Ứng dụng của Cửu Độn trong Kỳ Môn Độn Giáp đối với dự đoán

Ứng dụng của Cửu Độn trong Kỳ Môn Độn Giáp đối với dự đoán

 

Cửu Độn của Kỳ Môn ít người biết, ẩn mật trong các sách tiên đạo rất huyền diệu sâu xa.
Bính hợp Sinh Môn cư trên Đinh, đó gọi là Thiên Độn, ánh sáng mặt trăng chiếu rọi.
Ất hợp Khai Môn lâm Lục Kỷ, Địa Độn, tinh hoa của mặt trời có thể che chở.
Đinh cùng Hưu Môn lâm Thái Âm, Nhân Độn, tinh hoa của sao nhờ ánh sáng soi chiếu.
Bính hợp Sinh Môn hợp Cửu Thiên, thần linh che chở có uy quyền.
Đinh hợp Hưu Môn lâm Cửu Địa, phục binh Quỷ Độn có thể ẩn tránh.
Ất hợp Hưu Môn lâm Khảm Thủy, tức là giao long được mây mưa.
Tân Nghi hợp Sinh lâm Cấn Bính, Mãnh Hổ thần uy quét sạch tám cõi.
Hổ cuồng gặp vị trí Đinh Cảnh chế, quát tháo sinh phong trên đài soái tướng.
Long đào cũng nhờ Đinh gia Cảnh, một bước nhảy lên cửa sấm rung chuyển cánh chim.

Thiên Độn

Bính gia Đinh gặp Sinh Môn là Thiên Độn. Phương này được tinh hoa của mặt trăng che chở. Vào lúc này thích hợp tu thân, luyện đạo, ẩn tích, tàng hình, có thể nắm quyền lực của vương hầu, chầu vua, tạ trời, cầu phúc, cầu thần, xuất quân, chinh chiến tự nhiên hàng phục. Phàm việc dâng kế sách, dâng thư, cầu quan, tiến chức, diệt ác, trừ hung, buôn bán, xuất hành, cưới hỏi, vào nhà mới, trăm việc đều cát. Nếu tế luyện Đinh Giáp, hô mưa gọi gió, dùng phù chú của Ngọc nữ trong bản tuần thì lập tức ứng nghiệm.

Địa Độn

Ất gia Kỷ gặp Khai Môn lâm Cửu Địa, Thái Âm, ** (chữ Hán bị thiếu? Có thể là "Lục Hợp"?) là Địa Độn. Phương này được tinh hoa của mặt trời che chở. Vào lúc này thích hợp phục kích, giấu quân, lập trại, đóng quân, xây dựng, tu tạo, xuất trận, đánh thành, toàn quân thắng lợi. Phàm xuất hành, chôn cất, cưới hỏi, ẩn náu đều cát. Lại xem thấy phối hợp Chu Tước thì thích hợp đặt lời lẽ, làm trá, làm gián điệp. Phối hợp Đằng Xà thì thích hợp dùng mị hoặc. Phối hợp Thái Thường thì có tiệc rượu, yến hội. Phối hợp Thanh Long thì có tài lộc hỷ sự. Phối hợp Bạch Hổ thì có tranh đấu. Phối hợp Huyền Vũ thì chủ việc trộm cắp, dòm ngó tư tình. Phối hợp Câu Trần thì chủ việc đình trệ, kéo dài.

Nhân Độn

Đinh gia Ất gặp Hưu Môn, Sinh Môn lâm Thái Âm là Nhân Độn. Phương này được tinh hoa của sao che chở. Vào lúc này thích hợp tuyển tướng, cầu hiền, dụ địch, giảng hòa, đưa sách dâng kế, ẩn náu. Phàm kết hôn, giao dịch đều cát. Lại xem phối hợp Nhật Lộc, Hỷ Thần, Quý Nhân thì chủ tài lộc hỷ sự hòa hợp. Phối hợp Chu Tước thì chủ kiện tụng được lý. Phối hợp Đằng Xà thì chủ ác mộng tà mị. Phối hợp Bạch Hổ thì kỵ đi thuyền. Phối hợp Huyền Vũ thì đề phòng trộm cắp. Phối hợp Thiên Phụ, Thiên Trụ thì chủ mưa âm u. Phối hợp Thiên Xung thì chủ sấm. Phối hợp Thiên Anh thì chủ chớp. Đoán bệnh nguy hiểm.

Phong Độn

Ất Kỳ hợp Khai Môn, Hưu Môn, Sinh Môn (các cửa lành) lâm Tốn cung là Phong Độn. Vào lúc này thích hợp ở phương đó tế thần, lấy khí phun lên cờ xí, dựng cờ hiệu để ứng với gió. Hoặc đốt hương lạ, cho quân sĩ lắng nghe âm nhạc, hô gió phá địch dùng hỏa công, bay cát chạy đá, dùng phù chú Ngọc nữ của bản tuần, thuận gió mà đánh. Kinh nói: Trong cục, Phong Độn có thể sinh gió, Xích Bích đánh lớn dùng cách này để tấn công. Ẩn náu, phục kích việc cơ mật, trao đổi thông tin với nhau. Lại xem thấy phối hợp Thiên Xung, Thiên Phụ hai sao thì tế phong càng tốt. Lại nói Bính Kỳ cùng Khai Môn lâm Khôn cung thích hợp cầu đảo Phong Bá, Vũ Sư.

Vân Độn

Ất gia Tân hợp Khai Môn, Hưu Môn, Sinh Môn (ba cửa lành) lâm Khôn là Vân Độn. Vào lúc này thích hợp ở phương đó cầu đảo mưa móc, lợi cho nông nghiệp mùa màng, xây dựng doanh trại, tu tiên, luyện đạo. Đại tướng gặp thời này thích hợp phục kích, tập kích, để ứng với mây, toàn thắng. Cần hô phù chú Ngọc nữ của bản tuần, phá mây tạo sương lấy khí mà dùng. Lại nói mùa đông thích hợp cầu tuyết, mùa hạ thích hợp cầu mưa. Phối hợp Bạch Hổ thì chủ mưa đá. Phối hợp Chu Tước thì chủ hạn hán, cướp bóc, lợi nhuận.

Long Độn

Ất gia Nhâm hợp Khai Môn, Hưu Môn, Sinh Môn (ba cửa lành) lâm Khảm là Long Độn. Vào lúc này thích hợp ở phương đó tế Long thần, cầu mưa móc, diễn tập thủy chiến, mật vận cơ mưu, tạo dựng đồ dùng dưới nước, hoặc khai sông đào kênh, tính toán tích nước xung trận để ứng với rồng. Lại xem phối hợp Thanh Long, Huyền Vũ, Thần Hậu thì chủ mưa dầm, đề phòng gian tế, trộm cướp. Phàm di chuyển thuyền, đổi hướng, xuống nước, tính toán mặt sông, giữ gìn cửa ải, quân thủy đối địch cần dùng phù chú Ngọc nữ của bản tuần, đạp sao Bắc Đẩu ắt được Long thần ngầm giúp.

Hổ Độn

Ất gia Tân gặp Hưu Môn, Sinh Môn lâm Cấn là Hổ Độn. Vào lúc này thích hợp ở phương đó chiêu phủ quân phản loạn, địch đã bỏ trốn, cậy hiểm giữ hiểm, thiết kế xung phong, cũng như tế phong trấn tà, trừ ma quỷ, bắn săn để ứng với hổ. Nếu đóng trại phục binh, giặc tự không dám ngó ngàng. Cần dùng phù chú Ngọc nữ của bản tuần, đạp sao Bắc Đẩu ắt được Hổ uy thần trợ giúp.

Thần Độn

Bính Kỳ Sinh Môn lâm Cửu Thiên là Thần Độn. Vào lúc này thích hợp ở phương đó tế tự cầu thần, xây dựng đàn tràng, sai thần khiến tướng, âm mưu kế mật để ứng với thần. Hành binh nên làm thần tướng, bôi vẽ ba quân, thần sẽ đến ngay. Nếu gặp Bạch Hổ, Lôi Sát, Kiếp Sát thì đề phòng bị sét đánh. Kinh nói: Trong cách cục, Thần Độn khó gặp nhất, đại tướng hành binh lập tức thấy công, tế tự quỷ thần cực kỳ ứng nghiệm, việc trần gian trăm việc phúc vô tận.

Quỷ Độn

Tân gia Đinh gặp Hưu Môn, Sinh Môn, Đỗ Môn lâm Cấn cung, Cửu Địa là Quỷ Độn. Vào lúc này thích hợp ở phương đó do thám tình hình địch, cướp trại, hành gián điệp, tung tin đồn, làm rối loạn quân tâm địch, khiến chúng không thể dò xét. Lại thích hợp cúng vãng sinh, độ cô hồn, sai thần khiến quỷ, tế luyện Đinh Giáp, dùng phù chú Ngọc nữ của bản tuần tự nhiên được quỷ thần trợ lực.

Chín cách độn kể trên, phàm hành binh dụng sự đều cát, chỉ kỵ gặp Kỳ mộ, hình phạt, môn bách.