Tử VI AI

Tử Vi AI Mệnh Chủ

Tử Vi AI Mệnh Chủ

Trước hết cần khẳng định rõ vai trò của mệnh chủ trong tử vi, bởi đây chính là nền tảng để xác định cách cục lá số. Trong khoa học tự nhiên, đặc biệt là vật lý và toán học, muốn lý giải một hiện tượng hay hiệu ứng, người ta buộc phải thiết lập phương trình và tìm nghiệm của phương trình đó. Chỉ khi nghiệm được xác định, việc giải thích bản chất hiện tượng mới trở nên khả thi, dù nghiệm đó là trực tiếp hay gián tiếp. Tử vi cũng không nằm ngoài quy luật này. Muốn luận đoán chính xác, trước hết phải xác định được cách cục, bởi cách cục chính là “nghiệm” của lá số. Phép hội sao cổ điển chính là phương pháp ban đầu để xác định cách cục, và phép này đòi hỏi đồng thời hai điều kiện mang tính nền tảng.

Điều kiện thứ nhất là xác suất khả dĩ lớn nhất, tức khả năng tổng quát hóa, rút ra những đặc điểm chung, bản chất cốt lõi của cách cục. Điều kiện này phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm sống, trực giác, linh cảm và năng khiếu bẩm sinh của người luận đoán. Nói cách khác, đây là quá trình đi từ cái riêng lẻ đến cái chung, từ vô số biểu hiện đến bản chất, mang tính tổng hợp và khái quát cao.

Điều kiện thứ hai là tính khả dụng, nghĩa là khả năng áp dụng những tổng quát đó vào đời sống thực tế của từng mệnh chủ cụ thể. Điều này đòi hỏi người luận tử vi không chỉ nắm vững lý thuyết mà còn phải có vốn sống phong phú, hiểu sâu sắc nhân tình thế thái, thông thạo ngũ sự và các mối quan hệ xã hội. Chính vì vậy mà từ xưa đến nay, người ta vẫn thường nói rằng muốn giỏi tử vi phải có năng khiếu, phải có “giác quan thứ sáu”, phải từng trải và hiểu đời. Trước kia những nhận định ấy nghe có vẻ mơ hồ, nhưng khi nhìn sâu vào bản chất của phép hội sao, ta mới thấy rõ rằng chính hai điều kiện trên đã khiến số người thực sự tinh thông tử vi trở nên vô cùng hiếm hoi. Đây là quá trình đặc biệt hóa, đưa lý thuyết vào từng trường hợp sinh động của đời sống.

Tuy nhiên, tiền nhân không dừng lại ở đó. Họ sớm nhận ra những giới hạn và khó khăn của phép hội sao truyền thống nên đã tìm cách hóa giải. Một trong những nỗ lực đầu tiên là việc đưa ra hai khái niệm chủ mệnh và chủ thân an tại thiên bàn. Dù vậy, phương pháp này nhanh chóng bộc lộ tính thô thiển. Nguyên nhân là bởi chủ mệnh và chủ thân được xác định cố định theo năm sinh, mỗi năm chỉ có một cặp sao nhất định. Trong bối cảnh xã hội xưa, khi đời sống còn đơn giản, cách làm này có thể tạm chấp nhận. Nhưng khi xét kỹ, ta thấy rằng mỗi năm có tới hàng nghìn lá số khác nhau, trong khi lại chỉ dùng một cặp chủ mệnh thân để làm nền tảng định cách cục, thì rõ ràng là quá đơn giản và thiếu linh hoạt.

Hệ quả là dù mỗi lá số có thể được luận khác nhau ở chi tiết, nhưng về bản chất lại rất khó thoát khỏi khuôn khổ cố định. Khi kết hợp thêm các cách cục chính tinh, phụ tinh như Phủ Tướng triều viên hay các cách lớn khác, người luận dễ rơi vào tình trạng tự trói buộc tư duy của chính mình. Việc gia hội thêm sao, chế hóa, biến hóa nếu không đủ sâu sẽ dẫn tới một mê cung lý thuyết, nơi người luận vừa mệt mỏi vừa hoang mang, luận xong cũng không biết kết quả có chính xác hay không. Nghiêm trọng hơn, khi nhận ra luận sai thì cũng không thể xác định được sai từ đâu.

Chính vì sự thô cứng và hạn chế đó mà phép chủ mệnh thân dần bị xem là cổ lỗ, thậm chí bị nhiều người bỏ qua, đặc biệt là trong giới nghiên cứu thuộc phái Đông A. Tiền nhân khi nghiên cứu tử vi đều nhận thức rõ điểm yếu này và không ngừng tìm hướng khắc phục. Một hướng đi khác, phổ biến hơn trong thực hành hiện nay, bắt nguồn từ việc luận đoán các lá số Vô Chính Diệu. Qua thực nghiệm lâu dài, người xưa đã đúc kết được nhiều công thức, trong đó nổi bật vai trò của các hung tinh, cát tinh đặc biệt, nhất là sự đồng hành của ngũ hành bản mệnh với một số tinh đẩu then chốt trong cách cục.

Tuy nhiên, về mặt lý thuyết, việc giới hạn những tinh đẩu nòng cốt này chỉ trong cung Mệnh lại tạo ra một rào cản mới. Để tháo gỡ, tiền nhân đã mở rộng phạm vi xét sao sang các cung Thiên Di, Tài Bạch và Quan Lộc, thay vì chỉ bó hẹp trong cung Mệnh hay cung Thân. Đây là sự mở rộng hợp lý, bởi ba cung này có mối liên hệ mật thiết với sự vận động của đời sống con người. Thế nhưng, một số người do thiếu hiểu biết lại mở rộng tràn lan sang các cung khác, không nhận ra rằng ngũ hành vốn đã mất cân đối, càng mở rộng vô hạn thì sự phi lý càng tăng, dẫn tới cách luận ngày càng gượng ép và mơ hồ.

Ngay cả khi sự mở rộng được thực hiện một cách chừng mực, phương pháp này vẫn không thể vượt qua những giới hạn cốt lõi. Cuối cùng, việc định cách cục vẫn quay trở lại phép hội sao truyền thống, chỉ là được bổ sung thêm nhiều lớp kỹ thuật như lưu tứ hóa, thái tuế, hóa khí. Tất cả những phép này, xét cho cùng, đều nhằm mục đích mở rộng “phạm vi hoạt động” của cách cục, để cải thiện xác suất khả dĩ lớn nhất và tăng tính khả dụng trong thực tế. Nhờ đó, kinh nghiệm sống và sự từng trải của người luận đoán mới có đất để phát huy.

Từ đây, tử vi phát triển theo hai hướng song song: một là nâng cấp phương pháp định cách cục, hai là mở rộng phạm vi tác động và biến hóa của cách cục. Trong đó, hướng thứ hai dễ tiếp cận hơn và được đông đảo người thực hành hưởng ứng. Tuy nhiên, dù có cải thiện đáng kể, những vấn nạn căn bản của tử vi vẫn chưa được giải quyết triệt để.

Chính trong bối cảnh đó, tổ tiên của phái Đông A đã âm thầm phát minh ra phép sao treo. Phương pháp này được giữ kín, trở thành bí truyền, mặc cho thế gian tranh luận, tò mò hay hoài nghi. Sao treo không chỉ vượt lên trên các phép định cách cục nòng cốt, mà còn thể hiện một sự thấu triệt sâu sắc về bản chất thực sự của tử vi. Dù có thể sự ra đời của sao treo không xuất phát trực tiếp từ nhu cầu khắc phục những hạn chế trước đó, nhưng trên thực tế, nó đã giải quyết được hàng loạt vấn đề nan giải mà các phương pháp cũ không thể chạm tới. Chính vì vậy, những lời đoán xuất phát từ sao treo thường được xem là thần kỳ, ẩn hiện như rồng lượn, khiến người đời vừa ngưỡng mộ vừa kính nể.

Phương pháp mệnh chủ ra đời trên nền tảng tư tưởng của phép sao treo. Vì thế, không nên hiểu sai khái niệm mệnh chủ theo nghĩa hẹp hay máy móc, rồi đặt câu hỏi rằng thân chủ ở đâu. Mệnh chủ ở đây không phải là sự thay thế đơn giản cho chủ mệnh hay chủ thân truyền thống, mà là sự kế thừa và phát triển một tầng nhận thức cao hơn về cách cục và bản chất của lá số tử vi.


Điều kiện thứ hai là tính khả dụng, tức là áp dụng cụ thể vào thực tế thì liên hệ trực tiếp tới vốn sống, kinh nghiệm và sự hiểu đời – liên quan tới ngũ sự, … – của người giải đoán. Chả thế mà chúng ta vẫn hay nghe nói những người giỏi luận tử vi nào la cần năng khiếu, cần giác quan thứ sáu, cần trải đời, v. v. .. Trước kia chúng ta chỉ hay nghe nói thế thôi, nhưng nay thì thấy rõ, bản chất của nó là do cái phép hội sao nó yêu cầu tới hai điều kiện trên, do đó số người giỏi tử vi mới ít như vậy, và cũng ít người có thể theo được đến cùng. Tức là đặc biệt hóa.

Nhưng tiền nhân ta đã không thỏa mãn sớm như vậy. Họ đã nghiên cứu, mày mò để tìm cách hóa giải những khó khăn của hai điều kiện trên.
Phép hóa giải đầu tiên là việc đưa ra hai sao chủ mệnh và chủ thân ở thiên bàn của lá số. Nhưng phép này ta thấy ngay là thô thiển – tuy nhiên trong một vài trường hợp, mà đối với xã hội xưa kia thì cũng thấy khá là đủ bởi đâu có phức tạp và phong phú như cuộc sống xã hội hiện đại. Thô thiển là bởi vì, hai sao chu thân mệnh được xác định như là quy tắc cố định theo năm sinh. Mỗi năm có một cặp sao mà thôi. Dễ thấy là cho dù mỗi lá số, với cùng cặp chủ mệnh thân tuy luận sẽ có khác nhau, nhưng cùng một lá số là không có cách gì luận khác nhau được cả.
Tinh tế hơn chút nữa chúng ta cũng thấy, mỗi năm có tới hơn 8 ngàn lá số. Chúng ta lại luận theo kiểu xác định cách cục chính tinh phụ tinh thì chúng ta sẽ rơi vào cái thế tự trói chân tay minh. Ví dụ như chúng ta thấy có cách phủ tướng triều viên. Đương nhiên không thể bỏ. Lại chỉ có một cặp chủ thân mệnh, nên không thể thoát ra khỏi hai cái giới hạn đó. Chỉ còn có cách mở bằng gia hội thêm sao, chế hóa, … các bạn nào chưa làm thì bây giờ làm thử xem. Sẽ rơi vào mê hồn trận. Tệ hơn nữa là luận xong rồi, chẳng biết có đúng không nữa. Mà khi biết là sai thì cũng chẳng biết sai ở đâu. Cứ thử đi !. Rồi các bạn sẽ còn gặp nhiều chuyện bất khả, và tức mình hơn nữa.
Cái phép chủ mệnh thân này nó cổ lỗ, và thô tới mức nhiều người còn không thèm học. Đặc biệt là những người của phái đông a. Tiền nhân ta khi nghiên cứu tử vi đều nhận ra điểm này mà tìm cách khắc phục nó. Một hướng khác phục có lẽ là phổ biến nhất hiện nay, nhưng nguồn khởi của nó, thú thực tôi không dám xác quyết, vì thực tế nắm được là những gì truyền lại, lại không có những kiểm chứng khoa học. Nên chỉ viết ra đây, xem như là một chút thư giãn, khỏi bức bối mà thôi.
Số là khi giải đoán những lá số mệnh VCD tiền nhân ta đã đúc kết khá nhiều công thức. Nhưng phảng phất thấy vai trò của những hung tinh, cát tinh đặc biệt. Mà một trong các thông số đặc biệt đó là sự đồng hành với ngũ hành bản mệnh của một vài tinh đẩu có trong cách cục được nêu bởi các công thức – tuy không phải là tất cả một cách tuyệt đối – nhưng phảng phất và dễ tìm được cái lý để các tinh đẩu đó lộ diện. Tuy nhiên, về mặt lý thuyết, sẽ gặp ngay cản trở bởi tính hạn chế của sự đồng hành chỉ trong cung mệnh.
Tiền nhân ta tháo gỡ khó khăn này bằng cách không hạn chế xét sao nòng cốt chỉ ở trong khuôn khổ một cung an mệnh, hay cung an thân mà mở rộng ra tới cung thiên ri, tài và quan. Nhưng có một số người không hiểu lại giàu trí tưởng tượng liền mở rộng cho các cung khác nữa, có biết đâu rằng do hạn chế bởi sự mất cân đối của ngũ hành, nên sự mở rộng càng lớn thì tính mất cân đối càng lớn và do đó tính phi lý càng rõ nét, đưa tới sự vận dụng ngày càng mơ hồ hơn, gượng ép hơn.
Hơn hết là cho dù sự mở rộng hợp lý, nó vẫn gặp những trở ngại không vượt qua được. Thực tế là phương pháp định cách cục dừng lại ở đây rồi lại loanh quanh trở về với phép hội sao và kết hợp cả hai. Nhưng lối thoát vẫn không thể có, người đời không chịu dừng lại và thế là cách mạng, là sáng tạo. Nhưng hầu hết đều nhằm vào cải tiến cách luận và trên cơ sở đó mà đưa thêm nhiều thông số, nhiều biến hóa của cách cục, tinh đẩu. Phép lưu tứ hóa, phép thái tuế, phép hóa khí, … tất thảy chỉ là những phép nhằm giải quyết vấn đề là do phép định cách cục bị hạn chế, nên phải mở rộng “phạm vi hoạt động” của cách cục, sao cho cải thiện được cái điều kiện thứ nhất là xác xuất khả dĩ lớn nhất – tức là sẽ khắc phục sự mơ hồ của tâm linh phần nào – và khả dụng lớn nhất vì khi cho cách cục biến hóa thì cái kinh nghiệm sống, sự trải đời của người giải đoán mới có “đất dụng võ”.
Như thế, giải đoán đã phát triển thành hai hướng, hướng nâng cấp phép định cách cục và Hướng thứ hai là mở rộng phạm vi hoạt động của cách cục. Rõ ràng hướng thứ hai rất dễ được chấp nhận, và thực tế nó đã được hào hứng tiếp đón. Nhưng rút cục, tình hình tuy có được cải thiện, song vấn nạn vẫn còn đó.
Tổ tiên phái đông a – bằng con đường riêng của minh – đã phát minh ra sao treo. Nhưng giữ thật kỹ. Cho nên, mặc cho đời xoay chuyển, càn khôn nổi sóng gió thế nào Nó vẫn lẳng lặng giữ yên “một bờ cõi”. Thiên hạ bàn tán xôn xao, tò mò hay chọc ngoáy, Nó vẫn sản sinh ra những lời đoán thần kỳ. Ẩn hiện như rồng lượn khiến người đời ngưỡng mộ mà phải liệt nó vào những giai thoại. Phương pháp sao treo, vượt lên phép nòng cốt – mặc dù sự ra đời của sao treo chưa chắc đã là do sự khắc phục hạn chế của các phép định cách cục trên – mà là do họ đã hiểu được bản chất thực của tử vi. Nhưng tự nhiên, nó giải quyết được hàng loạt vấn nạn của môn tử vi. Song, nó vẫn im lặng. Nó trở thành bí truyền.

 

Phương pháp mệnh chủ tiếp nối nền tảng của phép treo sao. Có vậy thôi. Không nên thấy nó có chữ mệnh chủ mà ngộ chữ rồi hỏi thế còn thân chủ đâu rồi !