Thiên Nhâm Tinh
Thiên Nhâm Tinh
Đặc điểm của Thiên Nhâm Tinh
Sao này ứng với cung Cấn Bát (phương Đông Bắc), là Dương tinh, ngũ hành thuộc Thổ. Người xưa cho rằng Thổ có thể sinh ra vạn vật, lại đang vào mùa xuân vạn vật nảy nở, nên gọi là sao lành (Cát tinh). Nếu Thiên Nhâm Tinh lâm vào cung nào đó, thì thích hợp để thông danh tiến kiến, đàm phán kinh doanh, cầm quân đánh trận đều tốt đẹp quanh năm, được các bề trợ giúp, kẻ địch tự hàng. Có lợi cho việc cưới gả, kiện tụng, trăm việc đều tốt.
Người được dự đoán vận mệnh cả đời mà cung rơi có tổ hợp Thiên Nhâm Tinh và Lục Hợp (chú thích: Lục Hợp đại diện cho sức hút, thân thiện) thì tất sẽ là người thành thật hòa nhã, dễ tạo được lòng tin, thích hợp làm người hòa giải mâu thuẫn. Khi dự đoán sự nghiệp, người có Thiên Nhâm Tinh, dù cung của họ có tổ hợp với các sao lành, cửa lành như Trực Phù, Lục Hợp, Khai Môn, Hưu Môn, cũng không phải là người làm nên đại nghiệp, vì phần lớn người có sao này là người an phận, bảo thủ, thiếu tinh thần khai phá. Nhưng cũng có ngoại lệ, đó là khi làm các ngành như khai thác mỏ, khai sơn lấy đất, lập nông trường... thì lại phát huy được thế mạnh sẵn có, nên xem là tốt lành, bởi Thiên Nhâm Tinh thuộc Thổ và bản thân nó mang ý nghĩa của núi. Đương nhiên, nếu cung của người được xem có tổ hợp Thiên Nhâm và Thương Môn (chú thích: Thương Môn đại diện cho sức cạnh tranh mạnh), thì cho thấy người này vừa thực tế vừa có năng lực, là nhân tài hiếm có, bởi tính cách có sự bổ trợ ưu điểm của sao và cửa.
Thiên Nhâm Tinh cũng đại diện cho chân chữ X, cũng như biến dạng cong ngược của đốt sống cổ và cột sống, và được suy rộng ra là thiếu canxi. Khi dự đoán sức khỏe, nếu cung của người được xem (đặc biệt là người già và trẻ em) có Thiên Nhâm Tinh, lại kèm thêm các vấn đề như Kích Hình, Môn Phá, Nhập Mộ, có thể suy đoán người đó mắc phải một trong các chứng bệnh sinh lý kể trên, và nguyên nhân là do thiếu canxi, bởi vì sự biến dạng ở cột sống, đốt sống cổ của người già và tình trạng chân vòng kiềng ở trẻ em phần lớn có liên quan đến việc thiếu canxi. Khi xem phong thủy dương trạch từ xa (không đến tận nơi), nếu Thiên Nhâm Tinh rơi vào cung Khôn Tây Nam, và lần lượt xuất hiện các tổ hợp ký hiệu mang ý nghĩa uốn cong như Đằng Xà, chữ Kỷ..., có thể suy đoán rằng phía Tây Nam của ngôi nhà đó là cầu thang bộ. Nếu rơi vào các cung khác thì cũng suy luận tương tự. Từ mô tả này, chúng ta có thể thấy, ý nghĩa tượng trưng của Thiên Nhâm Tinh được lưu truyền hiện nay khá nhiều. Tuy nhiên, nhìn chung, cách lấy tượng của sao này dựa trên hai phương diện: Một là từ chữ "Nhâm" (任) để lấy tượng, như chịu khó chịu khổ, người thật thà, người tốt, cam chịu, gánh vác, những sự vật bị người khác giày xéo...; Hai là từ quẻ Cấn để lấy tượng, bởi vì bản cung của Thiên Nhâm Tinh là Cấn Bát (phương Đông Bắc), như khai thác mỏ, khai sơn lấy đất, lập nông trường, núi, hình vòm, cầu vòm, cổng vòm, đội người khác (cõng), phụ nữ mang thai, hình cánh cung ngược, chân vòng kiềng, cầu thang bộ, v.v.
Ý nghĩa tượng trưng
Ngũ hành: Cấn Thổ
Trạng thái theo mùa: Mùa xuân: tù, Mùa hạ: phế, Mùa thu: vượng, Mùa đông: hưu, Tháng cuối mùa: tướng
Trạng thái theo Cửu cung: Cung Chấn Tốn: tù, Cung Ly: phế, Cung Càn Đoài: vượng, Cung Khảm: hưu, Cung Khôn Cấn: tướng
Khái niệm: Dương tính, thiếu nam (con trai nhỏ), chịu khó chịu khổ, cần cù vững chắc, khuôn phép, cố chấp, ngăn trở do dự, chờ đợi, sợ vợ.
Hình thái: Hình vòm, còng lưng gù lưng, ngực nở nang, dáng vẻ già nua, râu ria, khởi đầu của vạn vật, kết thúc của vạn vật.
Nên kiêng: Thiên Nhâm là nhà giàu có. Cầu quan, cưới gả, di chuyển, kinh doanh, mọi việc đều tốt. Trăm việc đều lành, bốn mùa đều thích hợp.
Tính tình: Trung hậu thật thà, chịu khó chịu khổ, ngoan cường cố chấp, không có tinh thần khai phá.
Bộ phận cơ thể: Tay, ngón tay, xương cốt, da, cột sống, mũi, đuôi, mông.
Động vật: Trâu, hổ, chó, chuột, báo, lạc đà, lừa, cáo, chim chóc.
Nhân vật: Người gù lưng, học việc, người làm công, kẻ cố chấp, học sinh, người hiền, cảnh vệ, người gác cổng, bảo vệ, nông dân, địa chủ, người gù lưng, người ngực to, vận động viên leo núi, nghệ sĩ piano.
Thực vật: Bông lúa, cây lúa, kê, cây liễu rủ, cây leo, cây có gai, cây cỏ gai, quả có gỗ cứng, quả dưới đất (củ).
Địa hình: Cầu vòm, bậc thang, núi non, đường dốc, đồi núi, gò đồi, mồ mả, hang động, làng núi, đường mòn, đường đá, đình đài, khu du lịch.
Vật tĩnh: Nhà cao tầng, căn hộ, cung thất, chùa chiền, miếu quán, tường đá xây, kè (bờ kè), chuông lớn, cây cảnh, cối xay đá, nghiên mực, tranh phong cảnh, bản sao chép, ba lô, cái gùi, bàn ghế.
Thời vận: Thiên Nhâm Tinh là thời cơ thích hợp cho việc hành động bên ngoài, mưu cầu, nhận việc; không nhất thiết là thời cơ tốt cho việc nội sự như chuyển nhà, xây dựng. Vào thời điểm Thiên Nhâm Tinh, thích hợp hướng ra bên ngoài mưu cầu phát triển và tiến thủ, để làm lớn mạnh sự nghiệp của mình; lúc này nếu không tiến thì sẽ bỏ lỡ cơ hội tốt. Lúc này, cần chủ động gánh vác trọng trách, chủ động tìm việc làm thì mới tốt. Vì vậy, đối với cơ thể, Thiên Nhâm Tinh có thể đại diện cho việc không có vấn đề sức khỏe rõ ràng bên trong cơ thể, vận động nhiều là tốt; đối với giao tiếp xã hội, thì cần mở rộng hơn nữa vòng bạn bè và chiều sâu tình cảm; nếu là tình cảm nam nữ, thì cần mạnh dạn tiến tới, bày tỏ, công khai; đối với doanh nghiệp, có thể đại diện cho thời điểm doanh nghiệp cần mở rộng ra bên ngoài, mở rộng quy mô, thông qua nhiều phương pháp như liên kết, hợp nhất, chia tách, chi nhánh, nhân rộng... để mở rộng quy mô từ nhiều mặt, đồng thời cũng cần mở rộng tầm ảnh hưởng của mình, ví dụ như quảng cáo, tuyên truyền trên nhiều phương diện.
Thiên Nhâm Tinh trị mười hai giờ:
Thiên Nhâm là sao tốt mọi việc thông,
Tế tự, cầu quan, cưới gả đồng,
Chém yêu trừ quái, dời nhà việc,
Buôn bán, tạo tác, hỷ trùng trùng.
Giờ Tý: Có mưa gió đến, tiếng chim kêu bên nước, phía Đông Nam có người cầm dao qua làm ứng nghiệm. Sau khi hành sự, trong vòng 100 ngày, vợ bỏ đi, người họ Thủy đến đòi nợ, thoái thác điền sản, sau này sinh con trai hư con gái hư (trộm cắp, làm điếm) là xấu.
Giờ Sửu: Đàn bà mặc áo xanh mang rượu đến, tiếng trống phía Tây làm ứng nghiệm. Sau khi hành sự, trong vòng nửa năm có tài vật từ phương xa đến, trong vòng một năm có chim anh vũ vào nhà, do kiện tụng (cãi vã) mà được tiền, ba năm sau chó mèo cắn nhau, chủ nhà đỗ đạt là tốt.
Giờ Dần: Đàn bà thành đôi đến hoặc cầm lửa đến, trẻ con vỗ tay cười lớn làm ứng nghiệm. Sau khi hành sự, 60 ngày sau, có tiếng vò (đồ gốm) kêu, ông già chết, trong 100 ngày có súc vật (lục súc) và đàn bà đến, của cải tự đến, ruộng tằm phát triển, sau vì người môi (môi bị hở) mà tranh cãi, việc hôn nhân thất bại.
Giờ Mão: Có người già chống gậy đến, chim khách kêu làm ứng nghiệm. Sau khi hành sự, trong vòng 7 ngày có người đưa đồ đồng sắt đến, trong 60 ngày do đàn bà mà được thêm súc vật (lục súc), đánh bạc thắng, quan lộc đến là tốt.
Giờ Thìn: Có nam nữ mặc áo trắng đi cùng, hoặc phụ nữ có thai bồng con đến làm ứng nghiệm. Sau khi hành sự có người đưa vật sống đến, rất tốt.
Giờ Tỵ: Có hai con chó cắn nhau, người dân quê gánh củi, người làm quan cầm ô đi qua làm ứng nghiệm. Sau khi hành sự, 60 ngày sau được tài vật của người phương xa, người phương Nam mang cá đến, trong vòng một năm sinh quý tử, phát giàu sang là tốt.
Giờ Ngọ: Chim màu vàng từ phương Tây bay đến, nhà sư và nhà nho đi cùng làm ứng nghiệm. Sau khi hành sự, 40 ngày sau được của cải quý nhân, người mặc áo tía vào nhà, sinh quý tử là tốt.
Giờ Mùi: Chim trắng từ phương Tây Nam bay đến, tiếng chuông trống phương Bắc làm ứng nghiệm, có mưa gió đến. Sau khi hành sự, 7 ngày sau, đàn bà phương ngoài đưa đồ trắng hoặc giấy trắng đến, chủ về súc vật (lục súc) hưng thịnh.
Giờ Thân: Mưa gió lớn bất chợt đến, người đánh trống, nhà sư mặc áo vàng làm ứng nghiệm. Sau khi hành sự, trong vòng 7 ngày, đàn bà bị lửa thiêu, tán gia bại sản là xấu.
Giờ Dậu: Nhà sư, ni cô cầm lửa từ phương Tây Nam đến, tiếng chuông trống phương Bắc làm ứng nghiệm. Sau khi hành sự, trong vòng 70 ngày được tài vật của quan lại, được trâu ngựa, tin vui đến, rất tốt, tiền tài phong phú, lợi lớn.
Giờ Tuất: Đàn bà ôm vải đến, tiếng trống phía Tây Bắc, cây cối phía Bắc làm hại người làm ứng nghiệm. Sau khi hành sự, trong vòng 60 ngày rắn cắn người, xấu. Nếu có người già và trẻ nhỏ cùng đến, thì giải trừ họa thành phúc.
Giờ Hợi: Tiếng khánh (nhạc khí) phía Tây vang lên, người cầm lửa la hét làm ứng nghiệm. Sau khi hành sự, trong vòng một năm do cứu hỏa hoạn mà được lợi lớn.
