HAI TRƯỜNG HỢP PHÁN ĐOÁN THỜI CAN NHẬP MỘ KHI DỰ ĐOÁN
HAI TRƯỜNG HỢP PHÁN ĐOÁN THỜI CAN NHẬP MỘ KHI DỰ ĐOÁN – CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CÁCH CỤC KỲ MÔN THỰC TẾ HAY KHÔNG?
I. THỜI CAN NHẬP MỘ
Thời Can nhập mộ thực ra có hai trường hợp, nhiều người thường nhầm lẫn hai điều này.
Trường hợp thứ nhất:
Tức là thiên can của thời điểm dụng sự rơi đúng vào mộ địa của địa chi của chính thời điểm đó, không liên quan đến cách cục Kỳ Môn thực tế, mà chỉ liên quan đến thời gian. Ví dụ:
Bính Tuất thời (giờ Bính Tuất): Bính thuộc Dương Hỏa, mộ của Hỏa là Tuất, do đó Thiên bàn Bính gia Địa bàn Cung Càn (số 6) chính là Thời Can Bính nhập mộ.
Nhâm Thìn thời: Nhâm thuộc Dương Thủy, mộ của Thủy là Thìn, Thiên bàn Nhâm gia Địa bàn Cung Tốn (số 4) → Thời Can Nhâm nhập mộ.
Quý Mùi thời: Quý thuộc Âm Thủy, mộ ở Mùi, Thiên bàn Quý gia Địa bàn Cung Khôn (số 2) → Thời Can Quý nhập mộ.
Mậu Tuất thời: Mậu thuộc Dương Thổ, mộ ở Tuất, Thiên bàn Mậu gia Địa bàn Cung Càn (số 6) → Thời Can Mậu nhập mộ.
Kỷ Sửu thời: Kỷ thuộc Âm Thổ, mộ ở Sửu, Thiên bàn Kỷ gia Địa bàn Cung Cấn (số 8) → Thời Can Kỷ nhập mộ.
Đinh Sửu thời: Đinh thuộc Âm Hỏa, mộ ở Sửu, Thiên bàn Đinh gia Địa bàn Cung Cấn (số 8) → Thời Can nhập mộ.
Trường hợp thứ hai:
Trong bàn Kỳ Môn thực tế được lập, Thiên bàn nghi (lục nghi, tam kỳ) tương ứng với Thời Can rơi vào mộ địa của chính cung đó. Ví dụ: lập một quẻ Kỳ Môn vào giờ Bính Dần, Thiên bàn Bính kỳ rơi đúng vào cung Càn (số 6). Bởi vì Bính đến cung 6 là nhập mộ.
→ Sách cổ nói về trường hợp thứ nhất, còn trường hợp thứ hai thì ít người nói đến.
Về dự đoán tai nạn xe cộ:
Phương pháp phổ biến hiện nay là dùng biển số xe để phân tích dự đoán, có rất nhiều cách khác nhau, khó thống nhất. Theo quan điểm riêng của tôi, lý tưởng nhất là dự đoán dựa vào thời điểm nhận xe (lấy xe), chú trọng mối quan hệ tốt giữa người – xe (thời điểm nhận xe) – điểm đến, như vậy mới nắm được đại cục. Còn va chạm nhỏ nhặt khó tránh khỏi. Ngoài ra, khi đi xa nhất định phải chọn ngày lành; làm việc lớn cũng phải chọn ngày lành.
II. KỲ NGHI TƯƠNG HỢP
Kỳ nghi tương hợp là trong cùng một cung của bàn Kỳ Môn, thiên can của Thiên bàn và Địa bàn vừa đúng là cặp lục hợp (sáu cặp hơp). Cụ thể:
Kỳ hợp (tam kỳ hợp): Ất – Canh, Bính – Tân, Đinh – Nhâm
Nghi hợp (lục nghi hợp): Mậu – Quý, Giáp – Kỷ
Nếu dụng thần dự đoán rơi vào cung gặp kỳ nghi tương hợp, lại được cát môn thì mọi việc có tượng hòa hợp. Xuất binh nên khích lệ sĩ khí, tuyên thệ minh ước, chiêu hàng, thu phục thì tốt lành. Có ý nghĩa hòa bình, hòa giải, chia đều.
III. THIÊN TAM MÔN (Ba cửa trời)
Xuất ngoại tị nạn ra Thiên Môn,
Nguyệt tướng gia thời thuận chuyển luân,
Mão, Mùi, Dậu cung là bến đỗ,
Đại Xung (Mão) hướng ấy rõ phân minh.
Thái Xung (Mão) – Tiểu Cát (Mùi) – Tòng Khuê (Dậu) là Thiên Tam Môn.
Thích hợp cho xuất hành, chinh phạt, tị nạn, trăm việc đều lành.
Nếu bị vây khốn, tin tức không thông, hoặc muốn dò la việc nhỏ, thì lấy Nguyệt tướng (địa bàn nguyệt kiến) gia lên giờ dụng sự, tìm phương vị mà ba vị thần này (Thái Xung, Tiểu Cát, Tòng Khuê) trên Thiên bàn lâm đến, phương nào không bị xung khắc thì đó là đường tắt Thiên Môn, cho phép người ra vào mà không ai phát hiện.
Cách làm: lấy Nguyệt tướng đặt lên giờ dụng sự, thuận tìm đến các cung Mão, Mùi, Dậu – đó chính là Thiên Tam Môn.
