Ngoại bàn; các cung 9, 2, 6, 7 là Nội bàn.

Nếu Can năm tác dụng xấu lên tọa độ:

  • Can năm ở Nội bàn → cha mẹ bên nhà mình phản đối.

  • Can năm ở Ngoại bàn → cha mẹ bên nhà người yêu phản đối.

Dùng quan hệ tác động của Thương Môn, Sinh Môn, Khai Môn đối với cung Dụng thần để luận về việc đối phương có tiền bạc, bệnh tật, công việc... Động chiếm ứng ở Thiên bàn, tĩnh chiếm ứng ở Địa bàn.

2. Thai sản (đoán có thai, sinh nở)

Đoán thai sản, lấy Thiên bàn Can giờ làm Dụng thần. Dựa vào thuộc tính Âm Dương của Bát quái của cung đó để luận trai hay gái. Động chiếm ứng Thiên bàn, tĩnh chiếm ứng Địa bàn.

Dùng quan hệ tác động của cung Dụng thần đối với cung tọa độ để luận cát hung.

  • Dụng thần tác động xấu lên tọa độ → chủ yếu khó sinh.

  • Dụng thần lâm Tử Môn, Thương Môn, Cảnh Môn mà tác động xấu lên tọa độ → chủ yếu sảy thai.

SỰ NGHIỆP

1. Học hành, thi cử

Đoán thi cử, lấy Đinh Kỳ làm Dụng thần.

  • Tọa độ lâm Cát Môn, được Đinh Kỳ sinh trợ → đỗ.

  • Tọa độ lâm Cát Môn, bị Đinh Kỳ khắc tiết → trượt.

  • Tọa độ lâm Hung Môn, được Đinh Kỳ sinh trợ → trượt.

  • Tọa độ lâm Hung Môn, bị Đinh Kỳ khắc tiết → đỗ.

Tuy nhiên, nếu Đinh Kỳ lâm Hung Cách hoặc gặp Canh, Quý, thì dù tọa độ có lâm Cát Môn được sinh trợ, hay lâm Hung Môn bị khắc tiết, cũng rất khó đỗ.

Đỗ trường nào thì luận theo chủ quản của Bát quái cung đó. Động chiếm ứng Thiên bàn, tĩnh chiếm ứng Địa bàn.

2. Tài năng và danh tiếng

  • Lấy Hưu Môn làm Dụng thần cho tài năng.

  • Lấy Đinh Kỳ làm Dụng thần cho văn bằng (học vị).

  • Cả Hưu Môn và Đinh Kỳ đều tác dụng tốt lên tọa độ → có văn bằng, có tố chất, có năng lực.

  • Cả Hưu Môn và Đinh Kỳ đều tác dụng xấu lên tọa độ → không văn bằng, không tố chất.

  • Hưu Môn tác dụng tốt, Đinh Kỳ tác dụng xấu → không văn bằng nhưng có tài năng.

  • Hưu Môn tác dụng xấu, Đinh Kỳ tác dụng tốt → có văn bằng nhưng không có tài năng.

Danh tiếng lấy Hưu Môn làm Dụng thần, luận quan hệ với tọa độ.

3. Công việc, đường quan lộ

  • Lấy Khai Môn làm Dụng thần.

  • Can năm đại diện cho cấp trên.

  • Can tháng đại diện cho đồng nghiệp.

  • Can giờ đại diện cho cấp dưới.

  • Tọa độ lâm Cát Môn, được Khai Môn sinh trợ → cát.

  • Tọa độ lâm Cát Môn, bị Khai Môn khắc tiết → hung.

  • Tọa độ lâm Hung Môn, được Khai Môn sinh trợ → hung.

  • Tọa độ lâm Hung Môn, bị Khai Môn khắc tiết → cát.

Nghề nghiệp, vị trí cụ thể luận theo chủ quản của Bát quái cung Khai Môn. Động chiếm ứng Thiên bàn, tĩnh chiếm ứng Địa bàn.

Chủ yếu dùng Nhật chi để phán đoán vượng suy của tám cung.

  • Khai Môn tác dụng rất tốt lên tọa độ → có quan lộ.

  • Khai Môn tác dụng tốt ở mức trung bình → có công việc tốt.

  • Khai Môn tác dụng tốt xấu không rõ rệt → công việc không lý tưởng.

  • Khai Môn tác dụng xấu lên tọa độ → không có việc làm.

Phân loại công việc theo cung Khai Môn:

  • Khai Môn lâm Khảm (1): y tế, thủy lợi, dầu khí, nhà máy nước giải khát, nhà máy rượu, nhà máy thủy sản...

  • Khai Môn lâm Cấn (8): ngành xây dựng, lâm nghiệp, nhà máy đồ gỗ...

  • Khai Môn lâm Chấn (3): quân đội, cảnh sát, giao thông, pháo hoa, nhà máy nhạc cụ...

  • Khai Môn lâm Tốn (4): thương mại, thuế vụ, du lịch, văn hóa, trường học, xưởng làm vườn...

  • Khai Môn lâm Khôn (2): lương thực, sữa, thông tin, dệt may, trại chăn nuôi, viện nuôi dưỡng...

  • Khai Môn lâm Đoài (7): nghệ thuật biểu diễn, kim loại, cơ điện, nhà máy thịt...

  • Khai Môn lâm Càn (6): cơ quan chính phủ, tài chính...

  • Động chiếm: lấy cung Thiên bàn mà Khai Môn đóng làm đơn vị công tác, Địa bàn của nó là thuộc tính công việc.

  • Tĩnh chiếm: lấy cung Địa bàn mà Khai Môn đóng làm đơn vị công tác, Thiên bàn của nó là thuộc tính công việc.

Thuộc tính công việc theo từng cung:

  • Cung Càn: công việc mang tính trung tâm, có tính chủ đạo.

  • Cung Khảm: công việc có tính hoạt động nhất định.

  • Cung Cấn: công việc ổn định, có tính bảo vệ, canh gác.

  • Cung Chấn: công việc có tính di động lớn.

  • Cung Tốn: công việc thuộc loại bán hàng, tiếp thị.

  • Cung Ly: công việc thuộc lĩnh vực thông tin.

  • Cung Khôn: công việc phụ thuộc, vất vả.

  • Cung Đoài: công việc mang tính dịch vụ.

XUẤT HÀNH

Đoán xuất hành, lấy Nhật can làm bản thân. Cát hung tham khảo phương sẽ đi đến.

  • Nhật can lâm Cát Môn, được phương định đến sinh trợ → cát.

  • Nhật can lâm Cát Môn, bị phương định đến khắc tiết → hung.

  • Nhật can lâm Hung Môn, bị phương định đến khắc tiết → cát.

  • Nhật can lâm Hung Môn, được phương định đến sinh trợ → hung.

  • Nếu Nhật can và phương định đến đồng cung thì lấy cách cục của chính cung đó luận cát hung.

  • Cung Tốn chủ về sự di động. Nếu cung Tốn tác dụng tốt lên cung tọa độ → chủ xuất hành; nếu tác dụng xấu → chủ không xuất hành hoặc đi chậm trễ.

Ngày về: Đoán theo "Canh cách" (hành vi của Canh). Nếu Canh không lâm vào cách cục đặc biệt, thì dựa vào mục đích của việc đi lại và quan hệ với cung tọa độ để luận. Ví dụ: đi làm thì xem cung Khai Môn, đi cầu tài thì xem cung Sinh Môn, v.v...

NGƯỜI ĐI XA

Đoán người đi xa, lấy mối quan hệ lục thân của người cầu đoán với người đi xa để định tọa độ. Cát hung dựa vào quan hệ giữa phương người đó đã đi và cung tọa độ (cách luận tương tự như xuất hành).

Ngày về: Đoán theo "Canh cách".

  • Gặp cách năm, tháng (niên cách, nguyệt cách) → cần một thời gian nhất định mới về.

  • Gặp cách ngày, giờ (nhật cách, thời cách) → có thể về trong thời gian gần.

  • Nếu Canh không lâm cách, thì dùng ngoại ứng (cung có hiện tượng lạ) trên Thiên bàn để đoán: cung ngoại ứng tác dụng tốt lên tọa độ thì về, tác dụng xấu thì không về.

Nếu không có ngoại ứng, có thể tham khảo mục đích ra đi của người đó mà luận:

  • Đi làm → xem cung Khai Môn.

  • Đi cầu tài → xem cung Sinh Môn.

  • Đi du lịch, thăm bạn bè người thân (việc vui) → xem cung Hưu Môn.

  • Đi chữa bệnh hoặc thăm bệnh → xem cung Thương Môn.

  • Đi dò hỏi tin tức → xem cung Cảnh Môn.

  • Đi tham dự đám tang → xem cung Tử Môn.

  • Đi kiện tụng → xem cung Kinh Môn.

  • Nếu không xác định được đi làm gì → xem cung Đỗ Môn.

Xem quan hệ của cung đó với cung tọa độ để luận về hay không:

  • Nếu cung đó tác dụng không tốt lên tọa độ → tạm thời chưa về.

  • Nếu cung đó tác dụng tốt lên tọa độ → lấy Thiên can của cung đó (Thiên bàn) để đoán ngày về.

  • Nếu Dụng thần và tọa độ đồng cung nhưng gặp cách cục xấu → không về.

  • Nếu cung đó tạo thành cách cục tốt → lấy Địa can của cung đó để đoán ngày về.

Các điều trên, xa thì ứng vào năm tháng, gần thì ứng vào ngày giờ, cần linh hoạt vận dụng.

 

ĐI LẠC (MẤT TÍCH)

Nếu biết thời gian đi lạc, lấy Nhật can của ngày đó làm tọa độ cho người đi lạc. Nếu không biết thời gian đi lạc, lấy mối quan hệ lục thân của người cầu đoán với người đi lạc để định tọa độ.

Cát hung xem Đỗ Môn:

  • Tọa độ lâm Cát Môn, được Đỗ Môn sinh trợ → cát.

  • Tọa độ lâm Cát Môn, bị Đỗ Môn khắc tiết → hung.

  • Tọa độ lâm Hung Môn, bị Đỗ Môn khắc tiết → cát.

  • Tọa độ lâm Hung Môn, được Đỗ Môn sinh trợ → hung.

Phần lớn tọa độ cho biết phương hướng của người đi. Động chiếm ứng ở Thiên bàn, tĩnh chiếm ứng ở Địa bàn.

Ngày về đoán theo Canh cách (các cách mà Canh lâm vào sau này cũng tham khảo). Dùng cung Đỗ Môn để luận người đi có về hay không:

  • Khi tọa độ lâm Cát Môn được Đỗ Môn sinh trợ, hoặc tọa độ lâm Hung Môn bị Đỗ Môn khắc tiết, thì Thiên bàn can của cung Đỗ Môn là ngày về.

  • Nếu Đỗ Môn và tọa độ đồng cung, lấy Địa bàn can của chính cung đó để đoán ngày về.

  • Nếu Đỗ Môn không tác dụng tốt (không sinh trợ hoặc khắc tiết đúng cách) thì tạm thời khó về.

Nếu Đỗ Môn và tọa độ đồng cung, thì xem cung Tốn tác dụng lên tọa độ thế nào để luận về hay không.

I. THỜI VẬN (Vận trình nhất thời)

Đoán thời vận nhất thời, lấy cung người đó đang ngồi (lạc tọa cung) làm tọa độ. Nếu không xác định được cung ngồi, lấy Nhật nguyên (can ngày) để định tọa độ. Nếu đoán thay cho người khác, lấy mối quan hệ lục thân của người cầu đoán với người được đoán để định tọa độ.

Xem tổ hợp của cung tọa độ và quan hệ tác động với các cung khác để luận cát hung cho các sự việc. Các can trên Thiên bàn đại diện cho tháng trôi, ngày trôi (lưu nguyệt, lưu nhật). Các can trên Địa bàn đại diện cho năm trôi (lưu niên).

TIN TỨC

Đoán tin tức dùng Cảnh Môn.

  • Tọa độ lâm Cát Môn, được Cảnh Môn sinh trợ → tin thật, tin tốt.

  • Tọa độ lâm Cát Môn, bị Cảnh Môn khắc tiết → tin xấu, tin giả.

  • Tọa độ lâm Hung Môn, bị Cảnh Môn khắc tiết → tin thật, tin tốt.

  • Tọa độ lâm Hung Môn, được Cảnh Môn sinh trợ → tin xấu, tin giả.

XE CỘ

Đoán xe cộ lấy Thương Môn làm Dụng thần, xem quan hệ của nó với cung tọa độ để luận cát hung.

PHONG THỦY

  • Hưu Môn đại diện cho nhà cửa, dựa vào tác dụng tốt xấu của cung nó đóng lên cung tọa độ để luận cát hung.

  • Thiên bàn Canh đóng lên cung Địa bàn nào thì đó là hướng cửa viện (đối với cách Phục ngâm, hướng cửa không đoán theo cách này).

  • Thiên bàn Chấn (sao) đóng lên phương Địa bàn nào thì đó là đường chính bên ngoài vật thể (nhà cửa).

  • Ở nông thôn: Thiên bàn Tốn đóng lên phương Địa bàn nào là cây cối; Thiên bàn Khảm đóng lên phương Địa bàn nào là sông ngòi hoặc mương nước.

  • Nếu đo riêng cửa chính của cơ quan hoặc khu nhà, lấy cung Khai Môn làm chủ.

  • Tử Môn đại diện cho phần mộ, dựa vào tác dụng tốt xấu của cung nó đóng lên cung tọa độ để luận cát hung.

  • Thiên bàn Canh đóng lên cung Địa bàn nào là hướng của phần mộ (đối với cách Phục ngâm, hướng mộ không đoán theo cách này).

  • Địa bàn Mậu là hướng đi của rồng (long mạch).

  • Nếu Tử Môn tác dụng tốt lên tọa độ, thì lấy cung sinh trợ cho Tử Môn để luận cát sao, cát thủy.

  • Nếu Tử Môn tác dụng xấu lên tọa độ, thì lấy cung sinh trợ cho Tử Môn để luận hung sao, hung thủy.

Đối với việc đoán âm trạch, dương trạch phong thủy nói trên, lập bàn vào thời điểm hỏi quẻ. Nếu muốn cải tạo phong thủy, cần xác định tọa độ đặc biệt kết hợp với chọn ngày giờ tốt trong Kỳ Môn để ứng dụng.

THI ĐẤU, CẠNH TRANH

  • Lấy cung Nhật can làm bên chủ, cung Thời can làm bên khách. Thắng thua tham khảo quan hệ tương tác giữa hai cung này.

  • Nếu thế lực ngang nhau, lấy Kinh Môn để luận: cung Kinh Môn tác dụng tốt lên bên nào thì bên đó thắng.

TỔN THƯƠNG TINH THẦN

Về mặt tinh thần, đoán theo Đằng Xà. Nếu cung Đằng Xà không tác dụng tốt lên cung tọa độ, thì chủ về tổn thương tinh thần. Nếu tọa độ lâm Kinh Môn, Đỗ Môn, Thương Môn mà được cung Đằng Xà sinh trợ, hoặc đồng cung với Đằng Xà, thì phần nhiều chủ về tinh thần bị tổn thương rất lớn.

GIẢI MỘNG VÀ DỊ TƯỢNG

Dụng thần rất đặc biệt: lấy cung Đằng Xà để xem sự vật, trừ trường hợp đặc biệt kinh hãi thì lấy Kinh Môn làm Dụng thần.

  • Tọa độ lâm Cát Môn, được cung Đằng Xà sinh trợ → cát.

  • Tọa độ lâm Cát Môn, bị cung Đằng Xà khắc tiết → hung.

  • Tọa độ lâm Hung Môn, bị cung Đằng Xà khắc tiết → cát.

  • Tọa độ lâm Hung Môn, được cung Đằng Xà sinh trợ → hung.

  • Nếu cung Đằng Xà không tác động lên cung tọa độ thì không có ứng nghiệm.

ỨNG KỲ CỦA KỲ MÔN

Ứng kỳ có thể nói là tầng cao nhất của thuật dự đoán. Dưới đây là phán đoán đại thể về ứng kỳ trong Kỳ Môn:

  • Ngoại ứng vào lúc Canh lâm cách là tham khảo quan trọng. Dựa vào tác dụng của cung ngoại ứng đối với cung tọa độ.

  • Khắc thì nhanh, sinh thì chậm:

    • Khắc phần lớn ứng ở Thiên bàn can của cung Dụng thần.

    • Sinh, tiết phần lớn ứng ở Thiên bàn can của cung tọa độ.

    • Động chiếm phần lớn ứng ở Thiên bàn can của cung Dụng thần.

    • Tĩnh chiếm phần lớn ứng ở Thiên bàn can của cung tọa độ.

    • Nếu Dụng thần và tọa độ đồng cung, thì lâu dài ứng ở Địa bàn can của cung đó.

  • Đoán lưu niên: Địa bàn can đại diện cho năm trôi (lưu niên); Thiên bàn can trên Địa bàn đó đại diện cho tháng trôi (lưu nguyệt) ứng nghiệm cát hung rõ rệt nhất trong năm đó.

  • Thập Can làm Dụng thần: Địa bàn can mà nó đóng là ứng kỳ của một số sự việc.

  • Hợp vấp: Địa bàn can của cung bị "vấp" ra (giải phóng) là ứng kỳ của một số sự việc.

    • Nếu cung gốc hợp vấp có Ngũ hành giống với Nhật chi, và tác dụng tốt lên tọa độ, nhưng cung bị vấp lại tác dụng xấu lên tọa độ, thì thời gian ứng hung chậm.

    • Nếu cung gốc hợp vấp có Ngũ hành giống với Nhật chi, và tác dụng xấu lên tọa độ, nhưng cung bị vấp lại tác dụng tốt lên tọa độ, thì thời gian ứng cát chậm.

CÁC CÁCH CỤC

Cát cách:

  • Mậu gia Bính là "Long Phản Thủ" (Rồng quay đầu)

  • Bính gia Mậu là "Điểu Điệt Huyệt" (Chim rớt tổ)

Long Phản Thủ lâm Cát Môn → chủ việc có sự lặp lại, đảo điên nhưng ứng cát. Điểu Điệt Huyệt lâm Cát Môn → chủ việc tự nhiên, thuận theo lẽ mà ứng cát.

Hung cách:

  • Quý gia Đinh là "Xà Yểu Kiều" (Rắn uốn éo)

  • Đinh gia Quý là "Tước Nhập Giang" (Chim sẻ xuống sông)

  • Ất gia Tân là "Long Đào Tẩu" (Rồng chạy trốn)

  • Tân gia Ất là "Hổ Sướng Cuồng" (Hổ điên cuồng)

  • Bính gia Canh là "Doanh nhập Bạch" (Sao Hỏa vào sao Kim)

  • Canh gia Bính là "Bạch nhập Doanh" (Sao Kim vào sao Hỏa)

Các cách cát hung trên đều là Thiên bàn gia Địa bàn trong cùng cung.

  • Xà Yểu Kiều lâm Hung Môn → chủ việc không thể tránh khỏi, ứng hung.

  • Tước Nhập Giang lâm Hung Môn → chủ việc mất tin tức, ứng hung.

  • Hổ Sướng Cuồng lâm Hung Môn → chủ việc khó ngăn cản, ứng hung.

  • Bạch nhập Doanh lâm Hung Môn → chủ việc bị phá hoại do con người, ứng hung.

  • Doanh nhập Bạch lâm Hung Môn → chủ việc tự mình làm rất tệ.

  • Long Đào Tẩu, Hổ Sướng Cuồng lâm Hung Môn → chủ việc có sự thay đổi, biến động, ứng hung.

Tý Mão hình (hình phạt Tý Mão) phần nhiều chủ về tai họa quan chức. Tý Mão hình không luận Không vong.

1. Bệnh tật

  • Đoán bệnh nhẹ: lấy Thương Môn làm Dụng thần.

  • Đoán bệnh nặng: lấy Tử Môn làm Dụng thần.

  • Để phán đoán bệnh nặng hay nhẹ, luận theo Môn mà Canh lâm: Canh lâm Thương Môn là bệnh nhẹ, Canh lâm Tử Môn là bệnh nặng.

  • Tọa độ lâm Cát Môn, bị cung Dụng thần khắc tiết → hung.

  • Tọa độ lâm Cát Môn, được cung Dụng thần sinh trợ → cát.

  • Tọa độ lâm Hung Môn, được cung Dụng thần sinh trợ → hung.

  • Tọa độ lâm Hung Môn, bị cung Dụng thần khắc tiết → cát.

Chứng bệnh theo cung Thương Môn:

  • Thương Môn lâm Khảm (1): thận, tiền liệt tuyến, bàng quang, các bệnh hệ tiết niệu, tiểu đường, trĩ, huyết dịch, hệ sinh dục nam.

  • Thương Môn lâm Cấn (8): bệnh ngoài da, lở loét, ruột thừa, tụy, các bệnh về tế bào, mỡ.

  • Thương Môn lâm Chấn (3): bệnh gan, viêm khớp, bệnh chân tay, bệnh thần kinh.

  • Thương Môn lâm Tốn (4): bệnh mật, động kinh, phong thấp, cảm cúm, bệnh hệ hô hấp.

  • Thương Môn lâm Ly (9): tim, bệnh hệ tuần hoàn máu, mắt, sốt, phát nhiệt.

  • Thương Môn lâm Khôn (2): dạ dày, bụng, lá lách, tử cung và các bệnh phụ khoa khác.

  • Thương Môn lâm Đoài (7): họng, miệng, viêm khí quản, bệnh tâm thần, một số bệnh hệ sinh dục nữ.

  • Thương Môn lâm Càn (6): phổi, đầu, đường ruột, thoát vị đĩa đệm, các bệnh về xương.

  • Nếu Thương Môn lâm Bính, Đinh → phần nhiều là viêm nhiễm, nhiệt chứng, bệnh huyết dịch.

  • Nếu Thương Môn lâm Canh, Tân, Nhâm, Quý → phần nhiều là hư chứng, hàn chứng.

  • Nếu Thương Môn lâm Hung Cách → phần nhiều là bệnh nan y.

Tử Môn phần nhiều là bệnh tuyệt vọng:

  • Tử Môn lâm Khảm: suy thận, ung thư máu (bạch cầu).

  • Tử Môn lâm Cấn: các bệnh nhiễm độc nặng.

  • Tử Môn lâm Chấn: ung thư gan, cổ trướng gan.

  • Tử Môn lâm Tốn: trúng phong nặng, ung thư phổi.

  • Tử Môn lâm Ly: bệnh tim nặng, bệnh tuần hoàn máu nặng.

  • Tử Môn lâm Khôn: ung thư dạ dày, ung thư tử cung.

  • Tử Môn lâm Đoài: ung thư thanh quản, ung thư thực quản.

  • Tử Môn lâm Càn: bệnh đầu nặng, ung thư phổi.

Thương Môn lâm cách cực hung, tác dụng xấu lên tọa độ, là bệnh nan y thứ yếu sau ung thư.

Cảnh Môn có dấu hiệu phẫu thuật. Trong trường hợp đặc biệt, Cảnh Môn cũng chủ về bệnh lớn:

  • Cảnh Môn lâm Chấn → ung thư gan.

  • Cảnh Môn lâm Ly → bệnh tim mạch.

  • Cảnh Môn lâm Khôn → xuất huyết dạ dày.

  • Cảnh Môn lâm Càn → xuất huyết não.

  • Cảnh Môn lâm Khảm → ung thư máu.

Chỉ khi gặp Canh cách trực tiếp luận bệnh mà Cảnh Môn lâm, hoặc cung bị hợp vấp có Cảnh Môn, Thương Môn, Tử Môn tác dụng xấu lên tọa độ, hoặc tọa độ lâm Cảnh Môn, thì Cảnh Môn mới chủ bệnh.

Các bệnh trên: động chiếm ứng Thiên bàn, tĩnh chiếm ứng Địa bàn, nhưng cả Thiên bàn, Địa bàn và cung tọa độ đều phải tổng hợp tham khảo để luận bệnh, vì chúng là biểu lý của nhau.

Bát Thần đại diện cho tâm trạng bệnh nhân: tọa độ lâm Cửu Địa → lo lắng; lâm Cửu Thiên → lạc quan; lâm Đằng Xà → sợ hãi... cần linh hoạt vận dụng.

THƯƠNG TÍCH

Đoán thương tích lấy Cảnh Môn làm Dụng thần.

  • Tọa độ lâm Cát Môn, được Cảnh Môn sinh trợ → không ứng tai nạn.

  • Tọa độ lâm Cát Môn, bị Cảnh Môn khắc tiết → hung (có tai nạn).

  • Tọa độ lâm Hung Môn, bị Cảnh Môn khắc tiết → không ứng tai nạn.

  • Tọa độ lâm Hung Môn, được Cảnh Môn sinh trợ → hung (có tai nạn).

  • Tọa độ lâm Thương Môn, Tử Môn, được Cảnh Môn sinh trợ → phần nhiều là tai nạn xe cộ.

  • Cảnh Môn lâm Đoài (7), hoặc tọa độ lâm Cảnh Môn được cung Đoài lâm Hung Môn sinh trợ → phần nhiều là thương tích do dao.

  • Cảnh Môn lâm Khôn (2) → phần nhiều thương tích vùng bụng.

  • Cảnh Môn lâm Cấn (8) → phần nhiều thương tích lưng và da thịt.

  • Cảnh Môn lâm Tốn (4), Càn (6) → phần nhiều thương tích tay chân và đầu.

  • Cảnh Môn lâm Ly (9), Khảm (1) → phần nhiều thương tích do lửa, nước và các loại huyết tai khác.

  • Cảnh Môn, Tử Môn lâm Khôn (2), Cấn (8) → phần nhiều bị đè, bị đập, hoặc ngã gây thương tích hoặc chết.

Mức độ tai nạn lớn hay nhỏ xem quan hệ tác động của cung Dụng thần với cung tọa độ và các cách cục cát hung lân cận.

TỬ VONG

Đoán có chết hay không lấy Tử Môn làm Dụng thần.

  • Tọa độ lâm Cát Môn, được cung Tử Môn sinh trợ → sống.

  • Tọa độ lâm Cát Môn, bị cung Tử Môn khắc tiết → chết.

  • Tọa độ lâm Hung Môn, bị cung Tử Môn khắc tiết → sống.

  • Tọa độ lâm Hung Môn, được cung Tử Môn sinh trợ → chết.

  • Tọa độ và Tử Môn đồng cung, lại lâm Canh cách → chết.

Thời gian tử vong đoán theo Canh cách hoặc cung tác dụng xấu.

ÁN MẠNG (GIẾT NGƯỜI)

  • Lấy Tử Môn làm người chết.

  • Lấy Giáp Thân Canh làm kẻ giết người (hung thủ).
    Thân phận của người chết và hung thủ luận theo cung của họ. Có bắt được hung thủ hay không đoán theo Canh lâm cách (Canh cách).

KIỆN TỤNG

Đoán kiện tụng lấy Kinh Môn làm Dụng thần. Thời can đại diện cho đối phương.

  • Tọa độ lâm Cát Môn, được cung Dụng thần sinh trợ → thắng.

  • Tọa độ lâm Cát Môn, bị cung Dụng thần khắc tiết → bại.

  • Tọa độ lâm Hung Môn, bị cung Dụng thần khắc tiết → thắng.

  • Tọa độ lâm Hung Môn, được cung Dụng thần sinh trợ → bại.

TÙ NGỤC (LAO TÙ)

  • Tọa độ lâm Hung Môn, lại có cách cục hung "Bạch nhập Doanh" hoặc "Doanh nhập Bạch", hoặc Kinh Môn lâm anh cách (hung cách) tác dụng xấu lên tọa độ, hoặc tọa độ lâm Hung Môn rơi vào cung Khảm (1) → phần nhiều là tai họa tù ngục.

  • Đoán cho người đã ở tù khi nào ra tù: lấy Canh lâm cách để luận.

  • Có bị phá tài hay không và mối quan hệ với quan phủ: dựa vào tác dụng của cung Sinh Môn, Khai Môn đối với cung tọa độ mà định.

MẤT ĐỒ

  • Vật quý giá: lấy Sinh Môn làm Dụng thần.

  • Vật bình thường: lấy Thời can làm Dụng thần.

  • Động vật nuôi cũng lấy Thời can làm Dụng thần.

  • Vật mất là gì: tham khảo cung Dụng thần (ví dụ cung Càn là kim loại, cung Khôn là vải lụa...).

  • Vật rơi ở đâu: cũng tham khảo cung Dụng thần.

  • Tọa độ lâm Cát Môn, được cung Dụng thần sinh trợ → không mất hoặc tìm được.

  • Tọa độ lâm Cát Môn, bị cung Dụng thần khắc tiết → mất.

  • Tọa độ lâm Hung Môn, bị cung Dụng thần khắc tiết → không mất hoặc tìm được.

  • Tọa độ lâm Hung Môn, được cung Dụng thần sinh trợ → mất.

TRỘM CẮP VÀ CƯỚP GIẬT

  • Lấy Giáp Ngọ Tân làm kẻ phạm tội.

  • Cung Chấn (3) đại diện cho cơ quan cảnh sát.

  • Cát hung dựa vào quan hệ tác động của chúng đối với cung tọa độ mà luận.

  • Có bắt được kẻ phạm tội hay không: đoán theo Canh lâm cách. Không lâm cách thì không bắt được; lâm cách năm, tháng thì sau một thời gian có thể bắt được; lâm cách ngày, giờ thì có thể bắt được trong thời gian gần.

  • Nhâm gia Tử Môn, hoặc Nhâm rơi cung Khôn (2) có thể tham khảo cho việc kẻ phạm tội tự thú.

TÓM LƯỢC KỲ MÔN ĐỘN GIÁP [PHẦN NĂM] – TỔ HỢP CÁCH CỤC

 

4. Tổ hợp cách cục (Ất Mộc và Thập Càn Khắc Ứng)

Khi các ký hiệu kết hợp với nhau, chắc chắn sẽ có mối quan hệ nhân quả. Các tổ hợp cách cục phản ánh kết quả phát sinh từ sự va chạm, có cái hài hòa, có cái xung đột, qua đó thể hiện mối quan hệ giữa người với người và giữa các sự vật, sự việc.

  • Ất + Ất: Đây là cục Phục Ngâm (nằm yên lặng). Phàm là cục Phục Ngâm thì đều chỉ sự trì trệ, không tiến triển, ví dụ như đoán chứng khoán thì lên không được, xuống không xong. Đối với quyết sách trong cục Phục Ngâm, cần phải tích trữ năng lượng. Có người cho rằng: Phục Ngâm cục lợi cho chủ, không lợi cho khách, điều này không hoàn toàn đúng. Nếu thần (Dụng Thần) rơi vào cung có năng lượng vượng đặc biệt, đồng thời năng lượng của sao và cửa cũng đủ mạnh, thì lúc này có thể tung ra một đòn bất ngờ, đó lại là việc tốt, phá vỡ thế Phục Ngâm. Ất + Ất, cả hai đều quá mềm yếu, lúc này cần cho nó một chỗ dựa vững chắc. Ất + Ất (Nhật Kỳ Phục Ngâm), không thích hợp cầu danh cầu lợi, chỉ nên an phận thủ thường. Các Can Âm bài xích lẫn nhau, gặp bài xích thì không có việc tốt. Dây dưa, liên lụy nhiều việc; đoán xuất hành thường đi không được. Hy vọng nhiều nhưng mỗi thứ đều hư ảo, mong manh.

  • Ất + Bính (Kỳ Nghi Thuận Toại): Gặp nhiều cơ hội, có quý nhân phù trợ. Gặp hung tinh thì vợ chồng phản mục. Ất + Bính có một số việc tốt xảy ra, nhưng trong đó sẽ có chút rắc rối và phiền phức.

  • Ất + Đinh (Kỳ Nghi Tương Tá): Có lợi cho văn thư, thi cử, có cơ hội xảy ra kỳ tích. Đoán hôn nhân thì không tốt. Đàn ông có người thứ ba hoặc phụ nữ là người thứ ba.

  • Ất + Mậu (Lợi Âm Hại Dương): Cửa gặp hung, cửa bị ép (Môn Phách), sẽ mất của, tổn thương người. Chúng ta đã nói, một khi Mậu xuất hiện thì dễ mất của. Gặp cách này, phương pháp tốt nhất là: Một là ủy thác cho phụ nữ làm; Hai là không làm vào ban ngày mà làm vào ban đêm (sau 7 giờ tối. Mão Dậu là cửa ngõ). Làm như vậy sẽ tránh được việc mất của. Gặp cách này, không nên chủ động làm việc, nên bị động, chờ sự việc xảy ra rồi mới hành động.

  • Ất + Kỷ (Nhật Kỳ Nhập Mộ, bị thổ che lấp): Cách này ngược lại hoàn toàn với Ất + Mậu. Không thích hợp cho phụ nữ làm việc, phụ nữ mà đi thì sẽ gặp xui xẻo. Thích hợp cho nam giới, và thích hợp làm việc vào ban ngày, không thích hợp làm việc vào ban đêm. Đoán bệnh, tìm không ra nguyên nhân. Phàm gặp Can Âm (Kỷ, Tân, Quý, Ất) thì nên hành động bị động; phàm gặp Can Dương (Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm) thì nên hành động chủ động.

  • Ất + Canh (Nhật Kỳ Bị Hình): Đây là một cách cục Hợp (hợp cách). Trong Kỳ Môn có ba cách cục lớn: Tỷ Kiếp cách, Hợp cách, Xung cách. Cần chú ý, trong việc lập kế hoạch và chỉ đạo của Kỳ Môn: Phàm gặp Hợp cách thì bất lợi cho xuất hành, nhưng có lợi cho hợp tác; bất lợi cho hành động đơn độc, có lợi cho hành động tập thể. Xuất hành gặp Hợp cách, chủ bị ràng buộc, dây dưa nhiều việc, tốt nhất đừng một mình đi. Làm một mình không được thì tìm người hợp tác. Gặp Phục Ngâm cách cũng là bị người khác, việc khác liên lụy hoặc là việc hợp tác, không phải việc của một mình. Phàm gặp Xung cách thì bất lợi cho hợp tác, hợp tác sẽ tan rã. Hành động đơn độc có lợi, hành động tập thể bất lợi, mâu thuẫn lớn. Gặp Xung cách, chủ động, tích cực, hành động trước thì tốt. Còn gặp Hợp cách, bản thân đừng động trước, tiêu cực một chút thì tốt hơn. Ất + Canh có dục vọng riêng tư, muốn đạt được mục đích cá nhân. Đoán hôn nhân thì có mâu thuẫn, mỗi người một bàn tính riêng.

  • Ất + Tân (Long Tẩu Thoát - Rồng chạy trốn): Tại sao trong Kỳ Môn lại đặt Kỳ (Tam Kỳ: Ất, Bính, Đinh) lên trước? Dùng Kỳ trước, rồi dùng Môn, thực sự không được mới tìm đến Giáp. Việc gì ở địa phương giải quyết được thì đừng tìm đến trung ương, việc gì ở cấp dưới giải quyết được thì đừng tìm đến lãnh đạo. Kỳ cũng không phải là vạn năng, trong ba trạng thái thì Kỳ mất linh nghiệm: Ất gặp Tân, Đinh gặp Quý, Bính gặp Canh. Điều này cần thông qua các phương pháp khác để giải cứu. Ất + Tân, nếu có sự liên hệ của Bính; Đinh + Quý, nếu có sự liên hệ của Mậu; Bính + Canh, nếu có sự liên hệ của Ất – như vậy thì trong hung có cứu. Một tên trộm đang ăn trộm, tuy bạn không phải cảnh sát, nhưng bạn mặc một bộ đồng phục cảnh sát, cũng có thể làm tên trộm khiếp vía bỏ chạy. Chúng ta biết những bức tượng cảnh sát đứng ở ngã tư đường cũng có thể phát huy tác dụng điều tiết giao thông. Đó là sức mạnh của biểu tượng (Phù hiệu). Bạn cũng có thể dùng ảnh mỹ nữ treo ở vị trí Đào Hoa của mình để xúc tiến Đào Hoa. Ất + Tân – là một cách cục động (Động Cách), biến động, bị động, có những hoạt động tư tưởng. Đoán bệnh, gặp Long Tẩu Thoát thì bệnh sẽ mau khỏi. Đoán cầu tài thì không tốt, sắp mất của.

  • Ất + Nhâm (Nhật Kỳ Nhập Thiên La): Tôn ti trật tự đảo lộn, kiện tụng thị phi, có kẻ mưu hại. Biểu thị nội tâm tự mâu thuẫn, biến hóa, mơ hồ, giằng co, do dự không quyết. Cũng biểu thị có người sau lưng bạn giở trò.

  • Ất + Quý (Nhật Kỳ Nhập Địa Võng): Hoàn toàn là ý nghĩa lui về phòng thủ, không tích cực, tiêu cực né tránh. Gặp cách này, thông thường đừng chủ động xuất kích, nên lui về phòng thủ, bế quan tỉnh lặng. Một khi ra ngoài, dễ dàng đâm vào lưới. Cứ an phận ở nhà thì chẳng có việc gì xảy ra. Gặp Ất + Quý hoặc Quý + Ất – rất thích hợp để tu luyện, tọa thiền, luyện khí công. Đoán lá số cả đời, gặp Quý + Ất hoặc Ất + Quý, người này có thể có dị năng. Quý là Thiên Võng (lưới trời), là mạng lưới thông tin, có thể tiếp nhận thông tin vũ trụ. Ất + Quý, Quý chủ sự biến hóa vi tế, có sự kìm hãm, là sự phá hoại xuất phát từ dục vọng riêng tư, bị người khác kéo lùi.

 

VIII. GIẢNG TIẾP VỀ THẬP CAN KHẮC ỨNG (BÍNH HỎA, ĐINH HỎA)

Bính + Mậu: Trong Thập Thiên Can, Hỏa và Thổ kết hợp với nhau có điểm tốt, bởi Hỏa và Thổ là một nhà, có tính hài hòa, mật thiết. Và trong thông tin Dương phối Dương, chỉ có cách cục Hỏa Thổ kết hợp là cát lợi, vì Hỏa Thổ đồng nguyên. Còn lại đều là Dương Dương bài xích, Âm Âm bài xích. Bính + Mậu (Phi Điểu Điệt Oa - Chim bay xuống tổ) và Mậu + Bính (Thanh Long Phản Thủ - Thanh Long quay đầu) đều là cát lợi. Bính + Mậu (Phi Điểu Điệt Oa) mang ý nghĩa dự trữ, có lợi cho đầu tư, buôn bán, tích trữ và giao dịch, giống như con chim ưng thả ra, bắt được con mồi rồi quay về, biểu thị sự thu hoạch, đạt được. Bính + Mậu và Mậu + Bính đều thích hợp xuất hành làm ăn. Nhưng đáng sợ nhất là gặp Mộ, Phách, Kích, Hình (Mộ, Phách, Kích, Hình). Nếu gặp Mộ, Phách, Kích, Hình thì sẽ xảy ra vấn đề. Ví dụ: Bính + Mậu (hoặc Mậu + Bính) rơi vào cung Càn là nhập mộ, muốn quay về nhưng không về được. Rơi vào cung Chấn là Kích Hình (bị tổn thương, đau đớn). Ví dụ khác, đoán đầu tư mở nhà máy, gặp Bính + Mậu lâm Cửa Khai rơi vào cung Chấn là Cửa Khai môn phách (cửa bị ép). Bạn đã hành động, nhưng năng lực tâm lý chịu đựng của bạn chưa đạt tới, hành động và tâm lý không thống nhất, sẽ xuất hiện vấn đề. Đợi bạn quay về, công ty đã đóng cửa. Gặp Bính + Mậu hoặc Mậu + Bính, nếu không xuất hiện Mộ, Phách, Kích, Hình, thì đoán cầu quan có thể thăng chức, tương đối cát lợi.

Bính + Kỷ (Hỏa Bội Nhập Hình - Lửa ngược vào hình): Tù nhân gặp hình phạt, văn thư không thành. Dễ phạm tiểu nhân, nhưng mức độ ảnh hưởng không quá lớn. Do Dương phối Âm, Âm Dương có tính hài hòa nhất định, chỉ cần Âm Dương hòa hợp, dù có xuất hiện một số vấn đề thì cũng có thể giải quyết được. Điều này cần xem sự so sánh năng lượng giữa can địa bàn và can thiên bàn (trong bài giảng có nói: so sánh năng lượng giữa cung mà địa bàn rơi vào và cung mà thiên bàn rơi vào). Âm Dương kết hợp, năng lượng giữ ở mức trung hòa, thì sẽ không có vấn đề lớn. Hàm ý thông tin của cách cục Bính + Kỷ: Những rắc rối phát sinh do lợi ích cá nhân và ảo tưởng của bản thân. Kỷ chủ dục vọng riêng tư, Bính chủ sự phiền phức, rắc rối. Sự việc này là do lợi ích cá nhân của mình hoặc của người khác cùng với hành động dẫn đến một số chuyện rắc rối.

Bính + Canh (Tặc Tất Khứ - Kẻ cướp ắt đi): Trong Kỳ Môn Độn Giáp, Bính + Canh / Canh + Bính; Ất + Tân / Tân + Ất; Đinh + Quý / Quý + Đinh là những tổ hợp hung nhất. Nhưng Bính + Canh (Tặc Tất Khứ) nếu lâm Cửa Sinh thì ngược lại được tài lộc, chỉ là cách đắc tài này cần phải chạy tới chạy lui khắp nơi, giống như con chó đi kiếm ăn vậy, cũng có thể tìm được Cửa Sinh. Nhưng nếu không phải lâm Cửa Sinh, mà lâm Mậu, thì Mậu + Canh, Bính + Canh là mất của, xuất hành sẽ mất của. Lâm Cửa Tử, Bính + Canh cũng biểu thị mất của. Cửa Tử biểu thị tổn thương, chết chóc và tài sản mất đi. Đừng cho rằng cái gì đi mất là việc không tốt. Ví dụ đoán bệnh, sao Thiên Nhuế lâm Bính + Canh; đánh kiện cáo, sao Kinh Môn lâm Bính + Canh, điều đó cho thấy bệnh tật có thể đi khỏi, kiện cáo có thể được giải trừ chướng ngại. Vì vậy Bính + Canh cũng đại diện cho mặt tích cực. Hơn nữa, trong nhiều trường hợp, Canh là vấn đề khó giải quyết nhất, nhưng nếu gặp Bính thì dễ giải quyết. Ví dụ vấn đề Đài Loan nếu gặp Bính + Canh thì có thể giải quyết bằng vũ lực. Canh cần lửa lớn để luyện, lửa nhỏ của Đinh không đủ để thay đổi bản chất của Canh Kim, còn Bính thì có thể thay đổi bản chất của Canh Kim. Tôi đã đoán cho một người bị khối u, gặp cách cục Bính + Canh (Tặc Tất Khứ), tuy không phẫu thuật, nhưng nhiều năm vẫn chưa có vấn đề gì lớn. Nếu thuốc Đông y phối thêm một số vị có tính hỏa lớn, có thể điều trị được khối u.

Bính + Tân (Nhật Nguyệt Tương Hội - Nhật nguyệt gặp gỡ): Mưu sự thành công, bệnh nhân không nguy kịch. Đây là một Hợp cách. Gặp Hợp cách, ắt có người khác, việc khác ràng buộc, dây dưa, không phải một việc, sẽ có rất nhiều việc quyện vào nhau. Bính Tân hợp, chỉ trong quá trình hợp tác sẽ có một số sai sót hoặc sai lầm, nhưng những vấn đề này đều có thể giải quyết được. Hợp cách, có lợi cho hợp tác, có lợi cho việc chờ đợi, nhưng không có lợi cho xuất kích, xuất hành.

Bính + Nhâm (Hỏa Nhập Thiên La - Lửa vào lưới trời): Làm khách (thế chủ động) bất lợi, thị phi nhiều. Dương phối Dương không hài hòa, và trong Ngũ hành, Thủy Hỏa là những thứ không ổn định nhất. Bính và Nhâm ở cùng nhau, tức là rắc rối nhiều, thị phi nhiều, và những rắc rối này đều do ảnh hưởng từ bên ngoài, do ngoại nhân gây ra, chứ không phải do sai lầm/sai sót của bản thân. Cách cục này, càng tiến lên phía trước, việc rối ren càng nhiều.

Bính + Quý (Nguyệt Kỳ Địa Võng - Nguyệt Kỳ lưới đất): Người âm hại việc, phạm tiểu nhân. Là do người nội bộ gây ra, cần tìm nguyên nhân từ người bên cạnh, người nội bộ, là do nội nhân. Còn Bính + Nhâm là do ảnh hưởng từ bên ngoài. Phàm cái gì thuộc Dương đều có tính bức xạ; phàm cái gì thuộc Âm đều có tính nội liễm và hấp thụ. Bính + Quý chỉ có người sau lưng giở trò phá hoại.

Bính + Ất (Nhật Nguyệt Tịnh Hành - Nhật nguyệt cùng chạy): Cũng có lợi cho hợp tác, cộng tác, có lợi cho cầu mưu và tìm kiếm sự giúp đỡ từ người khác. Nhật nguyệt cùng chạy là tốt, nhưng mặt trời với mặt trời cùng chạy (Bính + Bính) thì không được, lửa quá lớn sẽ sinh rối loạn.

Bính + Bính (Nguyệt Kỳ Bội Sư - Nguyệt Kỳ trái nghĩa thầy): Văn thư thúc bách, hao tài tổn của, mất mát thất thoát. Chủ các loại chứng từ, phiếu biên lai bị thất lạc không rõ nguyên nhân. Giống như kiến trên chảo nóng, hỗn loạn. Cách cục này cũng là Phục Ngâm, gặp Phục Ngâm thì dây dưa, kéo dài, khó chịu. Gặp Bính + Bính, cần phải đề phòng, phòng ngừa trước khi xảy ra.

Bính + Đinh (Tinh Kỳ Chu Tước - Chu Tước tinh kỳ): Quý nhân, văn thư đều cát lợi; người thường bình an, vui vẻ. Việc tốt không sợ nhiều, càng nhiều càng tốt. Gặp cách cục này, đoán bệnh thì không tốt, biểu thị viêm nhiễm.

Trong Kỳ Môn Độn Giáp, ưu tiên sử dụng – Kỳ! Kỳ cũng chia làm Thiên Kỳ, Địa Kỳ, Nhân Kỳ.

  • Thiên tam kỳ: Nhật, Nguyệt, Tinh (Ất, Bính, Đinh).

  • Địa tam kỳ: Hoa cỏ thực vật (Ất), khói lửa, lửa bếp (Bính), ánh nến (Đinh).

  • Nhân tam kỳ: Phụ nữ (Ất), đàn ông / bé trai (Bính), bé gái (Đinh).
    Khi sử dụng, nên kết hợp cả ba yếu tố Thiên - Địa - Nhân thì lực tác động mới mạnh. Việc sử dụng Tam Kỳ có sự khác biệt. Đối với quan hệ khắc ứng của Đinh với các can khác, ngoại trừ Đinh + Quý, còn lại nhìn chung đều tốt.

Đinh + Mậu (Thanh Long Chuyển Quang - Thanh Long xoay chuyển ánh sáng): Chỉ sự việc có bước ngoặt, có chuyển biến.

Đinh + Kỷ (Hỏa Nhập Câu Trần - Lửa vào Câu Trần): Gian tư, thù hận oán, việc phát sinh do phụ nữ. Do việc riêng tư hoặc chuyện cá nhân mà xuất hiện một số bất trắc và vấn đề.

Đinh + Canh (Văn Thư Tổ Cách, Hành Nhân Tất Quy - Văn thư ngăn trở, người đi ắt về): Cũng không phải là cách cục đặc biệt xấu, chỉ việc gặp phải bài toán khó, cần phải tránh né và lui về phòng thủ. Đoán đi làm một việc, đã làm nhưng rồi trì trệ không tiến, lại quay về vạch xuất phát. Đoán hôn nhân, có người tình, nhưng khó ly hôn (vì hành nhân tất quy).

Đinh + Tân (Chu Tước Nhập Ngục - Chu Tước vào ngục): Đinh cũng đại diện cho văn chương. Chu Tước nhập ngục là phạm sai lầm, mắc lỗi. Đinh là hy vọng, Tân là sai lầm, khiến hy vọng biến thành sai lầm, cách cục này không đủ tốt. Nhưng lâm Đinh Kỳ thường có sự giải cứu. Đoán phạm tội, phạm sai lầm, lâm Đinh Kỳ là có sự cứu giúp, giải thoát.

Đinh + Nhâm (Quý Nhân Ân Chiếu, Tố Tụng Công Bình - Quý nhân ban chiếu chỉ, kiện tụng công bằng): Phàm là Hợp cách đều có ý nghĩa tương tự nhưng thông tin khác nhau. Có tổng cộng năm cục hợp (Lục Hợp: Giáp Kỷ, Ất Canh, Bính Tân, Đinh Nhâm, Mậu Quý), trong đó Giáp Kỷ hợp hơi đặc biệt, đó là do đặc tính của Kỳ Môn (Giáp bị độn đi). Nếu xuất hiện Kỷ lâm Trực Phù, cũng được gọi là Hợp cách. Đinh + Nhâm cũng có lợi cho hợp tác, không có lợi cho xuất hành, xuất hành chủ bị ràng buộc, vướng bận. Tuy nhiên, sự hợp tác này thường mang tính phi nghĩa, về sau sẽ phát sinh vấn đề. Đoán hôn nhân, chưa cưới mà đã chung sống với nhau (sống thử).

Đinh + Quý (Chu Tước Đầu Giang - Chu Tước gieo mình xuống sông): Sách cổ nói: xuất hành bất lợi nhất. Tuy nhiên, thực tế khi xem xét, bạn vẫn cần nhìn vào ảnh hưởng của các ký hiệu thông tin xung quanh đối với nó. Đừng thấy Đinh + Quý là ngồi máy bay không dám đi. Có lần, một người bạn nghiên cứu dịch đi máy bay đến Tân Cương, gặp Cửa Khai lâm Đinh + Quý, mua vé xong sợ quá không dám đi. Nhưng tôi thấy có sao lành, thần lành chiếu, liền nói không có vấn đề gì lớn, có thể máy bay gặp chút trục trặc nhỏ. Sau đó đi, quả nhiên máy bay có chút vấn đề, phải hạ cánh khẩn cấp xuống Lan Châu, sửa chữa xong mới an toàn đến nơi. Một lần khác, đi xe xuất hành gặp cách cục Mậu + Tân (Khốn Long Bị Thương - Rồng khốn bị thương), kết quả là một người đi cùng gác chân lên thành cửa sổ xe làm rơi mất giày. Những người hay gặp chuyện vặt vãnh thì thường không có đại họa; người hay ốm vặt thì thường không có bệnh nặng.

Đinh + Ất (Nhân Độn Cát Cách - Độn người, cách cục tốt): Quý nhân thăng quan tiến chức, người thường hôn nhân tài lộc có hỷ sự. Âm phối Âm, thực chất đây là một sự biến hóa, cách cục tiêu cực, chỉ có lợi cho khế ước, văn thư, còn đoán các việc khác đều bất lợi. Đoán hôn nhân càng không tốt. Đinh Ất đồng cung, là tái giá, đi bước nữa. Đoán công việc, là điều chuyển công tác hoặc công việc hiện tại không giữ được, không như ý.

Đinh + Bính (Tinh Tùy Nguyệt Chuyển - Sao theo nguyệt chuyển): Quý nhân thăng thiên, người thường vui quá hóa buồn. Nghĩa là quá mức, vượt quá giới hạn. Gặp cách cục này, cần giữ bình tĩnh, thu liễm một chút thì tốt hơn.

Đinh + Đinh (Tinh Kỳ Nhập Thái Âm - Tinh kỳ vào Thái Âm): Văn thư, chứng từ sắp đến, việc vui như ý. Đây là một trong những cách cục cát lợi nhất trong Kỳ Môn Độn Giáp. Đám sao sáng rực rỡ (quần tinh xán lạn).

 

IX. GIẢNG TIẾP VỀ THẬP CAN KHẮC ỨNG (MẬU THỔ, KỶ THỔ)

Đặc tính của Mậu Thổ: Phàm gặp Mậu, bất kể đoán việc gì, nó đều mang tính chất ngăn trở, chướng ngại. Xét theo bản tính của Mậu, tiền bạc là một chướng ngại. Nhưng sự ngăn trở của Mậu có thể được chuyển hóa và giải quyết.

  • Mậu + Ất (Thanh Long Hòa Hội - Thanh Long hòa hợp tụ hội): Có lợi cho hợp tác và tụ họp, nhưng cách cục này bất lợi cho xuất hành. Một mình đi xa thì không tốt, đi cùng một nhóm bạn bè thì tốt hơn. Cách cục này cũng sợ Mộ, Phách, Kích, Hình. Gặp Mộ, Phách, Kích, Hình thì việc lành hóa dữ. Đoán bệnh, có nhiều loại bệnh.

  • Mậu + Bính (Thanh Long Phản Thủ - Thanh Long quay đầu): Hành động rất tốt lành. Nếu gặp Mộ, Phách, Kích, Hình thì việc lành hóa dữ.

  • Mậu + Đinh (Thanh Long Diệu Minh - Thanh Long rực rỡ sáng suốt): Nên gặp lãnh đạo, cầu công danh. Nếu gặp Mộ, Phách, Kích, Hình thì sẽ gây ra thị phi.

  • Mậu + Ất, Bính, Đinh đều là những biểu hiện thông tin tốt đẹp, vừa có tiền, vừa có cơ hội, chướng ngại có thể vượt qua, vấn đề phát sinh có thể giải quyết.

  • Mậu + Mậu (Phục Ngâm): Chướng ngại + chướng ngại, gặp việc khó khăn chồng chất. Đoán đầu tư, là đầu tư trùng lặp. Đoán làm một việc, một lần không thành, cần phải hoàn thiện và bổ sung nhiều lần mới thành. Đoán hôn nhân, đoán sự việc, không có động tĩnh.

  • Mậu + Kỷ (Quý Nhân Nhập Ngục - Quý nhân vào ngục): Công việc công cũng như tư đều bất lợi. Đoán đầu tư là khó khăn nhất thời. Quý nhân không thể mãi ở trong ngục. Đoán lá số cả đời, sẽ gặp khó khăn nhất thời, nhưng có thể vượt qua. Còn Mậu + Nhâm (Thanh Long Nhập Thiên Lao - Thanh Long vào lao trời) là bị kẹt, ý nghĩa bị khốn đốn lâu dài. Mậu + Kỷ, đoán hợp tác đầu tư, là mỗi người một bụng ý đồ xấu (các quỷ thai). Cách cục này gây mất của, kiện cáo, tù ngục.

  • Mậu + Canh (Trực Phù Phi Cung - Trực Phù bay cung): Xoay quanh Canh có các ký hiệu như Ất, Bính, Đinh, Mậu, Quý để giải quyết. Trong dự đoán, chúng ta thường gặp câu hỏi: "Thưa thầy, tôi cần lưu ý thêm điều gì?" Lúc này, cần chú ý đến Canh – bạn đoán về doanh nghiệp cũng vậy. Lập quẻ xong, phải xem Canh, đó là tình huống cần lưu ý và việc khó giải quyết của bản thân họ. Vấn đề lớn, bệnh lớn của doanh nghiệp đó cũng nằm ở Canh. – Trọng tâm công việc nằm ở Trực Phù. – Mối họa tiềm ẩn hoặc vấn đề chưa phát hiện nằm ở chỗ không vong (Không Vong). – Mục tiêu trọng điểm nằm ở Trực Phù. – Vấn đề cần giải quyết trước mắt nằm ở sao Thiên Nhuế. – Vấn đề lớn là Canh, nhưng chưa chắc đã phải giải quyết ngay. – Để giải quyết Canh, cần xem Canh có mối liên hệ với ký hiệu nào trong Ất, Bính, Đinh, Mậu, Quý, thì dùng ký hiệu đó để giải quyết. Một trong những phương pháp giải quyết Canh là dùng Mậu. – Mậu + Canh (Trực Phù Phi Cung): thay đổi địa điểm / thay đổi người. Đoán bệnh, bệnh đã di căn. Đoán nhà cửa, ở không được lâu dài.

  • Mậu + Tân (Thanh Long Chiết Túc - Thanh long gãy chân): Mậu + Tân và Tân + Mậu có một số điểm thông tin giống nhau, đều là khó khăn về kinh tế hoặc rơi vào cảnh khốn cùng. Mậu + Tân là mất nền tảng. Tân + Mậu là còn nền tảng, nhưng hiện tại đang thiếu hụt. Gặp hai cách cục này, chắc chắn mất của. Nhớ có một người bạn nghiên cứu Kỳ Môn mang một quẻ Kỳ Môn Độn Giáp đến nhờ tôi xem, nói rằng quẻ này do một người bạn của tác giả lập, người bạn đó gọi điện muốn đến thăm tác giả, tác giả không biết ý đồ ra sao, đặc biệt lập quẻ để dự đoán, nhờ tôi phân tích xem người bạn của tác giả đó muốn việc gì. Lúc đó Nhật Can là Mậu, tôi thấy Địa Bàn Mậu (Địa Bàn Nhật Can đại diện cho chủ, là tác giả), trên lâm Thiên Bàn Tân (Thiên Bàn là khách, là người bạn) tạo thành cách cục Tân + Mậu (Khốn Long Bị Thương - Rồng khốn bị thương). Mậu Thổ sinh Tân Kim, Mậu là tiền tài, là bản thân tác giả, sinh cho Tân Kim, sinh cho người bạn, ắt hẳn người bạn đang gặp khó khăn về tiền bạc đến mượn tác giả.

  • Mậu + Nhâm (Thanh Long Nhập Thiên Lao - Thanh long vào lao trời): Phàm việc gì cũng không tốt lành. Cách cục này biểu thị việc không thành, vận khí không tốt, đang ở giai đoạn xuống dốc. Đoán bệnh, bệnh sắp khỏi, là việc tốt.

  • Mậu + Quý (Thanh Long Hoa Cái - Thanh long lọng hoa): Hợp cách, bị sự việc liên lụy. Hôn nhân thì khoảng cách tuổi tác lớn.

Kỷ + Ất, Bính, Đinh đều không phải là đặc biệt có lợi. Chúng ta biết trong Thập Thiên Can, Mậu Kỷ là yếu tố chế ước và cân bằng thông tin. Mậu là vấn đề nổi cộm, rõ ràng. Kỷ là vấn đề tiềm ẩn hoặc cái bẫy. Bất kỳ sự việc nào gặp Kỷ đều phải cẩn thận, khó tự thoát ra hoặc rơi vào bẫy. Mậu là lồi lên, Kỷ là lõm xuống, có tính hấp thụ. Kỷ ở trên, Mậu ở dưới thì cân bằng, tốt. Kỷ ở dưới, Mậu ở trên thì Mậu sẽ bị Kỷ hấp thụ.

  • Kỷ + Ất (Mộ Thần Bất Minh - Thần mộ không rõ): Vẫn chưa thấy ánh sáng, thường chủ làm việc dây dưa, việc vốn chẳng tốt đẹp gì nhưng vẫn cứ phải làm.

  • Kỷ + Bính (Hỏa Bội Địa Hộ - Lửa trái đất): Đàn ông oan oan tương báo, đàn bà ắt hư thân mất nết. Dễ bởi những tư tưởng và hành vi không chính đáng mà gây ra những chuyện rắc rối.

  • Kỷ + Đinh (Chu Tước Nhập Ngục - Chu Tước vào ngục): Đường đi quanh co nhưng tương lai sáng sủa. Trắc trở rồi sẽ suôn sẻ (tiên khúc hậu trực). Gặp cách cục này, không nên hấp tấp, không nên nôn nóng cầu thành.

  • Kỷ + Mậu (Khuyển Ngộ Thanh Long - Chó gặp Thanh Long): Có ý nghĩa được quý nhân giúp đỡ. Có cơ hội để trổ tài và những sự việc mới mẻ phát sinh.

  • Kỷ + Kỷ (Địa Hộ Phùng Quỷ - Cửa đất gặp quỷ): Lòng tham quá mạnh, ích kỷ, làm việc bất lực, chỉ nằm mơ đẹp. Trăm việc không thuận.

  • Kỷ + Canh (Hình Cách Phản Danh - Hình cách trả tên): Kỷ muốn ăn Canh nhưng không ăn nổi, tiêu hóa không được, nuốt không vô, nhả không ra, biểu thị khó chịu, gượng ép, là Hình cách. Canh + Kỷ cũng là đạo lý này.

  • Kỷ + Tân: Cả hai đều không phải thứ tốt. Kỷ đại diện cho dục vọng riêng tư, cái bẫy. Tân đại diện cho sai lầm, lỗi lầm. Bày ra một cái bẫy để bạn phạm sai lầm. Kỷ + Tân (Du Hồn Nhập Mộ - Hồn ma vào mồ), dễ bị âm tà quỷ mị quấy phá. Tức là gặp cách cục này dễ bị lừa gạt, phạm tiểu nhân. Đặc biệt khi dự đoán phong thủy nhà cửa, gặp cách cục này, thường chỉ trong nhà có những thứ kỳ dị, quái đản. Tôi đã từng đoán phong thủy cho người và hai lần gặp cách cục này: một lần là dưới nền móng nhà chôn xác một đứa trẻ; một lần là nền móng dưới gầm nhà từng là miếu Quan Đế. Nếu đoán hợp tác làm việc, gặp cách cục này thì phải chú ý, đối tác của bạn chưa chắc đã là người tốt.

  • Kỷ + Nhâm (Địa Võng Cao Trương - Lưới đất giăng cao): Thìn Tuất tương xung, chủ bực tức, cáu gắt, tranh chấp, xung đột. Thiên Cương và Địa Sát, ai cũng không chịu ai.

  • Kỷ + Quý (Địa Hình Huyền Vũ - Đất hình Huyền Vũ): Cũng là cách cục dễ phạm tiểu nhân, dễ sinh thị phi. Và dễ bị lừa gạt. Hợp tác, xuất hành dễ bị người phá hoại và lừa đảo.


X. GIẢNG TIẾP VỀ THẬP CAN KHẮC ỨNG (CANH KIM, TÂN KIM)

Canh là trọng tâm của Kỳ Môn Độn Giáp. Canh kết hợp với bất cứ thứ gì cũng không tốt. Canh là thứ quan trọng nhất trong một sự vật, ví như sự đối lập Đông - Tây ngày nay, nước Mỹ chính là Canh. Thời điểm nào mà Ngoại trưởng Mỹ là người Mỹ gốc Hoa (nữ) hoặc xuất hiện nữ MC, nữ dẫn chương trình người Mỹ gốc Hoa, thì quan hệ Trung - Mỹ sẽ được cải thiện rất nhiều. Ngày đó sẽ đến (Ất Canh / Đinh Canh).

  • Canh + Ất (Thái Bạch Phùng Tinh - Thái Bạch gặp sao): Hợp cách. Chịu thiệt một chút, nhún nhường thì việc dễ thành. Cách cục này, lưu luyến, vướng bận, có cộng sự, hợp tác với người khác giới thì tốt.

  • Canh + Bính (Thái Bạch Nhập Doanh, Tặc Tất Lai - Thái Bạch vào doanh trại, kẻ cướp ắt đến): Lâm Cửa Sinh, sẽ có tiền bạc đến tận cửa. Đoán bệnh, bệnh đến.

  • Canh + Đinh (Đình Đình Chi Cách - Cách đình đình): Kim ốc tàng kiều (nhà vàng giấu mỹ nhân). Đoán sự nghiệp, chủ bởi cái lợi riêng tư mà sinh thị phi, bị người kiện cáo, làm hại công để lợi tư.

  • Canh + Mậu (Thiên Ất Phục Cung - Thiên Ấy phục cung): Canh + Mậu / Mậu + Canh – Kiêng kỵ nhất là hợp tác, và kiêng kỵ nhất là ngồi một chỗ cầu tài (buôn bán tại chỗ). Ví dụ mở công ty, tiệm tạp hóa, cửa hàng, nhà hàng... Gặp cách cục này, người ta hỏi bạn có nên mở cửa hàng không? Chắc chắn không thành. Còn đoán công việc, người ta hỏi tôi sắp về làm quản lý một công ty, nếu gặp Canh + Mậu hoặc Mậu + Canh, bạn nhất định làm không lâu dài. Kiêng kỵ nhất là mở cửa hàng / hợp tác và ngồi một chỗ cầu tài. Nơi đây không bằng nơi khác, người này không bằng người khác.

  • Canh + Kỷ (Quan Phủ Hình Cách - Quan phủ hình cách): Khó chịu, và sự khó chịu này là không tự nguyện, bị người khác kéo lụy.

  • Hãy nhớ rằng: Thông thường gặp Canh và Bính, đều là bị ảnh hưởng bởi người khác; còn gặp Kỷ và Tân, đều là do nguyên nhân từ bản thân, tham lam hám lợi nhỏ và dục vọng riêng tư gây ra sai lầm.

  • Canh + Canh (Thái Bạch Đồng Cung, Chiến Cách - Thái Bạch đồng cung, chiến cách): Cách này trong Phục Ngâm cách là một cách đặc biệt, nó lợi cho khách, không lợi cho chủ, không có lợi cho việc nằm yên tĩnh thủ, mà phải hành động tích cực, có lợi cho chiến đấu và tấn công. Canh + Canh là kẻ thù gặp nhau, ai hành động trước người đó có lợi.

  • Canh + Tân (Bạch Hổ Cán Cách - Bạch Hổ can cách): Sách cổ nói: Không nên đi xa, đi xa thì xe gãy ngựa thương, các việc đều có tai ương. Nhưng thực tế xem xét, vì là tổ hợp một âm một dương, nên không phải đặc biệt hung.

  • Canh + Nhâm (Thượng Cách, hay Tiểu Cách): Ưu hoạn, động đậy bất an. Xuất hành gặp Canh + Nhâm, tắc đường không sao tránh khỏi. Đoán công việc gặp Canh + Nhâm, thường là sự điều chuyển vị trí, thay đổi trong nội bộ đơn vị cũ. Thường là sự biến đổi và điều chỉnh mang tính cục bộ.

  • Canh + Quý (Đại Cách): Bồng tích tứ hại, biến hóa lớn, thay đổi triệt để.

  • Canh Kim thường đại diện cho hậu quả xấu do bên ngoài mang lại.

  • Tân Kim thì đại diện cho ảnh hưởng xấu do nội bộ hoặc nội nhân gây ra.

  • Tân + Ất (Hổ Cuồng Trương - Hổ cuồng nộ): Là cách cục động, lợi cho chủ, không lợi cho khách.

  • Tân + Bính (Cán Hợp Bội Sư - Can hợp trái thầy): Hợp cách. Nhưng dễ trong quá trình hợp tác xuất hiện một số thị phi rắc rối.

  • Tân + Đinh (Ngục Thần Đắc Kỳ - Thần ngục được kỳ): Buôn bán cầu tài tốt. Đoán người phạm tội, được tha. Đoán hôn nhân, chủ người thứ ba xen vào.

  • Tân + Mậu (Khốn Long Bị Thương - Rồng khốn bị thương): Do sai lầm của bản thân, dẫn đến khủng hoảng kinh tế hoặc thất bại trong công việc.

  • Tân + Kỷ (Nhập Ngục Tự Hình - Vào ngục tự hình): Đầy tớ phản chủ, có nỗi khổ khó nói. Vốn hắn là kẻ tiểu nhân, nhưng bạn cứ muốn cứu hắn; vốn nó là rắn độc, nhưng bạn cứ cứu nó. Nguyên nhân phản bội, là do sai lầm của chính bạn. Tân + Kỷ cũng gọi là Nô khi chủ (tôi tớ lấn át chủ). Cấp dưới của bạn, trước kia không bằng bạn, bây giờ lại mạnh hơn bạn, đảo ngược tình thế. Tân + Kỷ, đoán phong thủy phần mộ, phía trước có núi hoặc công trình lớn hơn của bạn, ở quá gần. Có thể có ngôi mộ cao hơn hoặc ngọn núi nào đó đè lên bạn, gọi là nô khi chủ. Phía trước phải thấp mới được, bây giờ ngược lại thì không được. Gặp tình huống này khó xử lý. Trừ phi tự mình nâng cao lên. Giáp Kỷ hợp, lợi dụng Trực Phù, Trực Phù đại diện cho bối cảnh, bối cảnh của bạn phải đủ mạnh.

  • Tân + Canh (Bạch Hổ Xuất Lực, Đao Nhân Tương Tàn - Bạch Hổ ra sức, lưỡi dao cắt nhau): Do sai lầm của bản thân, dẫn đến sai lầm từ bên ngoài. Do sai lầm của mình, dẫn đến ảnh hưởng từ bên ngoài mà gây ra vấn đề lớn hơn.

  • Tân + Tân (Phục Ngâm Thiên Đình - Phục ngâm sân trời): Tật xấu nhiều, lỗ hổng chỗ nào cũng có. Cứ hay chê bai lỗi của người khác, thực ra đều là do vấn đề của bản thân mình gây ra. Là tự mình chuốc việc vào người.

  • Tân + Nhâm (Hung Xà Nhập Ngục - Rắn dữ vào ngục): Hai nam tranh một nữ, kiện tụng không ngừng. Tranh chấp. Do sai lầm của bản thân, dẫn đến cạnh tranh hoặc đồng thời chịu ảnh hưởng từ nhiều phía.

  • Tân + Quý (Thiên Lao Hoa Cái - Trời lao lọng hoa): Do sai lầm của bản thân, dẫn đến cảnh khốn cùng, xuất hiện rắc rối. Đoán làm ăn, không nên làm, phán đoán sai lầm.

IX. GIẢNG TIẾP VỀ THẬP CAN KHẮC ỨNG (MẬU THỔ, KỶ THỔ)

Đặc tính của Mậu Thổ: Phàm gặp Mậu, bất kể đoán việc gì, nó đều mang tính chất ngăn trở, chướng ngại. Xét theo bản tính của Mậu, tiền bạc là một chướng ngại. Nhưng sự ngăn trở của Mậu có thể được chuyển hóa và giải quyết.

  • Mậu + Ất (Thanh Long Hòa Hội - Thanh Long hòa hợp tụ hội): Có lợi cho hợp tác và tụ họp, nhưng cách cục này bất lợi cho xuất hành. Một mình đi xa thì không tốt, đi cùng một nhóm bạn bè thì tốt hơn. Cách cục này cũng sợ Mộ, Phách, Kích, Hình. Gặp Mộ, Phách, Kích, Hình thì việc lành hóa dữ. Đoán bệnh, có nhiều loại bệnh.

  • Mậu + Bính (Thanh Long Phản Thủ - Thanh Long quay đầu): Hành động rất tốt lành. Nếu gặp Mộ, Phách, Kích, Hình thì việc lành hóa dữ.

  • Mậu + Đinh (Thanh Long Diệu Minh - Thanh Long rực rỡ sáng suốt): Nên gặp lãnh đạo, cầu công danh. Nếu gặp Mộ, Phách, Kích, Hình thì sẽ gây ra thị phi.

  • Mậu + Ất, Bính, Đinh đều là những biểu hiện thông tin tốt đẹp, vừa có tiền, vừa có cơ hội, chướng ngại có thể vượt qua, vấn đề phát sinh có thể giải quyết.

  • Mậu + Mậu (Phục Ngâm): Chướng ngại + chướng ngại, gặp việc khó khăn chồng chất. Đoán đầu tư, là đầu tư trùng lặp. Đoán làm một việc, một lần không thành, cần phải hoàn thiện và bổ sung nhiều lần mới thành. Đoán hôn nhân, đoán sự việc, không có động tĩnh.

  • Mậu + Kỷ (Quý Nhân Nhập Ngục - Quý nhân vào ngục): Công việc công cũng như tư đều bất lợi. Đoán đầu tư là khó khăn nhất thời. Quý nhân không thể mãi ở trong ngục. Đoán lá số cả đời, sẽ gặp khó khăn nhất thời, nhưng có thể vượt qua. Còn Mậu + Nhâm (Thanh Long Nhập Thiên Lao - Thanh Long vào lao trời) là bị kẹt, ý nghĩa bị khốn đốn lâu dài. Mậu + Kỷ, đoán hợp tác đầu tư, là mỗi người một bụng ý đồ xấu (các quỷ thai). Cách cục này gây mất của, kiện cáo, tù ngục.

  • Mậu + Canh (Trực Phù Phi Cung - Trực Phù bay cung): Xoay quanh Canh có các ký hiệu như Ất, Bính, Đinh, Mậu, Quý để giải quyết. Trong dự đoán, chúng ta thường gặp câu hỏi: "Thưa thầy, tôi cần lưu ý thêm điều gì?" Lúc này, cần chú ý đến Canh – bạn đoán về doanh nghiệp cũng vậy. Lập quẻ xong, phải xem Canh, đó là tình huống cần lưu ý và việc khó giải quyết của bản thân họ. Vấn đề lớn, bệnh lớn của doanh nghiệp đó cũng nằm ở Canh. – Trọng tâm công việc nằm ở Trực Phù. – Mối họa tiềm ẩn hoặc vấn đề chưa phát hiện nằm ở chỗ không vong (Không Vong). – Mục tiêu trọng điểm nằm ở Trực Phù. – Vấn đề cần giải quyết trước mắt nằm ở sao Thiên Nhuế. – Vấn đề lớn là Canh, nhưng chưa chắc đã phải giải quyết ngay. – Để giải quyết Canh, cần xem Canh có mối liên hệ với ký hiệu nào trong Ất, Bính, Đinh, Mậu, Quý, thì dùng ký hiệu đó để giải quyết. Một trong những phương pháp giải quyết Canh là dùng Mậu. – Mậu + Canh (Trực Phù Phi Cung): thay đổi địa điểm / thay đổi người. Đoán bệnh, bệnh đã di căn. Đoán nhà cửa, ở không được lâu dài.

  • Mậu + Tân (Thanh Long Chiết Túc - Thanh long gãy chân): Mậu + Tân và Tân + Mậu có một số điểm thông tin giống nhau, đều là khó khăn về kinh tế hoặc rơi vào cảnh khốn cùng. Mậu + Tân là mất nền tảng. Tân + Mậu là còn nền tảng, nhưng hiện tại đang thiếu hụt. Gặp hai cách cục này, chắc chắn mất của. Nhớ có một người bạn nghiên cứu Kỳ Môn mang một quẻ Kỳ Môn Độn Giáp đến nhờ tôi xem, nói rằng quẻ này do một người bạn của tác giả lập, người bạn đó gọi điện muốn đến thăm tác giả, tác giả không biết ý đồ ra sao, đặc biệt lập quẻ để dự đoán, nhờ tôi phân tích xem người bạn của tác giả đó muốn việc gì. Lúc đó Nhật Can là Mậu, tôi thấy Địa Bàn Mậu (Địa Bàn Nhật Can đại diện cho chủ, là tác giả), trên lâm Thiên Bàn Tân (Thiên Bàn là khách, là người bạn) tạo thành cách cục Tân + Mậu (Khốn Long Bị Thương - Rồng khốn bị thương). Mậu Thổ sinh Tân Kim, Mậu là tiền tài, là bản thân tác giả, sinh cho Tân Kim, sinh cho người bạn, ắt hẳn người bạn đang gặp khó khăn về tiền bạc đến mượn tác giả.

  • Mậu + Nhâm (Thanh Long Nhập Thiên Lao - Thanh long vào lao trời): Phàm việc gì cũng không tốt lành. Cách cục này biểu thị việc không thành, vận khí không tốt, đang ở giai đoạn xuống dốc. Đoán bệnh, bệnh sắp khỏi, là việc tốt.

  • Mậu + Quý (Thanh Long Hoa Cái - Thanh long lọng hoa): Hợp cách, bị sự việc liên lụy. Hôn nhân thì khoảng cách tuổi tác lớn.

Kỷ + Ất, Bính, Đinh đều không phải là đặc biệt có lợi. Chúng ta biết trong Thập Thiên Can, Mậu Kỷ là yếu tố chế ước và cân bằng thông tin. Mậu là vấn đề nổi cộm, rõ ràng. Kỷ là vấn đề tiềm ẩn hoặc cái bẫy. Bất kỳ sự việc nào gặp Kỷ đều phải cẩn thận, khó tự thoát ra hoặc rơi vào bẫy. Mậu là lồi lên, Kỷ là lõm xuống, có tính hấp thụ. Kỷ ở trên, Mậu ở dưới thì cân bằng, tốt. Kỷ ở dưới, Mậu ở trên thì Mậu sẽ bị Kỷ hấp thụ.

  • Kỷ + Ất (Mộ Thần Bất Minh - Thần mộ không rõ): Vẫn chưa thấy ánh sáng, thường chủ làm việc dây dưa, việc vốn chẳng tốt đẹp gì nhưng vẫn cứ phải làm.

  • Kỷ + Bính (Hỏa Bội Địa Hộ - Lửa trái đất): Đàn ông oan oan tương báo, đàn bà ắt hư thân mất nết. Dễ bởi những tư tưởng và hành vi không chính đáng mà gây ra những chuyện rắc rối.

  • Kỷ + Đinh (Chu Tước Nhập Ngục - Chu Tước vào ngục): Đường đi quanh co nhưng tương lai sáng sủa. Trắc trở rồi sẽ suôn sẻ (tiên khúc hậu trực). Gặp cách cục này, không nên hấp tấp, không nên nôn nóng cầu thành.

  • Kỷ + Mậu (Khuyển Ngộ Thanh Long - Chó gặp Thanh Long): Có ý nghĩa được quý nhân giúp đỡ. Có cơ hội để trổ tài và những sự việc mới mẻ phát sinh.

  • Kỷ + Kỷ (Địa Hộ Phùng Quỷ - Cửa đất gặp quỷ): Lòng tham quá mạnh, ích kỷ, làm việc bất lực, chỉ nằm mơ đẹp. Trăm việc không thuận.

  • Kỷ + Canh (Hình Cách Phản Danh - Hình cách trả tên): Kỷ muốn ăn Canh nhưng không ăn nổi, tiêu hóa không được, nuốt không vô, nhả không ra, biểu thị khó chịu, gượng ép, là Hình cách. Canh + Kỷ cũng là đạo lý này.

  • Kỷ + Tân: Cả hai đều không phải thứ tốt. Kỷ đại diện cho dục vọng riêng tư, cái bẫy. Tân đại diện cho sai lầm, lỗi lầm. Bày ra một cái bẫy để bạn phạm sai lầm. Kỷ + Tân (Du Hồn Nhập Mộ - Hồn ma vào mồ), dễ bị âm tà quỷ mị quấy phá. Tức là gặp cách cục này dễ bị lừa gạt, phạm tiểu nhân. Đặc biệt khi dự đoán phong thủy nhà cửa, gặp cách cục này, thường chỉ trong nhà có những thứ kỳ dị, quái đản. Tôi đã từng đoán phong thủy cho người và hai lần gặp cách cục này: một lần là dưới nền móng nhà chôn xác một đứa trẻ; một lần là nền móng dưới gầm nhà từng là miếu Quan Đế. Nếu đoán hợp tác làm việc, gặp cách cục này thì phải chú ý, đối tác của bạn chưa chắc đã là người tốt.

  • Kỷ + Nhâm (Địa Võng Cao Trương - Lưới đất giăng cao): Thìn Tuất tương xung, chủ bực tức, cáu gắt, tranh chấp, xung đột. Thiên Cương và Địa Sát, ai cũng không chịu ai.

  • Kỷ + Quý (Địa Hình Huyền Vũ - Đất hình Huyền Vũ): Cũng là cách cục dễ phạm tiểu nhân, dễ sinh thị phi. Và dễ bị lừa gạt. Hợp tác, xuất hành dễ bị người phá hoại và lừa đảo.


X. GIẢNG TIẾP VỀ THẬP CAN KHẮC ỨNG (CANH KIM, TÂN KIM)

Canh là trọng tâm của Kỳ Môn Độn Giáp. Canh kết hợp với bất cứ thứ gì cũng không tốt. Canh là thứ quan trọng nhất trong một sự vật, ví như sự đối lập Đông - Tây ngày nay, nước Mỹ chính là Canh. Thời điểm nào mà Ngoại trưởng Mỹ là người Mỹ gốc Hoa (nữ) hoặc xuất hiện nữ MC, nữ dẫn chương trình người Mỹ gốc Hoa, thì quan hệ Trung - Mỹ sẽ được cải thiện rất nhiều. Ngày đó sẽ đến (Ất Canh / Đinh Canh).

  • Canh + Ất (Thái Bạch Phùng Tinh - Thái Bạch gặp sao): Hợp cách. Chịu thiệt một chút, nhún nhường thì việc dễ thành. Cách cục này, lưu luyến, vướng bận, có cộng sự, hợp tác với người khác giới thì tốt.

  • Canh + Bính (Thái Bạch Nhập Doanh, Tặc Tất Lai - Thái Bạch vào doanh trại, kẻ cướp ắt đến): Lâm Cửa Sinh, sẽ có tiền bạc đến tận cửa. Đoán bệnh, bệnh đến.

  • Canh + Đinh (Đình Đình Chi Cách - Cách đình đình): Kim ốc tàng kiều (nhà vàng giấu mỹ nhân). Đoán sự nghiệp, chủ bởi cái lợi riêng tư mà sinh thị phi, bị người kiện cáo, làm hại công để lợi tư.

  • Canh + Mậu (Thiên Ất Phục Cung - Thiên Ấy phục cung): Canh + Mậu / Mậu + Canh – Kiêng kỵ nhất là hợp tác, và kiêng kỵ nhất là ngồi một chỗ cầu tài (buôn bán tại chỗ). Ví dụ mở công ty, tiệm tạp hóa, cửa hàng, nhà hàng... Gặp cách cục này, người ta hỏi bạn có nên mở cửa hàng không? Chắc chắn không thành. Còn đoán công việc, người ta hỏi tôi sắp về làm quản lý một công ty, nếu gặp Canh + Mậu hoặc Mậu + Canh, bạn nhất định làm không lâu dài. Kiêng kỵ nhất là mở cửa hàng / hợp tác và ngồi một chỗ cầu tài. Nơi đây không bằng nơi khác, người này không bằng người khác.

  • Canh + Kỷ (Quan Phủ Hình Cách - Quan phủ hình cách): Khó chịu, và sự khó chịu này là không tự nguyện, bị người khác kéo lụy.

  • Hãy nhớ rằng: Thông thường gặp Canh và Bính, đều là bị ảnh hưởng bởi người khác; còn gặp Kỷ và Tân, đều là do nguyên nhân từ bản thân, tham lam hám lợi nhỏ và dục vọng riêng tư gây ra sai lầm.

  • Canh + Canh (Thái Bạch Đồng Cung, Chiến Cách - Thái Bạch đồng cung, chiến cách): Cách này trong Phục Ngâm cách là một cách đặc biệt, nó lợi cho khách, không lợi cho chủ, không có lợi cho việc nằm yên tĩnh thủ, mà phải hành động tích cực, có lợi cho chiến đấu và tấn công. Canh + Canh là kẻ thù gặp nhau, ai hành động trước người đó có lợi.

  • Canh + Tân (Bạch Hổ Cán Cách - Bạch Hổ can cách): Sách cổ nói: Không nên đi xa, đi xa thì xe gãy ngựa thương, các việc đều có tai ương. Nhưng thực tế xem xét, vì là tổ hợp một âm một dương, nên không phải đặc biệt hung.

  • Canh + Nhâm (Thượng Cách, hay Tiểu Cách): Ưu hoạn, động đậy bất an. Xuất hành gặp Canh + Nhâm, tắc đường không sao tránh khỏi. Đoán công việc gặp Canh + Nhâm, thường là sự điều chuyển vị trí, thay đổi trong nội bộ đơn vị cũ. Thường là sự biến đổi và điều chỉnh mang tính cục bộ.

  • Canh + Quý (Đại Cách): Bồng tích tứ hại, biến hóa lớn, thay đổi triệt để.

  • Canh Kim thường đại diện cho hậu quả xấu do bên ngoài mang lại.

  • Tân Kim thì đại diện cho ảnh hưởng xấu do nội bộ hoặc nội nhân gây ra.

  • Tân + Ất (Hổ Cuồng Trương - Hổ cuồng nộ): Là cách cục động, lợi cho chủ, không lợi cho khách.

  • Tân + Bính (Cán Hợp Bội Sư - Can hợp trái thầy): Hợp cách. Nhưng dễ trong quá trình hợp tác xuất hiện một số thị phi rắc rối.

  • Tân + Đinh (Ngục Thần Đắc Kỳ - Thần ngục được kỳ): Buôn bán cầu tài tốt. Đoán người phạm tội, được tha. Đoán hôn nhân, chủ người thứ ba xen vào.

  • Tân + Mậu (Khốn Long Bị Thương - Rồng khốn bị thương): Do sai lầm của bản thân, dẫn đến khủng hoảng kinh tế hoặc thất bại trong công việc.

  • Tân + Kỷ (Nhập Ngục Tự Hình - Vào ngục tự hình): Đầy tớ phản chủ, có nỗi khổ khó nói. Vốn hắn là kẻ tiểu nhân, nhưng bạn cứ muốn cứu hắn; vốn nó là rắn độc, nhưng bạn cứ cứu nó. Nguyên nhân phản bội, là do sai lầm của chính bạn. Tân + Kỷ cũng gọi là Nô khi chủ (tôi tớ lấn át chủ). Cấp dưới của bạn, trước kia không bằng bạn, bây giờ lại mạnh hơn bạn, đảo ngược tình thế. Tân + Kỷ, đoán phong thủy phần mộ, phía trước có núi hoặc công trình lớn hơn của bạn, ở quá gần. Có thể có ngôi mộ cao hơn hoặc ngọn núi nào đó đè lên bạn, gọi là nô khi chủ. Phía trước phải thấp mới được, bây giờ ngược lại thì không được. Gặp tình huống này khó xử lý. Trừ phi tự mình nâng cao lên. Giáp Kỷ hợp, lợi dụng Trực Phù, Trực Phù đại diện cho bối cảnh, bối cảnh của bạn phải đủ mạnh.

  • Tân + Canh (Bạch Hổ Xuất Lực, Đao Nhân Tương Tàn - Bạch Hổ ra sức, lưỡi dao cắt nhau): Do sai lầm của bản thân, dẫn đến sai lầm từ bên ngoài. Do sai lầm của mình, dẫn đến ảnh hưởng từ bên ngoài mà gây ra vấn đề lớn hơn.

  • Tân + Tân (Phục Ngâm Thiên Đình - Phục ngâm sân trời): Tật xấu nhiều, lỗ hổng chỗ nào cũng có. Cứ hay chê bai lỗi của người khác, thực ra đều là do vấn đề của bản thân mình gây ra. Là tự mình chuốc việc vào người.

  • Tân + Nhâm (Hung Xà Nhập Ngục - Rắn dữ vào ngục): Hai nam tranh một nữ, kiện tụng không ngừng. Tranh chấp. Do sai lầm của bản thân, dẫn đến cạnh tranh hoặc đồng thời chịu ảnh hưởng từ nhiều phía.

  • Tân + Quý (Thiên Lao Hoa Cái - Trời lao lọng hoa): Do sai lầm của bản thân, dẫn đến cảnh khốn cùng, xuất hiện rắc rối. Đoán làm ăn, không nên làm, phán đoán sai lầm.