Giải thích toàn văn về Tiểu Lục Nhâm
Giải thích toàn văn về Tiểu Lục Nhâm
Tiểu Lục Nhâm, dân gian lưu truyền khá nhiều, nhưng phần lớn không phải là bản chính thực. Có một số cuốn thông thư gọi Tiểu Lục Nhâm là "Chư Cát Khổng Minh Mã Tiền Khóa". Trong "Ngọc Hạp Ký" có ghi lại hai cách khởi của Tiểu Lục Nhâm, một là "Lý Thuần Phong Lục Nhâm Thời Khóa", hai là "Lục Ngột Luân Kinh", chỉ khác nhau về cách khởi và tên gọi. Dù là Tiểu Lục Nhâm, Chư Cát Khổng Minh Mã Tiền Khóa, Lý Thuần Phong Lục Nhâm Thời Khóa hay Lục Ngột Luân Kinh, thực ra đều đại đồng tiểu dị, đều là do người đời sau gán ghép, thêm thắt. Bản thân tôi cho rằng gọi là Tiểu Lục Nhâm cũng có chỗ không ổn.
Thuật Tiểu Lục Nhâm trong dân gian được truyền tụng là thần kỳ, được xem là phương pháp dự đoán nhanh nhất, có thể lập tức phán đoán, thấy ngay vấn đề cốt lõi, nói trúng ngay trọng tâm. Nó không phức tạp như Kỳ Môn, Thái Ất và Đại Lục Nhâm. Phàm là đạo lớn thì đơn giản, trí tuệ lớn trông như ngốc. Trong khi Kỳ Môn, Thái Ất và Đại Lục Nhâm đều tuân theo nguyên tắc xem xét tổng thể, toàn cục để suy đoán sự việc, cố gắng bao quát mọi mặt. Việc phân rõ chính, phụ rất khó, do đó khó có thể phán đoán nhanh chóng. Phàm mọi việc đều có đường tắt, phương pháp giản tiện, Tiểu Lục Nhâm chính là phương pháp đường tắt, nó đi thẳng vào vấn đề, trực tiếp nắm bắt mâu thuẫn chính để tiến hành phân tích và phán đoán nhanh chóng. Vì vậy, tôi rất yêu thích phương pháp này, thường xuyên nghiên cứu và tìm thấy niềm vui vô tận trong đó. Nhưng bản chính thực lưu truyền rất ít, kể cả tôi cũng chưa có duyên được thấy.
Tiểu Lục Nhâm được nhiều người biết đến với tên gọi của sáu vị thần là: Đại An (Thanh Long) - Lưu Liên (Huyền Vũ) - Tốc Hỷ (Chu Tước) - Xích Khẩu (Bạch Hổ) - Tiểu Cát (Lục Hợp) - Không Vong (Câu Trần), thứ tự sắp xếp cố định. Cách khởi cụ thể thì không cần nói nhiều, tìm kiếm trên mạng có rất nhiều. Có nhiều cách khởi khóa, cũng rất đơn giản, then chốt chính là cách đoán khóa. Lời quyết và câu đoán trong dân gian lưu truyền rất ít, chỉ có tám câu. Trên mạng cũng có người tiết lộ bản chính thực của Tiểu Lục Nhâm với các câu thơ đầy đủ. Cá nhân tôi chỉ thấy được một phần, chưa thấy toàn bộ. Nói là bản chính thực, nhưng chưa tận mắt thấy toàn bộ thì cũng không đủ cơ sở để tin, độ chính xác còn cần được kiểm chứng. Nếu có người có phúc, có thể công bố bản chính thực ra công chúng, thực sự là công đức vô lượng.
Có người khi nghiên cứu Tiểu Lục Nhâm đã phát hiện ra rằng cách sắp xếp sáu vị thần sát trong dân gian có sự nhầm lẫn, vì vậy dẫn đến việc chiếm đoán khó có thể chính xác. Cách sắp xếp đúng là: Xích Khẩu (Bạch Hổ) - Tiểu Cát (Lục Hợp) - Lưu Liên (Huyền Vũ) - Tốc Hỷ (Chu Tước) - Không Vong (Câu Trần) - Đại An (Thanh Long), được sắp xếp dựa trên nguyên lý âm dương và sự tương hợp, tương xung của mười hai địa chi.
Không biết phải chăng người xưa cố ý sắp xếp sai thứ tự sáu vị thần để che giấu phương pháp thực sự, nhằm đề phòng người ngoài học trộm. Cho dù có có được cách dùng và khẩu quyết thực sự, nhưng thứ tự sáu vị thần đã bị sắp xếp sai là điều bí mật, nếu không nói ra thì ai có thể biết được? Thứ tự sắp xếp sáu vị thần ban đầu quả thực đáng ngờ, còn chờ chúng ta nghiên cứu thêm.
Dù sắp xếp theo cách nào, thì thứ tự bấm đốt tay theo vòng tròn "gốc ngón trỏ - đầu ngón trỏ - đầu ngón giữa - đầu ngón áp út - gốc ngón áp út - gốc ngón giữa" là không thay đổi.
Tháng: Tháng giêng, tháng hai, …, tháng mười hai.
Ngày: Mùng một, mùng hai, …, 28 (29, 30).
Giờ: Dùng 12 địa chi để biểu thị:
(1) Giờ Tý (23h - 1h)
(2) Giờ Sửu (1h - 3h)
(3) Giờ Dần (3h - 5h)
(4) Giờ Mão (5h - 7h)
(5) Giờ Thìn (7h - 9h)
(6) Giờ Tỵ (9h - 11h)
(7) Giờ Ngọ (11h - 13h)
(8) Giờ Mùi (13h - 15h)
(9) Giờ Thân (15h - 17h)
(10) Giờ Dậu (17h - 19h)
(11) Giờ Tuất (19h - 21h)
(12) Giờ Hợi (21h - 23h)Sáu vị thần: Lần lượt là Đại An, Lưu Liên, Tốc Hỷ, Xích Khẩu, Tiểu Cát, Không Vong.
Vị trí của sáu cách bấm đốt tay:
(1) Đại An định vị — gốc ngón trỏ
(2) Lưu Liên định vị — đầu ngón trỏ
(3) Tốc Hỷ định vị — đầu ngón giữa
(4) Xích Khẩu định vị — đầu ngón áp út
(5) Tiểu Cát định vị — gốc ngón áp út
(6) Không Vong định vị — gốc ngón giữa
Thứ tự bấm đốt: (1) Đại An — (2) Lưu Liên — (3) Tốc Hỷ — (4) Xích Khẩu — (5) Tiểu Cát — (6) Không Vong. Thứ tự này luôn cố định.
Giải thích toàn văn về Tiểu Lục Nhâm
Phương pháp dự đoán Tiểu Lục Nhâm rất đơn giản, khi dự đoán chỉ cần lấy thông tin về tháng, ngày, giờ vào thời điểm đó, tuân theo một quy tắc suy tính nhất định, dùng ngón cái tay trái lần lượt bấm theo chiều kim đồng hồ trên sáu đốt tay (vị trí của sáu cách) là biết kết quả. Phương pháp này bắt đầu từ Đại An là tháng giêng, từ tháng khởi ngày, từ ngày khởi giờ. Dưới đây là giải thích chi tiết phương pháp suy tính.
Bước một, trước hết xác định điểm khởi đầu của tháng trên các đốt tay, dùng điểm khởi đầu để suy tính điểm rơi của tháng. Bất kể là tháng mấy, đều lấy "Đại An" làm điểm khởi đầu cho tháng giêng, sau đó theo chiều kim đồng hồ trên sáu vị trí đốt tay, đếm lần lượt theo thứ tự sáu vị thần cho đến khi đếm đến tháng cần xem. Ví dụ tính tháng mười một, bắt đầu từ (1) Đại An → (2) Lưu Liên → (3) Tốc Hỷ → (4) Xích Khẩu → (5) Tiểu Cát → (6) Không Vong → (7) Đại An → (8) Lưu Liên → (9) Tốc Hỷ → (10) Xích Khẩu → (11) Tiểu Cát. Như vậy tháng mười một rơi vào vị trí "Tiểu Cát".
Bước hai, lấy điểm rơi của tháng làm điểm khởi đầu cho ngày, sau đó suy tính điểm rơi của ngày.
Bắt đầu từ điểm rơi của tháng tính là mùng một, cũng theo chiều kim đồng hồ trên sáu vị trí đốt tay, đếm lần lượt theo thứ tự sáu vị thần cho đến khi đếm đủ số ngày, vị trí đốt tay đó chính là điểm rơi của ngày. Ví dụ ngày mười tháng mười một. Trước đó đã biết tháng mười một rơi vào vị trí nào trên đốt tay. Mùng một là Tiểu Cát, mùng hai là Không Vong, mùng ba là Đại An, mùng bốn là Lưu Liên, mùng năm là Tốc Hỷ, mùng sáu là Xích Khẩu, mùng bảy là Tiểu Cát, mùng tám là Không Vong, mùng chín là Đại An, mùng mười rơi vào vị trí "Lưu Liên". Một ví dụ khác: ngày 23 tháng ba. Tháng ba rơi vào "Tốc Hỷ", ngày 23 rơi vào "Đại An".
Bước ba, lấy điểm rơi của ngày làm điểm khởi đầu cho giờ, suy tính điểm rơi của giờ. Nguyên lý tương tự, không cần giải thích thêm.
Phương pháp lấy số từ tháng, ngày, giờ để suy tính như trên là phương pháp chính thống. Xét từ góc độ con số, tháng, ngày, giờ chỉ là ba con số. Chúng ta có thể dùng phương pháp khác tùy ý lấy ba con số bất kỳ để thay thế cho tháng, ngày, giờ nhằm dự đoán, hiệu quả cũng tương tự. Cách lấy số có thể thay đổi muôn hình vạn trạng, không câu nệ bất kỳ hình thức nào. Ví dụ như tùy ý viết (báo) ba con số, hoặc viết ba chữ Hán (cần tính số nét bút chính quy của từng chữ), hoặc rút ngẫu nhiên ba lá bài Tây, v.v... Tóm lại, chỉ cần có thể chuyển hóa thành số, phương pháp có thể tùy ý thiết kế, nghĩ đến cách nào dùng cách đó. Phương pháp lấy số từ tháng, ngày, giờ khi vận dụng thực tế có hạn chế lớn, ví dụ như trong cùng một giờ có nhiều người cùng nhờ xem thì phương pháp này bất lực. Phương pháp lấy số linh hoạt thay đổi trong cùng một thời điểm có thể giải quyết vấn đề này, việc lấy số trở nên linh hoạt và tiện lợi hơn. Qua nhiều thực hành, hiệu quả rất tốt.
