GIẢI MÃ KỲ MÔN-  PHÙ ĐẦU, TRỰC PHÙ VÀ TRỰC SỬ

GIẢI MÃ KỲ MÔN-  PHÙ ĐẦU, TRỰC PHÙ VÀ TRỰC SỬ

Bí quyết xác định nguyên cục và sự vận hành của sao - cửa


Phần 1: Giải thích về Phù Đầu - Khởi đầu của Thượng Nguyên

Nguyên văn:

Phù đầu giả ; hợp thượng nguyên thủ giáp dã . Giáp tử , kỷ mão , giáp ngọ , kỷ dậu tứ nhật vi phù đầu . Cái nhất khí thống tam nguyên , phân thượng trung hạ tam cục , nhất cục thống ngũ nhật , ngũ nhật thống lục thập thời vi nhất kỉ . Nhất kỉ tức nhất nguyên kỉ pháp .

Dịch:
Phù Đầu là vị Giáp đứng đầu của Thượng Nguyên. Bốn ngày Giáp Tý, Kỷ Mão, Giáp Ngọ, Kỷ Dậu được gọi là Phù Đầu. Bởi vì một khí (tiết khí) thống ba nguyên, phân thành ba cục Thượng - Trung - Hạ. Một cục thống năm ngày, năm ngày thống sáu mươi giờ, tạo thành một kỷ (một vòng). Một kỷ chính là một nguyên, đó là phép tính kỷ (chu kỳ) của nguyên.

Nguyên văn:

Dĩ thập can gia thập nhị chi , thủ vĩ tương hợp vi nhất chung . Can dĩ giáp vi thủ , quý vi vĩ . Hựu dĩ tử vi thủ , hợi vi vĩ . Cố tự giáp tử chí quý hợi , hợp đắc lục thập vi nhất kỉ , vị chi nhất nguyên , kì môn tuyển thời chi pháp dã .

Dịch:
Lấy mười Thiên Can phối với mười hai Địa Chi, đầu và cuối kết hợp với nhau tạo thành một vòng trọn vẹn. Can lấy Giáp làm đầu, Quý làm cuối. Lại lấy Tý làm đầu, Hợi làm cuối. Vì vậy, từ Giáp Tý đến Quý Hợi, tổng cộng 60 (giờ) tạo thành một kỷ, gọi là một nguyên. Đó là phép chọn thời gian của Kỳ Môn.

Nguyên văn:

Thời phi nhật bất năng đắc nguyên , nguyên phi khí bất năng đắc cục , thị dĩ nhất khí thống tam nguyên vi tam cục , phân thượng trung hạ dĩ biệt chi , tái biệt vi chu , tái chu vi biến , cố chung thập nhị kỉ . Nhi thiên địa chi khí , thị dĩ vị chi lục khí dã .

Dịch:
Giờ không có ngày thì không thể xác định được nguyên, nguyên không có khí (tiết khí) thì không thể xác định được cục. Vì vậy, một khí thống ba nguyên thành ba cục, phân biệt là Thượng - Trung - Hạ để phân biệt chúng. Lại phân biệt thành vòng (chu), vòng lại biến hóa, cho nên kết thúc mười hai kỷ. Mà khí của trời đất, vì thế gọi là "lục khí".

Nguyên văn:

Phàm biến khí nhất , thống tiết khí tứ , cố tứ phân nhật kỉ dĩ khởi các khí chi nguyên . Dụng giáp kỷ nhị can độn khởi giáp tử thời vi nguyên thủ , nhị can gia trọng vi thượng , gia mạnh vi trung , gia quý vi hạ . Dĩ trọng chi giáp kỷ tứ nhật , độn khởi giáp tử thời , hợp thời kỉ thượng nguyên chi thủ , cố viết : phù đầu dã .

Dịch:
Phàm một "biến khí" thống bốn tiết khí. Vì vậy, lấy bốn ngày làm ranh giới để khởi đầu các nguyên của mỗi khí. Dùng hai can Giáp và Kỷ, độn khởi giờ Giáp Tý làm đầu nguyên. Hai can Giáp Kỷ gặp chi Tý, Ngọ, Mão, Dậu (tứ trọng) thì là Thượng Nguyên; gặp chi Dần, Thân, Tỵ, Hợi (tứ mạnh) thì là Trung Nguyên; gặp chi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi (tứ quý) thì là Hạ Nguyên. Lấy bốn ngày Giáp Kỷ ở chi trọng (Tý, Ngọ, Mão, Dậu) độn khởi giờ Giáp Tý, hợp với thời kỷ của Thượng Nguyên, vì vậy gọi là Phù Đầu.

Tóm lược Phù Đầu:

 
 
Phù Đầu (Ngày)Thuộc NguyênGhi chú
Giáp Tý, Kỷ MãoThượng NguyênGiáp, Kỷ + (Tý, Mão)
Giáp Ngọ, Kỷ DậuThượng NguyênGiáp, Kỷ + (Ngọ, Dậu)
(Giáp Thìn, Kỷ Mùi...)Trung NguyênGiáp, Kỷ + (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi)
(Giáp Dần, Kỷ Tỵ...)Hạ NguyênGiáp, Kỷ + (Dần, Thân, Tỵ, Hợi)

Giải thích:
Phù Đầu là những ngày bắt đầu cho một Thượng Nguyên trong một tiết khí. Vì mỗi tiết khí kéo dài 15 ngày, được chia làm ba nguyên (mỗi nguyên 5 ngày). Để biết ngày bắt đầu của Thượng Nguyên là ngày nào, người xưa căn cứ vào quy tắc: ngày có can Giáp hoặc Kỷ, và chi là Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Đây là một trong những bước đầu tiên và quan trọng nhất để chọn cục Kỳ Môn.


Phần 2: Giải thích về Trực Phù và Trực Sử - Linh hồn của sự vận hành

Nguyên văn:

Phù sử giả ; tinh môn dụng thời chi dị danh dã . Trực giả ; đại giáp nhi trực kỳ dụng dã . Giáp dĩ tinh môn vi thể , dĩ kì nghi vi dụng , cố kì nghi vô định vị , nhi tinh môn hữu định cung dã .

Dịch:
Trực Phù và Trực Sử là tên gọi khác của Sao và Môn khi sử dụng theo thời gian. "Trực" có nghĩa là thay mặt cho Giáp để đảm trách công việc. Giáp lấy Sao và Môn làm thể (nền tảng), lấy Kỳ và Nghi làm dụng (ứng dụng). Vì vậy, Kỳ và Nghi không có vị trí cố định, còn Sao và Môn thì có cung cố định.

Nguyên văn:

Tinh vi phù giả , tức bằng chấp chi phù dã . Môn vi sử giả , tức giáp tuần hành chi sử dã . Cố phàm giáp tại chi cung , tức dĩ trực cung chi tinh vi phù , dĩ trực cung chi môn vi sử dã .

Dịch:
Sao được gọi là "Phù" (phù hiệu), tức là vật làm tin. Môn được gọi là "Sử" (sứ giả), tức là sứ giả của Giáp tuần hành. Vì vậy, phàm nơi Giáp ở cung nào, thì lấy sao của cung đó làm Trực Phù, lấy cửa của cung đó làm Trực Sử.

Nguyên văn:

Can bổn thập dã , dĩ phối thập nhị chi , nhi biến vi lục thập can , cố giáp xưng lục nhi nghi diệc xưng lục dã . Kì nghi giả cửu can chi thể . Lục thập can giả kì nghi chi dụng dã . Cố kì nghi tùy nguyên phân chức cửu cung , nhi lục thập can diệc tùy nguyên phân độn cửu cung dã .

Dịch:
Can vốn có 10, phối với 12 chi, biến thành 60 can. Vì vậy Giáp gọi là "Lục Giáp" và Nghi cũng gọi là "Lục Nghi". Kỳ và Nghi là thể của chín can (Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý). Sáu mươi can là dụng của Kỳ và Nghi. Vậy nên Kỳ và Nghi tùy theo nguyên mà phân công ở chín cung, và sáu mươi can cũng tùy theo nguyên mà phân độn vào chín cung.

Nguyên văn:

Lục thập can phân độn cửu cung , tắc lục giáp can thủ diệc tại kỳ trung . Hà dĩ khái ngôn vi kì nghi chi dụng dã . Cái dĩ thân tiên chi nhi phân kỳ thế dĩ nhược chi dã . Nhược lục giáp bất suất ngũ thập tứ can phân , độn tắc các can các tụ ư nhất cung , phi sở vị cường mộc nhược kim dã , hà dã ? Dĩ thủy nhược kim nhi cường mộc giả dã .

Dịch:
Sáu mươi can phân độn vào chín cung, thì sáu can đầu của Lục Giáp cũng nằm trong đó. Tại sao nói khái quát đó là dụng của Kỳ và Nghi? Bởi vì lấy thân (Giáp) đi trước để phân tán thế lực, làm cho nó yếu đi. Nếu Lục Giáp không dẫn dắt 54 can khác phân độn, thì các can sẽ tụ lại một chỗ, không phải là cái gọi là "mộc mạnh kim yếu". Tại sao vậy? Bởi vì Thủy (Nhâm, Quý) làm yếu Kim (Canh, Tân) và làm mạnh Mộc (Giáp, Ất).

Phân tích Lục Giáp độn Lục Nghi (Sự tương quan 60 can):

Đoạn này giải thích ý nghĩa sâu xa của việc Giáp độn vào Nghi và sự phối hợp của 60 can.

Nguyên văn:

Cố phàm giáp tại chi cung , nhi quý triếp lâm chi .

  • Sở dĩ giáp tử độn mậu , nhi quý dậu diệc độn mậu . Kim đạo thổ dĩ sinh thủy dã .

  • Giáp tuất độn kỷ , nhi quý vị diệc độn kỷ . Thổ tương bỉ dĩ cầu ích dã .

  • Giáp thân độn canh , nhi quý tị diệc độn canh . Hỏa chế kim dĩ phòng hợp dã .

  • Giáp ngọ độn tân , nhi quý mão diệc độn tân . Mộc trợ hỏa dĩ chế kim dã .

  • Giáp thần độn nhâm , nhi quý sửu diệc độn nhâm . Thổ tương liên dĩ bại thủy dã .

  • Giáp dần độn quý , nhi quý hợi diệc độn quý . Thủy tương hợp dĩ ích mộc dã .

Dịch:
Phàm Giáp ở cung nào, thì Quý cũng đến cung đó.

  • Giáp Tý độn Mậu, và Quý Dậu cũng độn Mậu. (Kim) khắc Thổ để sinh Thủy? (Giải thích chi tiết bên dưới)

  • Giáp Tuất độn Kỷ, và Quý Mùi cũng độn Kỷ. Thổ với Thổ tương trợ để cầu ích lợi.

  • Giáp Thân độn Canh, và Quý Tỵ cũng độn Canh. Hỏa chế ngự Kim để phòng ngừa sự kết hợp.

  • Giáp Ngọ độn Tân, và Quý Mão cũng độn Tân. Mộc trợ giúp Hỏa để chế ngự Kim.

  • Giáp Thìn độn Nhâm, và Quý Sửu cũng độn Nhâm. Thổ tương liên (liên kết) để làm bại Thủy.

  • Giáp Dần độn Quý, và Quý Hợi cũng độn Quý. Thủy kết hợp với nhau để ích lợi cho Mộc.

Nguyên văn:

Thị dĩ giáp tử quý dậu độn mậu , nhi mậu ứng phối chi thần dữ tử dậu hợp . Giáp tuất quý vị độn kỷ , nhi kỷ ứng phối chi mão dữ tuất vị hợp . Giáp thần quý sửu độn nhâm , nhi nhâm ứng phối chi tý dữ thìn sửu hợp . Giáp dần quý hợi độn quý , nhi quý ứng phối chi hợi , dữ dần hợi bỉ hợp . Duy giáp thân quý tị độn canh , nhi canh ứng phối chi dần , tắc xung thân nhi hại tị , cố tị hỏa khắc canh kim , nhi thân kim hựu khắc dần mộc dã . Giáp ngọ quý mão độn tân , nhi tân ứng phối chi sửu , tắc sinh tân chế mão nhi đạo ngọ . Cố ngọ hỏa khắc tân kim , nhi mão hựu khắc sửu thổ dã thậm hĩ . Dĩ kim chi bất năng vong tình ư mộc dã .

Dịch:
Vì vậy:

  • Giáp Tý và Quý Dậu độn vào Mậu, Mậu phối với Thìn, Tuất, Sửu, Mùi? (cần hiểu: Mậu ứng với chi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, nhưng ở đây nói về sự hợp hóa).

  • Giáp Tuất và Quý Mùi độn vào Kỷ, Kỷ phối với Mão (Giáp Kỷ hợp hóa Thổ).

  • Giáp Thìn và Quý Sửu độn vào Nhâm, Nhâm phối với Tý (Đinh Nhâm hợp hóa Mộc).

  • Giáp Dần và Quý Hợi độn vào Quý, Quý phối với Hợi, Dần và Hợi hợp.

  • Chỉ có Giáp Thân và Quý Tỵ độn vào Canh, Canh phối với Dần, Dần xung với Thân và hại với Tỵ. Vì vậy Tỵ Hỏa khắc Canh Kim, mà Thân Kim lại khắc Dần Mộc.

  • Giáp Ngọ và Quý Mão độn vào Tân, Tân phối với Sửu, Sửu sinh Tân, khắc chế Mão và khắc chế Ngọ. Vì vậy Ngọ Hỏa khắc Tân Kim, mà Mão Mộc lại khắc Sửu Thổ. Điều đó rất nghiêm trọng. Vì Kim không thể nào quên được mối thù với Mộc (Canh khắc Giáp).

Nguyên văn:

Cố nghi thuận nhi kì ứng chi dĩ nghịch , nghi nghịch nhi kì ứng chi dĩ thuận hữu dã . Hoặc viết giáp độn ư nghi , bất năng độn ư kì , hà dĩ ngôn vi kì nghi chi dụng dã . Cái dĩ tĩnh vi thể , dĩ động vi dụng dã . Kì nghi chi ư quái vô định vị , ư cục hữu định vị dã . Hữu định cung tắc vị chi tĩnh , cố viết kì nghi vi cửu can chi thể dã . Lục giáp tùy nguyên độn ư nghi , cố kì hợp , lục nghi chi can diệc tùy giáp độn ư cung . Độn tắc phi tĩnh hĩ , cố viết lục can vi kì nghi chi dụng dã .

Dịch:
Vì vậy, khi Nghi đi thuận thì Kỳ ứng theo nghịch, khi Nghi đi nghịch thì Kỳ ứng theo thuận, đó là có lý do. Có người hỏi: Giáp độn vào Nghi, không độn vào Kỳ, sao lại nói là "dụng của Kỳ và Nghi"? Bởi vì lấy tĩnh làm thể, lấy động làm dụng. Kỳ và Nghi đối với quẻ (bát quái) thì không có vị trí cố định, nhưng đối với cục thì có vị trí cố định. Có cung cố định thì gọi là tĩnh, vì vậy nói Kỳ và Nghi là thể của chín can. Lục Giáp tùy theo nguyên mà độn vào Nghi, cho nên Kỳ kết hợp, sáu can của Lục Nghi cũng theo Giáp mà độn vào cung. Độn thì không còn tĩnh nữa, vì vậy nói sáu can (Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) là dụng của Kỳ và Nghi.

Nguyên văn:

Phu lục giáp bất độn ư lục nghi , tắc cửu tinh bất năng trực kỳ phù , cửu can bất độn ư cửu cung , tắc bát môn bất đắc trực kỳ sử . Ca viết : trực phù thường dĩ gia thời can , trực sử nghịch thuận thời chi khứ . Vị mỗi giáp dụng thời , dĩ đương trực chi tinh phù , lâm kì nghi bổn cục chi định vị , dĩ đương trực chi môn sử , tuần kì nghi bổn nguyên chi độn cung dã .

Dịch:
Nếu Lục Giáp không độn vào Lục Nghi, thì Cửu Tinh không thể làm Trực Phù. Nếu chín can không độn vào chín cung, thì Bát Môn không thể làm Trực Sử. Ca quyết rằng: "Trực Phù thường dĩ gia thời can, Trực Sử nghịch thuận thời chi khứ" (Trực Phù thường lấy can giờ để gia, Trực Sử theo chi giờ mà đi thuận hoặc nghịch). Ý nói mỗi Giáp khi sử dụng thời gian, lấy ngôi sao đương trực làm phù, đến gặp vị trí cố định của Kỳ Nghi trong cục; lấy cửa đương trực làm sứ, tuần hành theo cung độn của Kỳ Nghi trong nguyên.

Nguyên văn:

Thí chi dụng nhân , kỳ nhân thể tại thử , nhi dĩ phù giám chi , kỳ nhân dụng tại bỉ , nhi dĩ sử sát tri , tắc hà sở vi nhi bất thiện tai . Cố vân : thiện tàng kỳ dụng , dĩ cảnh giới vô ngu dã .

Dịch:
Ví như việc dùng người. Thể của người ấy ở đây, dùng phù (phù hiệu) để giám sát. Cái dụng của người ấy ở kia, dùng sứ (sứ giả) để quan sát. Như vậy thì làm gì mà chẳng tốt? Cho nên nói: Khéo léo cất giấu cái dụng của mình, để đề phòng và răn mà không có sai lầm.


Lời kết

Ba phần vừa trình bày đã làm sáng tỏ ba khái niệm then chốt trong hệ thống Kỳ Môn:

  1. Phù Đầu: Là chiếc chìa khóa để mở cánh cửa xác định Thượng - Trung - Hạ Nguyên trong một tiết khí. Hiểu được quy tắc "Giáp Kỷ gặp Tý Ngọ Mão Dậu là Thượng Nguyên" giúp người học không còn lúng túng khi bắt đầu an cục.

  2. Trực Phù - Trực Sử: Đây là "linh hồn" vận hành theo thời gian. Trực Phù (sao) đại diện cho thể của Giáp, cố định ở cung; Trực Sử (cửa) đại diện cho dụng của Giáp, di chuyển theo giờ. Công thức "Trực Phù gia thời can, Trực Sử tùy thời chi" chính là mấu chốt của toàn bộ hệ thống xoay chuyển tinh - môn theo thời gian.

  3. Lục Giáp Độn Lục Nghi: Không chỉ đơn thuần là sắp xếp vị trí, mà còn ẩn chứa triết lý sinh khắc sâu xa. Việc "độn" Giáp vào các vị Nghi (Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) không chỉ giải quyết bài toán 10 can - 9 cung, mà còn tạo ra một cấu trúc "chế hóa" tuyệt vời: Mậu Kỷ (Thổ) sinh Canh Tân (Kim) để tiết bớt khí của Kim, Nhâm Quý (Thủy) tiết khí Kim để sinh Mộc (Giáp). Mục đích cuối cùng là làm suy yếu kẻ khắc Giáp (Canh), bảo vệ Giáp một cách gián tiếp nhưng hiệu quả.

Sự kết hợp giữa Phù Đầu (xác định cục), Trực Phù - Trực Sử (vận hành sao cửa) và Lục Nghi Độn Lục Giáp (cấu trúc nội tại) đã tạo nên một hệ thống dự đoán và lựa chọn thời gian vô cùng chặt chẽ, logic, xứng đáng là "thiên cơ" của thuật số phương Đông.