Tổng quan về phương pháp sắp xếp Can Ẩn trong Kỳ Môn Độn Giáp – Can Ẩn điểm long tinh
Tổng quan về phương pháp sắp xếp Can Ẩn trong Kỳ Môn Độn Giáp – Can Ẩn điểm long tinh
1. Phương pháp sắp xếp Can Ẩn theo kiểu Mãn bàn xoay chuyển phi cung
Cuốn Kỳ Môn Chỉ Quy thuộc hệ Phi bàn Kỳ Môn, phương pháp sắp xếp Can Ẩn của nó tuân theo khẩu quyết: "Địa Giáp là Trực Phù, gặp Quý thì toàn cuộc xoay. Giáp lại là Trực Phù, tuần hoàn không ngớt." Sách này đã có luận bàn tương tự khi giải thích về Lục Giáp độn can. Theo khẩu quyết này, cách sắp xếp và ý nghĩa của Can Ẩn như sau:
(1) Tại cung rơi của Nguyên đàn (bàn gốc) của Trực Phù, sắp xếp Giáp. Dương độn thuận theo thứ tự cung Lạc Thư sắp xếp "Ất, Bính, Đinh, Mậu, Canh, Tân, Nhâm, Quý". Âm độn nghịch theo thứ tự cung Lạc Thư sắp xếp "Ất, Bính, Đinh, Mậu, Canh, Tân, Nhâm, Quý". Đó chính là ý nghĩa của câu "Địa Giáp là Trực Phù, gặp Quý thì toàn cuộc xoay". Tiếp theo, tại cung rơi của Địa bàn của tuần thủ độn can (can đứng đầu tuần), lại sắp xếp Giáp, cũng theo thứ tự thuận (Dương) hoặc nghịch (Âm) mà bay bố trí "Ất, Bính, Đinh, Mậu, Canh, Tân, Nhâm, Quý". Lần lượt tiến hành cho đến khi hết cả 6 tuần thủ. Đó chính là ý nghĩa của câu "Giáp lại là Trực Phù, tuần hoàn không ngớt". Tuy nhiên, trong thông thường, chỉ cần sắp xếp một vòng đầu là đủ cho việc dự đoán thông thường. Năm vòng sắp xếp tiếp theo thường được dùng để suy đoán những việc trong quá khứ hoặc tương lai. Trong ví dụ này (Âm độn, Trực Phù là Thiên Nhuế tinh), cách sắp xếp như sau:
(Sơ đồ minh họa trong bài gốc)
Kết quả sắp xếp vòng thứ nhất:
Kết quả sắp xếp vòng thứ hai (Giáp Dần Quý có Trực Phù tiếp theo là Giáp Tý Mậu, vậy khởi Giáp tại cung Đoài 7):
Vòng thứ ba, Trực Phù là Giáp Tuất Kỷ khởi Giáp tại cung Càn 6 (lược).
Vòng thứ tư, Trực Phù là Giáp Thân Canh khởi Giáp tại cung Khôn 2 (lược).
Vòng thứ năm, Trực Phù là Giáp Ngọ Tân khởi Giáp tại cung Tốn 4 (lược).
Vòng thứ sáu, Trực Phù là Giáp Thìn Nhâm khởi Giáp tại cung Chấn 3 (lược).
(2) Ý nghĩa của phương pháp Phi cung sắp xếp Can Ẩn trong Kỳ Môn Chỉ Quy là gì? Thực ra, trong quá trình sắp xếp, chúng ta nhận thấy Dương độn thì bay thuận, Âm độn thì bay nghịch. Điều này không có nghĩa là thời gian chảy ngược, bởi vì nó phù hợp với nguyên tắc Dương thuận Âm nghịch của Địa bàn kỳ nghi. Ý nghĩa của nó là:
① Coi Can Ẩn như một đĩa Người (Nhân bàn). Phối hợp với Thiên bàn kỳ nghi và Địa bàn kỳ nghi để tạo thành cách cục, luận đoán cát hung. Cát hung này rất quan trọng. Đồng thời dựa vào mối quan hệ Chủ - Khách và tính đối xứng vốn có của Lạc Thư.
② Phân biệt Chủ - Khách, phối hợp với nạp âm và địa chi để luận về ứng kỳ và khắc ứng trong Kỳ Môn.
③ Trong luận đoán phong thủy, có thể dựa vào cách cục Phi Can để phán đoán phân kim của mộ phần (âm trạch).
④ Quản lý cát hung của quá khứ, tương lai, lưu niên, lưu nguyệt, lưu nhật.
2. Phương pháp Bát Môn mang theo Can Ẩn
Kỳ nghi Địa bàn của Bát Môn tại Nguyên đàn (bàn gốc) ở một cung nào đó chính là Can Ẩn của cung đó. Theo phương pháp này, kết quả sắp xếp của ví dụ đang xét như sau:
(Sơ đồ minh họa trong bài gốc)
3. Phương pháp lấy Thời can tìm Trực sử để sắp xếp Can Ẩn
Đem Thời can đặt vào cung rơi của Trực sử môn, đó sẽ là Can Ẩn của cung rơi của Trực sử môn. Tuy nhiên, có hai trường hợp: Can Ẩn giống hoặc không giống với kỳ nghi Địa bàn của cung rơi Trực sử môn.
(1) Can Ẩn giống với kỳ nghi Địa bàn của cung rơi Trực sử môn
Đem Thời can nhập vào Trung cung, theo thứ tự cung (Dương thuận, Âm nghịch) mà bay bố trí "Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, Đinh, Bính, Ất". Ví dụ bản cục Âm độn này, sau khi đem Thời can Kỷ đặt vào cung rơi của Trực sử (Tử môn) là cung Càn, nhận thấy nó giống với Địa bàn Thời can "Kỷ", thì đem Thời can "Kỷ" nhập Trung cung. Âm độn bay nghịch bố trí "Canh, Tân, Nhâm, Quý, Đinh, Bính, Ất, Mậu". Kết quả sắp xếp như sau (cuối cùng đem Kỷ ở Trung cung đặt vào cung ký sinh, ở ví dụ này là đặt vào Khôn 2):
(Sơ đồ minh họa trong bài gốc)
(2) Can Ẩn không giống với kỳ nghi Địa bàn của cung rơi Trực sử môn
Trực tiếp đem Thời can đặt vào cung rơi của Trực sử môn, theo thứ tự cung (Dương thuận, Âm nghịch) mà bay bố trí "Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, Đinh, Bính, Ất".
Ví dụ: Ngày 29 tháng 05 năm 2002, giờ Mùi (14h), Tứ trụ: Nhâm Ngọ, Ất Tỵ, Đinh Dậu, Đinh Mùi. Dương độn cục 2, Trực Phù là Thiên Tâm, Trực sử là Khai Môn. Cách sắp xếp Can Ẩn như sau:
(Sơ đồ minh họa trong bài gốc)
4. Phương pháp lấy Thời can cộng với Trực sử ghép Thiên bàn để sắp xếp Can Ẩn
Phương pháp này có hai trường hợp: Thời can giống với kỳ nghi của Thiên bàn và Địa bàn (toàn bộ phục ngâm) hoặc không giống (không phải toàn bộ phục ngâm). Lần lượt giải thích dưới đây.
(1) Khi Thời can cộng với cung Trực sử gặp toàn bộ phục ngâm (Thời can, Thiên bàn, Địa bàn hoàn toàn giống nhau): Đem Thời can đặt vào Trung ngũ cung, theo nguyên tắc Dương thuận Âm nghịch, thực hiện phương pháp phi cung để sắp xếp Can Ẩn.
(2) Khi Thời can cộng với cung Trực sử không phải toàn bộ phục ngâm: Đem Thời can đặt vào cung nơi Trực sử tọa thủ (cung rơi của Trực sử) làm Can Ẩn của cung đó, theo thứ tự của Thiên bàn Lục Nghi và Tam Kỳ, ghép nối theo cung trong một vòng là được.
Ví dụ: Tứ trụ: Bính Tuất, Quý Tỵ, Kỷ Mùi, Tân Mùi. Dương độn cục 1, Trực Phù là Thiên Bồng tinh, Trực sử là Hưu Môn.
Phương pháp này là cách sắp xếp Can Ẩn của Âm bàn Kỳ Môn Độn Giáp theo thầy Vương Phượng Lân.
