Ứng dụng đặc biệt trong Kỳ Môn Độn Giáp
Ứng dụng đặc biệt trong Kỳ Môn Độn Giáp
1. Không vong (Trống rỗng)
Không vong là gì?
Không vong chính là lúc gặp Lục Giáp tuần không. Trong mười Thiên Can và mười hai Địa Chi, mười Thiên Can gồm: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Mười hai Địa Chi gồm: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Thiên Can phối với Địa Chi, mười ngày thành một tuần: Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tỵ, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu. Lúc này mười Thiên Can đã dùng hết, mười hai Địa Chi còn thừa lại Tuất và Hợi. Nếu giờ dự đoán là giờ Giáp Tý, thì Tuất và Hợi rơi vào cung Không vong. Trong nhiều cổ thư, Không vong còn gọi là "Lục Giáp tuần không" hoặc "Lạc không". Các dạng Lục Giáp tuần không như sau:
Giáp Tý tuần không: Tuất, Hợi
Giáp Tuất tuần không: Thân, Dậu
Giáp Thân tuần không: Ngọ, Mùi
Giáp Ngọ tuần không: Thìn, Tỵ
Giáp Thìn tuần không: Dần, Mão
Giáp Dần tuần không: Tý, Sửu
Trong dự đoán, thường thì Thời can và Trực sử môn luận Không vong; Lục Giáp, Tam Kỳ, Bát Môn, Cửu Tinh, Bát Thần không luận Không vong. Chỉ khi Lục Nghi là ký hiệu của người được dự đoán hoặc là ký hiệu của sự vật được dự đoán thì mới luận Không vong. Tầm quan trọng của Không vong gần như quyết định một nửa tỷ lệ chính xác của dự đoán Kỳ Môn. Cổ thư viết: "Không vong phản đoán, tức là bình thường đoán cát thì ứng hung, bình thường đoán hung thì ứng cát." Điều này đúng hay sai còn cần nghiên cứu thêm.
Trong Không vong ẩn chứa huyền cơ. Nếu cung Không vong có Kỳ, Cát môn, Cát tinh, Cát thần, Cát cách, thì điều ẩn giấu trong Không vong là việc tốt (thành công). Nếu cung Không vong không có Kỳ, lại là Hung môn, Hung tinh, Hung thần, Hung cách, thì điều ẩn giấu trong Không vong là việc xấu (thất bại).
Không vong là nói về mặt thời gian. Bởi vì thời gian biến động, thay đổi, nên Không vong cũng chủ về biến động, thay đổi. Không vong là thời gian chưa đến, khi thời gian đến thì không còn là không vong nữa. Nhật can, Thời can, Trực sử môn rơi vào Không vong chủ việc dữ không dữ, việc lành không lành. Nguyên nhân là do thời gian chưa đến, khi thời gian đến thì việc đáng thành sẽ thành, tức việc lành thành lành, việc tốt thành tốt; việc đáng xảy ra sẽ xảy ra, tức việc dữ thành dữ, việc xấu thành xấu. Đó cũng là điều người đời thường nói: "Lành có báo lành (thiện có báo thiện), dữ có báo dữ (ác có báo ác), chưa đến thời, đến thời ắt báo."
Trong dự đoán Kỳ Môn, Thời can và Trực sử môn chủ thể sự việc. Nếu Thời can và Trực sử môn rơi vào Không vong, cho thấy việc không thành. Một là, nếu ký hiệu của người được dự đoán và ký hiệu của sự vật được dự đoán có quan hệ tương sinh, cách cục lại tốt, thì cho thấy trong thời điểm dự đoán việc chưa thành, vì thời gian chưa đến. Hai là, nếu ký hiệu của người được dự đoán và ký hiệu của sự vật được dự đoán có quan hệ tương khắc, cách cục lại xấu, thì cho thấy việc không thành, vì sự việc rơi vào khoảng không. Nếu là việc dữ, thì trong thời điểm dự đoán sẽ chưa xảy ra chuyện, chỉ đến năm, tháng, ngày, giờ được lấp đầy (điền thực) hoặc xung thì mới xảy ra chuyện.
Dự đoán sự việc: Nhật can là người, Thời can là việc. Thời can rơi Không vong, tức là việc rơi vào khoảng không, cho thấy việc không thành. Nhật can và Thời can đồng thời rơi Không vong, càng khẳng định việc không thành.
Dự đoán quan vận: Đoán việc làm, thăng chức và các việc liên quan đến công việc. Khai Môn đại diện cho công việc, chức vụ. Khai Môn rơi Không vong, thông thường cho thấy không có việc làm hoặc không có chức vụ, hoặc không thể xin được việc, thăng chức. Đoán tình hình hoàn thành nhiệm vụ công việc: Thời can đại diện cho nhiệm vụ công việc, Thời can rơi Không vong, cho thấy nhiệm vụ hoàn thành không tốt hoặc chưa hoàn thành.
Dự đoán tài vận:
Đoán tình hình doanh nghiệp: Khai Môn đại diện cho nhà máy, công ty, doanh nghiệp, cửa hàng, mặt bằng. Khai Môn gặp Không vong, cho thấy doanh nghiệp ngừng sản xuất.
Đoán tình hình vốn: Giáp Tý Mậu là vốn, Mậu rơi Không vong, cho thấy không có vốn hoặc vốn tạm thời thiếu hụt.
Đoán việc buôn bán: Sinh Môn là lợi nhuận, Sinh Môn rơi Không vong, cho thấy không có lợi nhuận hoặc lợi nhuận giảm một nửa.
Đoán khách hàng: Thời can là khách hàng, Thời can rơi Không vong, cho thấy khách hàng ít hoặc không có.
Đoán nhân viên: Thời can là nhân viên, Thời can rơi Không vong, cho thấy nhân viên ít hoặc thiếu người.
Đoán mua hàng: Nhật can là bên mua, Thời can là bên bán, đồng thời cũng là việc mua hàng. Thời can rơi Không vong, cho thấy bên bán không muốn bán, việc mua hàng trở nên trống rỗng.
Đoán ký kết hợp đồng: Thời can là hợp đồng, Thời can rơi Không vong, cho thấy hợp đồng không ký được.
Đoán thuê mặt bằng, trung tâm thương mại: Nếu người thuê đến hỏi, Nhật can là bên thuê, Thời can là bên cho thuê, đồng thời là việc thuê. Thời can rơi Không vong, cho thấy bên cho thuê không muốn cho thuê, việc thuê không thành. Nếu người cho thuê đến hỏi, Nhật can là bên cho thuê, Thời can là bên thuê, cũng là việc thuê. Thời can rơi Không vong, cho thấy bên thuê không muốn thuê, việc thuê không thành.
Đoán gia công nguyên liệu: Nhật can là bên gia công, Thời can là bên cung cấp nguyên liệu, đồng thời là việc gia công. Thời can rơi Không vong, cho thấy việc gia công không thành, cũng cho thấy không có đơn vị cung cấp nguyên liệu.
Dự đoán hôn nhân: Lục Hợp đại diện cho hôn nhân, quan hệ yêu đương; Ất – Canh đại diện cho nam nữ. Lục Hợp rơi Không vong cho thấy chưa có hôn nhân, chuyện tình cảm không thành. Ất kỳ rơi Không vong cho thấy người nam chưa kết hôn. Canh rơi Không vong cho thấy người nữ chưa kết hôn.
Dự đoán nhờ người giúp việc: Ký hiệu của người được nhờ rơi Không vong cho thấy người đó không có nhà. Nhờ người giúp việc, phương hướng đến rơi Không vong thì tốt nhất đừng đi, đi cũng không gặp được vì người không có nhà.
Dự đoán sự việc: Nhật can, niên mệnh hoặc ký hiệu của người được dự đoán rơi Không vong, rất có thể là người đó không có nhà.
2. Mã tinh (Sao Mã)
Trong Kỳ Môn Độn Giáp, Mã tinh chủ về sự đi lại, biến động, thay đổi; ngoại suy ra còn chỉ sự chia tay, ly biệt, phân cách; sự truyền đạt, lan truyền; sự phát triển. Tìm Mã tinh dựa vào giờ dự đoán. Trong cục tam hợp của Địa Chi, địa chi xung với địa chi đầu tiên chính là Mã tinh.
Giờ dự đoán là Dần, Ngọ, Tuất → Mã tinh ở vị trí Thân.
Giờ dự đoán là Tỵ, Dậu, Sửu → Mã tinh ở vị trí Hợi.
Giờ dự đoán là Thân, Tý, Thìn → Mã tinh ở vị trí Dần.
Giờ dự đoán là Hợi, Mão, Mùi → Mã tinh ở vị trí Tỵ.
Đoán công việc: Nếu Khai Môn lâm Mã tinh hoặc bị Mã tinh xung, cho thấy công việc ắt có biến động. Nhật can lâm Mã tinh hoặc bị Mã tinh xung, cũng cho thấy công việc sắp thay đổi.
Đoán việc đi lại: Nhật can lâm Mã tinh hoặc bị Mã tinh xung, cho thấy sắp có chuyến đi.
Đoán sự việc: Nhật can lâm Mã tinh hoặc bị Mã tinh xung, cho thấy ở bên ngoài nhiều, ở nhà ít; hoặc sắp phải hành động; hoặc đang tích cực chạy lo việc.
Đoán bệnh tật: Thiên Nhuế tinh lâm Mã tinh, cho thấy bệnh tình đang tiếp tục phát triển.
Đoán chiến lược, sách lược: Cảnh Môn lâm Mã tinh, cho thấy văn thư, giấy tờ được truyền đi; hoặc có tin tức, văn thư sắp đến. Tổ hợp Cảnh Môn, Cửu Thiên, Mã tinh cho thấy tin đồn lan xa.
Đoán tình hình doanh nghiệp: Khai Môn lâm Mã tinh hoặc bị Mã tinh xung, cho thấy doanh nghiệp sắp dời địa chỉ, cửa hàng sắp di dời.
3. Mộ (Khố)
Thế nào là nhập mộ?
Nhập mộ là trạng thái của mười Thiên Can trong mười hai giai đoạn: Sinh, Vượng, Tử, Mộ, Tuyệt. Dựa vào thời lệnh (tiết khí) của Thời can để thể hiện quá trình phát triển đầy đủ của sự vật: Trường sinh, Mộc dục, Quán đái, Lâm quan, Đế vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng. Đây là quy luật tất yếu của sự phát triển sự vật.
Phân biệt Mộ và Khố dựa vào tiết khí:
Ất: Vào tháng Dần, Mão rơi cung Càn là Khố.
Bính: Vào tháng Dần, Mão, Tỵ, Ngọ rơi cung Càn là Khố.
Đinh: Vào tháng Dần, Mão, Tỵ, Ngọ rơi cung Cấn là Khố.
Mậu: Vào tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi rơi cung Càn là Khố.
Kỷ: Vào tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi rơi cung Cấn là Khố.
Canh: Vào tháng Thân, Dậu, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi rơi cung Cấn là Khố.
Tân: Vào tháng Thân, Dậu, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi rơi cung Tốn là Khố.
Nhâm: Vào tháng Hợi, Tý, Thân, Dậu rơi cung Tốn là Khố.
Quý: Vào tháng Hợi, Tý, Thân, Dậu rơi cung Khôn là Khố.
Ngoài các tiết khí này, còn lại đều là nhập mộ.
Trong Kỳ Môn Độn Giáp, Tam Kỳ nhập mộ, Thời can nhập mộ chủ về không thuận, chủ về hung. Không có lợi cho việc cần dự đoán, ít nhất cũng được coi là yếu tố bất lợi.
Dự đoán nhân sự:
Nhật can nhập mộ tại Thiên bàn, cho thấy không hành động, gặp việc bất lực, tay không, trăm việc chẳng thành; hoặc gần đây gặp rắc rối; hoặc việc gì cũng có vấn đề; hoặc gặp việc khó xử lý; hoặc bị giam cầm, bị giam giữ; hoặc lẩn trốn, ẩn náu.
Niên can nhập mộ, cho thấy cấp trên không ủng hộ, không quan tâm, không hỏi han. Trực Phù lâm Thiên bàn có kỳ nghi nhập mộ cũng vậy.
Đoán tìm người:
Nhật can, niên mệnh nhập mộ tại Thiên bàn, cho thấy người được dự đoán ở bên ngoài gặp rắc rối, hoặc bị kẹt, hoặc bị giam, hoặc gặp tai nạn bất ngờ. Nhập mộ tại Địa bàn, cho thấy làm việc mơ hồ, do dự, không quyết tâm; hoặc có chí nhưng khó thực hiện.
Đoán kiện tụng, tranh chấp:
Niên mệnh của người được dự đoán hoặc ký hiệu của người nhờ dự đoán nhập mộ tại Thiên bàn, cho thấy người đó ở ngoài gặp rắc rối. Nếu dưới Địa bàn của niên mệnh hoặc ký hiệu của người được dự đoán có Tân, Nhâm, Quý, cho thấy người đó bị giam giữ hoặc tạm giam.
Dự đoán kinh doanh doanh nghiệp:
Thời can nhập mộ, khi dự đoán về sản phẩm cho thấy sản phẩm tồn kho nhiều, chất lượng kém. Khi dự đoán về nhân viên, cho thấy nhân viên có tâm lý bất mãn. Khi dự đoán chỉ tiêu kinh doanh, cho thấy nhiệm vụ hoàn thành không tốt.
Dự đoán chức vụ:
Khai Môn nhập mộ, cho thấy không có chức vụ; nếu có chức vụ thì không có lợi.
4. Lục nghi kích hình (Sáu nghi bị hình phạt)
Lục nghi kích hình cực kỳ hung, dù có Trực Phù cũng không thể dùng được, cưỡng ép dùng ắt có tai họa. Nếu gặp Thiên võng tứ trương (bốn bề lưới trời), ắt bị bắt giữ, có tù ngục.
Nhật can gặp Lục nghi kích hình: Dự đoán về thế giới tinh thần cho thấy tinh thần suy sụp, lòng đau khổ, không sao tả xiết.
Dự đoán công việc: Nhật can gặp kích hình, cho thấy áp lực công việc lớn, áp lực tinh thần lớn. Khai Môn gặp kích hình, cho thấy bị phê bình, sắp từ chức. Giáp Tý Mậu gặp kích hình, cho thấy bị cắt lương, trừ lương.
Dự đoán kinh doanh: Giáp Tý Mậu rơi cung tam (cung Chấn), cho thấy vốn hao tổn, tài sản thất thoát.
Thời can gặp kích hình, cho thấy vật tư bị tổn thất, sản phẩm bị hư hỏng, mốc meo.
Dự đoán lái xe: Cho thấy tài xế quá mệt mỏi hoặc gặp tai nạn giao thông.
Dự đoán kiện tụng hoặc án kiện: Cho thấy sẽ chịu hình phạt của pháp luật.
5. Canh
Trong Kỳ Môn Độn Giáp, Giáp Mộc là "Thanh Long", Canh Kim là "Bạch Hổ". Giáp Tý Mậu trên Canh là "Thanh Long gặp Bạch Hổ", Canh trên Giáp Tý Mậu là "Bạch Hổ gặp Thanh Long". Canh là vị thần hung nhất trong Kỳ Môn Độn Giáp. Đại diện cho: đàn ông, chồng, kẻ thù, người gây rối, bên tấn công, kẻ hãm hại; sự xử phạt, đối tượng bị điều tra; đường sá, tai nạn giao thông; sự ngăn trở, lực cản, chướng ngại; tai ương, bất hạnh, điều bất lợi. Nếu Canh là niên can thì có phần tốt hơn một chút, còn ngoại trừ ra thì thông thường đều là hung. Ngoại trừ các trường hợp: phá án gặp Canh cách thì án phá được; tìm người gặp Canh cách thì tìm được; tìm đồ thất lạc gặp Canh cách thì tìm thấy; việc xấu thành tốt; còn lại đều là hung. Nhật can, niên mệnh gặp Canh chủ về không thuận, cũng chủ hung. Khai Môn gặp Canh chủ về công việc không thuận lợi, có trở ngại; cũng cho thấy nội bộ đơn vị không hòa hợp. Làm việc gặp Canh chủ việc không thành.
Canh cách: Canh dưới lâm năm, tháng, ngày, giờ là Canh cách. Tuy nhiên, nếu Canh cách rơi Không vong thì không có tác dụng, không gọi là cách nữa. Canh dưới lâm Ất cũng không thành cách, vì Ất và Canh hợp với nhau.
6. Tân
Trong Kỳ Môn Độn Giáp, Tân đại diện cho: sai lầm, nhầm lẫn, thiếu sót, khuyết điểm; người phạm sai lầm; người vi phạm pháp luật; người có tội. Nhật can, niên mệnh rơi cung gặp Tân, cho thấy suy nghĩ sai, cách làm sai. Tân gặp Huyền Vũ hoặc Thiên Bồng tinh, cho thấy là người thường xuyên phạm sai lầm. Tân trên có Nhâm hoặc Quý, hoặc Tân dưới lâm Nhâm hoặc Quý, cho thấy bị vây khốn bởi Thiên võng hoặc Địa lao, có tù ngục. Tân rơi cung vượng tướng hoặc rơi Không vong, cho thấy sẽ không bị kết án tù. Tân rơi cung gặp Kỳ, Cát môn, Cát thần, Cát cách, cho thấy có cứu, sẽ không bị kết án tù; đặc biệt Tân gặp Đinh Kỳ là có cứu, sẽ không bị kết án tù.
Đoán công việc: Trong cung Khai Môn có Tân, cho thấy trong công việc có sai sót.
Đoán chiến lược, sách lược, phương pháp công tác: Trong cung Cảnh Môn có Tân, cho thấy phương pháp công tác có thiếu sót, bất cập.
Đoán nhân viên: Trong cung Thời can có Tân, cho thấy nhân viên có yêu cầu không chính đáng.
7. Nhâm và Quý
Trong Kỳ Môn Độn Giáp, Nhâm là Địa lao (địa ngục), Quý là Thiên võng (lưới trời). Nhật can, niên mệnh rơi cung gặp Nhâm hoặc Quý cho thấy khó phát triển, có chí khó thực hiện. Khi dự đoán, Thiên bàn Nhật can, niên mệnh dưới lâm Nhâm hoặc Quý, trong cung lại có Thiên Bồng (sao trộm) hoặc Huyền Vũ (thần trộm), cho thấy là người thường xuyên phạm sai lầm. Nếu Địa bàn Nhật can, niên mệnh trên có Nhâm hoặc Quý, lại có Thiên Bồng hoặc Huyền Vũ, cho thấy đã từng bị cơ quan công an, kiểm sát, tòa án tạm giam hoặc bắt giữ.
Ví dụ: Niên mệnh Tân rơi cung Cấn (Bạch Hổ; Đỗ Môn, Tân; Thiên Bồng tinh, Quý). Bạch Hổ chủ tai ương, hình thương; gặp Đỗ Môn môn khắc cung chủ hung; Tân + Quý là "Lầm vào lưới trời" chủ mặt trời mặt trăng tối tăm; niên mệnh gặp Thiên võng lại có Thiên Bồng tinh, nên là người thường xuyên phạm sai lầm. Địa bàn Tân rơi cung Khảm (Huyền Vũ; Thương Môn, Bính; Thiên Tâm tinh, Tân) trên có Huyền Vũ, cho thấy người đó ắt đã từng bị giam giữ.
Ví dụ khác: Nguyệt can Kỷ là bạn bè rơi cung Chấn (Huyền Vũ; Kỷ, Đỗ Môn, Nhâm; Thiên Nhuế tinh, Tân). Huyền Vũ là kẻ trộm vặt; Kỷ dưới lâm Tân, Tân là người có tội, cho thấy bạn bè phạm tội vì trộm cắp. Tân trên có Nhâm, Nhâm là Thiên võng, cho thấy bạn bè bị giam giữ. Địa bàn Kỷ cũng là bạn bè rơi cung Ngũ (trung cung) ký sinh cung Khôn (Thái Âm; Kinh Môn, Quý; Kỷ, Thiên Bồng tinh, Nhâm). Trong cung Kỷ trên có Quý, Quý là Thiên võng, cũng cho thấy bị giam giữ.
8. Thiên bàn và Địa bàn
Khi dự đoán sự việc, trạng thái của các kỳ nghi tại cung Thiên bàn và Địa bàn của Nhật can, niên mệnh có liên quan mật thiết đến việc cần dự đoán. Thiên bàn đại diện cho trạng thái hiện tại, trạng thái ở thời điểm hiện tại; trạng thái biến động, thay đổi, phát triển. Địa bàn đại diện cho trạng thái quá khứ, trạng thái trước đây; trạng thái không biến động, tĩnh tại.
Thiên bàn: Khi dự đoán sự việc, Nhật can Thiên bàn là trạng thái động của người được dự đoán, thực trạng hiện tại, tức là tình huống hiện tại. Nhật can Địa bàn là trạng thái không động của người được dự đoán, trạng thái quá khứ, trạng thái tĩnh. Khi phân tích quá khứ, cần xem Nhật can Địa bàn ở cung nào, dùng Nhật can, niên mệnh tại cung đó phân tích mối liên hệ tương quan với Nhật can, niên mệnh tại Thiên bàn, sau đó tổng hợp phán đoán kết quả hiện tại.
Địa bàn: Khi dự đoán tìm người, tìm vật, Nhật can, niên mệnh rơi cung có liên hệ mật thiết với các kỳ nghi ở dưới. Người ẩn náu ở đâu? Ắt liên quan đến kỳ nghi Địa bàn của cung đó. Cần xem kỳ nghi Địa bàn bay lên cung nào, dùng các ký hiệu tại cung đó để phân tích xu hướng và kết quả.
Ví dụ: Tìm vợ, Ất kỳ đại diện cho vợ rơi Ly cung (cung số 9) gặp Đỗ Môn, Đỗ Môn chủ ẩn náu. Vậy vợ ẩn náu ở đâu? Ất dưới lâm Địa bàn "Nhâm", ắt liên quan đến "Nhâm". "Nhâm" ở trạng thái tĩnh tại Ly cung số 9, xem ở trạng thái động nó bay lên cung nào. Thiên bàn "Nhâm" bay lên Tốn cung (số 4), trên có Trực Phù, "Nhâm" dưới lại lâm niên can "Mậu". Tốn chủ trưởng nữ, tuổi tác tương đối lớn. Có thể phán đoán sơ bộ là vợ đã đến nhà một người phụ nữ lớn tuổi. Niên can "Mậu" là bậc trưởng bối, lại càng khẳng định là đến nhà một người phụ nữ lớn tuổi, người phụ nữ này là bậc trưởng bối của vợ. Trực Phù lại đại diện cho mẹ. Lúc này có thể kết luận chính xác: vợ đã về nhà mẹ đẻ của cô ấy.
Khi phán đoán thân phận, nghề nghiệp của người được dự đoán, Thiên bàn và Địa bàn của cung mà ký hiệu đại diện cho người đó rơi vào có mối liên hệ tương hỗ mật thiết.
Ví dụ: Khi dự đoán thân phận, nghề nghiệp của chồng của người tình (nhân tình) của chồng: Xem chồng của người tình đó làm nghề gì. Canh dưới lâm Đinh, Đinh là người tình của chồng. Trong mười Thiên Can, Nhâm hợp với Đinh, vậy Nhâm chính là chồng của người tình. Thiên bàn Nhâm là trạng thái hiện tại của người chồng đó. Thiên bàn Nhâm rơi Khôn nhị cung (số 2) gặp Khai Môn, lại trên có Trực Phù. Khai Môn đại diện cho công việc, đơn vị; cũng đại diện cho nhà máy, doanh nghiệp, cửa hàng. Trực Phù đại diện cho lãnh đạo. Điều này cho thấy chồng của người tình là lãnh đạo. Vậy rốt cuộc anh ta là lãnh đạo của một đơn vị, hay là ông chủ của một nhà máy, doanh nghiệp, cửa hàng? Thân phận vẫn chưa thực sự rõ ràng. Lúc này cần tra cứu tình trạng trước đây của "Nhâm", tức là Địa bàn "Nhâm" rơi cung nào, phân tích thuộc tính ngũ hành của cung đó, thuộc tính ngũ hành của môn tại cung đó, thuộc tính ngũ hành của kỳ nghi Thiên bàn. Địa bàn "Nhâm" ở Ly cửu cung (số 9), "Nhâm" trên có lục nghi là Mậu, Mậu thuộc Thổ, Thổ đại diện cho nông dân. Lại tham chiếu Thiên bàn "Nhâm" rơi Khôn nhị cung, nhị cung thuộc Thổ. Lúc này có thể xác định chính xác thân phận, nghề nghiệp của chồng người tình: trước đây là nông dân, bây giờ đã mở nhà máy, trở thành ông chủ.
Ví dụ khác: Thiên Bồng tinh là kẻ trộm cắp rơi Khôn nhị cung, trong cung Thiên bàn kỳ nghi là "Tân", Địa bàn "Tân" ở Khảm nhất cung, trong cung bát thần là Cửu Địa, Cửu Địa là nông dân, Khôn cung thuộc Thổ, vậy kẻ trộm cắp là nông dân.
Con trai bị lừa, bị người ta dụ đi. Hỏi kẻ phạm tội là ai? Nhật can là người hỏi, Nguyệt can là hàng anh em, Thời can là hàng con cháu, cũng là sự việc cần dự đoán. Đoán con cháu mất tích: Thời can là hàng con cháu rơi cung dưới lâm Đinh kỳ, Đinh là Nguyệt can, Đinh lại tương hòa với cung rơi của Nhật can, ắt liên quan đến Đinh. Do đó có thể là người quen, thuộc hàng anh em ra tay.
Đoán số lượng văn bản cần tìm: Thiên bàn Đinh kỳ đại diện cho văn bản rơi Cấn bát cung, Địa bàn Đinh kỳ ở Khôn nhị cung. Cả hai cung Khôn, Cấn đều thuộc Thổ, Thổ chủ số 5, 10. Vậy phán đoán số lượng văn bản cần tìm là 5 bản.
9. Kỳ nghi tương hợp (Kỳ và nghi hợp với nhau)
Khi dự đoán sự việc, nếu Nhật can, niên mệnh hoặc ký hiệu của người được dự đoán có kỳ nghi Thiên bàn và Địa bàn tương hợp, cho thấy có ý hòa hợp, kết hợp.
Đoán người mất tích: Ký hiệu của người mất tích rơi cung có kỳ nghi tương hợp trong cung, cho thấy có người giữ lại. Hợp với niên can: là bậc trưởng bối giữ lại, người mất tích đã đến nhà trưởng bối. Hợp với nguyệt can: là cùng thế hệ giữ lại, người mất tích đã đến nhà anh chị em, bạn học, đồng nghiệp, bạn bè. Hợp với thời can: người mất tích đã đến nhà người thuộc hàng con cháu.
Đoán kiện tụng: Nếu trong cung của Trực Phù (nguyên đơn) và Thiên Ất (bị đơn) xuất hiện ký hiệu kỳ nghi tương hợp, cho thấy có khả năng hòa giải, điều giải.
Đoán tình hình thực hiện kế hoạch: Trong cung Cảnh Môn xuất hiện kỳ nghi tương hợp, cho thấy không thể thực hiện được vì bị vướng mắc.
Đoán đánh trận, đánh nhau: Nếu trong cung của Trực Phù, Canh xuất hiện kỳ nghi tương hợp, cho thấy sẽ thương lượng hòa bình.
10. Quý nhân
Thế nào là "Quý nhân"? Trong tĩnh ứng của Bát Môn Kỳ Môn Độn Giáp có câu: "Kinh + Khai" chủ vì quan sự mà lo lắng nghi ngờ, nếu gặp được quý nhân thì không hung. Trong dự đoán tội nhân có thể được thả ra hay không, có một cách nói: Giáp Ngọ Tân nếu gặp Tam Kỳ, Cát môn, Cát cách là có cứu, đặc biệt gặp Đinh kỳ thì nhất định được thả. Từ đó chúng ta tìm ra cơ sở để xác định "Quý nhân".
Theo cách hiểu cá nhân, trong Kỳ Môn Độn Giáp, những đối tượng được gọi là Quý nhân bao gồm: Ất, Bính, Đinh; Niên can là Thái Tuế, cũng là Quý nhân. Mở rộng ra còn bao gồm Cát môn, Cát cách.
Ví dụ: Dự đoán người mất tích ở ngoài có nguy hiểm không. Nếu cung rơi của ký hiệu người mất tích vượng tướng, gặp Kỳ, lâm Thái Tuế thì là cát, sẽ không có nguy hiểm.
Ví dụ khác: Dự đoán kẻ trộm có bị bắt không. Nếu Huyền Vũ rơi cung vượng tướng, gặp Kỳ, lâm Thái Tuế, thì dù kẻ trộm đã làm việc xấu, nhưng cũng khó bị bắt, vụ án khó phá.
11. Tư duy và phương pháp phân tích vấn đề
Trước hết, phân tích nội dung tĩnh ứng của cách cục do môn và kỳ nghi trong cung Thời can tạo thành, bởi vì Thời can chủ thể sự việc.
Thứ hai, phân tích mối liên hệ tương hỗ giữa kỳ nghi của Thiên bàn và Địa bàn trong cung Tuần không với kỳ nghi trong cung của ký hiệu người được dự đoán, kỳ nghi trong cung của sự vật được dự đoán với kỳ nghi trong cung Tuần không, bởi vì trong Tuần không ẩn chứa huyền cơ.
Phân tích trạng thái Thiên bàn và Địa bàn của cung rơi của ký hiệu đại diện cho người được dự đoán và ký hiệu đại diện cho sự vật được dự đoán. Phân tích cung mà Thiên bàn Lục Nghi rơi vào (Địa bàn cung đó), bởi vì Thiên bàn đại diện cho trạng thái hiện tại của người được dự đoán, còn Địa bàn đại diện cho trạng thái trước đây.
You should also read:
Độn Giáp là gì?
1. Khái niệm “Độn Giáp” và “Tuần thủ” Trong Kỳ Môn, một “Tuần” (một chu kỳ 10 ngày) bao gồm 10 Can kết hợp với 10 Chi (cụ thể là 10 ngày đầu tiên trong 60 Hoa Giáp). Tuy nhiên, trên bàn hình (Cửu cung)…
LỤC NGHI KÍCH HÌNH TRONG KỲ MÔN ĐỘN GIÁP
LỤC NGHI KÍCH HÌNH TRONG KỲ MÔN ĐỘN GIÁP 1. Khái niệm tổng quan 1.1. Lục Nghi là gì? Trước khi hiểu về Kích Hình, cần nhắc lại khái niệm Lục Nghi (六仪). Đó là sáu Thiên Can phối hợp với 6 đơn vị quân đội…
Độn Giáp là gì?
Logic nền tảng nhất của Kỳ Môn: "Cửu cung bất dung thập can" (Chín cung không chứa nổi mười can). Vì không thể xếp 10 Thiên Can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) vào 9 cung một cách lộ diện, bắt…
