HOÀNG ĐẾ ÂM PHÙ KINH TÂN GIẢI
HOÀNG ĐẾ ÂM PHÙ KINH TÂN GIẢI
Có cư dân mạng đặt câu hỏi liên quan đến Hoàng Đế Âm Phù Kinh. Dưới đây, biên tập viên Dịch Đức Hiên sẽ cung cấp lời giải đáp liên quan đến vấn đề này, hy vọng sẽ hữu ích cho các bạn.
Kinh Âm Phù từ xưa đến nay được mọi người coi là kinh điển của Đạo giáo. Tống, Trương Bá Đoan trong tác phẩm Đan gia "Ngộ Chân Thiên" có nói: "Âm Phù bảo tự quá tam bách, Đạo Đức linh văn mãn ngũ thiên. Kim cổ thượng tiên vô hạn số, tận tùng thử xứ đạt chân thuyên." Có thể thấy nó được tôn sùng lên địa vị cao tột bậc sánh ngang với Đạo Đức Kinh của Lão Tử. Âm Phù Kinh có độ dài khá ngắn, nhưng tư tưởng mà nó hàm chứa lại được so sánh ngang hàng với tư tưởng trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử và Kinh Dịch, Hệ Từ của Khổng Tử, đồng thời được các học giả qua các đời coi trọng. Lý học gia đời Tống là Trình Di từng nói Âm Phù Kinh "dùng trí tuệ riêng mà dò xét trời đất, đánh cắp cơ mấu của trời đất". "Âm Phù" trong lịch sử xuất hiện sớm nhất có lẽ là trong Chiến Quốc Sách và Sử Ký, đều nói Tô Tần đọc Thái Công Âm Phù hoặc Chu Thư Âm Phù, rõ ràng đều là cùng một cuốn sách. Thái Công (Khương Thượng), người khai quốc nhà Chu, cũng có thể gọi là Chu Thư Âm Phù.
Qua các đời, có rất nhiều người chú giải Âm Phù Kinh. Thanh Tứ Khố Toàn Thư có thu nhận của Thái Công (Khương Thượng), Phạm Lãi, Quỷ Cốc Tử, Trương Lương, Gia Cát Lượng, Lý Toàn, nhưng phần lớn các tên tuổi đó đều không có thực, chỉ là mượn danh người nổi tiếng để tăng thêm uy quyền và trọng lượng cho ý kiến của mình. Các nhân vật Nho gia thời sau cũng rất coi trọng nó, như Trình Di, Chu Hy, Từ Đại Xuân, Hạ Nguyên Đính... Đối với ý nghĩa của Âm Phù Kinh, đời Đường Lý Toàn chú giải là: "Âm là tối, tối nghĩa. Phù là hợp. Cơ mấu của trời ngầm hợp với cơ mấu của hành sự, cho nên gọi là Âm Phù." Điều này rất chính xác, cũng được nhiều quan điểm công nhận.
Tư tưởng của Âm Phù Kinh xuất hiện từ thời đại nào không thể khảo chứng, nhiều ý kiến khác nhau. Người giữ quan điểm khác như đời Tống, đạo sĩ Kiển Sướng Thần trong "Hoàng Đế Âm Phù Kinh Giải Tự" có nói: "Từng xem xét các nhà chú giải, lý lẽ mỗi bên một khác, nghĩa chấp vào kiến riêng, chỉ coi Âm Phù là lời dạy của Hoàng Đế. Nhưng xem trong Nội truyện chép, Hoàng Đế được Huyền Nữ trao tinh nghĩa Âm Phù, bên trong hợp với cơ trời, bên ngoài phù hợp với việc người, thì ba trăm chữ thực sự do Huyền Nữ trao, mà trăm chữ là do Hoàng Đế diễn giải, cho nên lời lẽ cô đọng mà ý chỉ xa xôi, nghĩa sâu xa mà lý lẽ uyên thâm. Xem câu 'Hoãn hữu kỳ khí, thị sinh vạn tượng, bát quái giáp tý, thần cơ quỷ tàng, âm dương tương thắng chi thuật, chiêu chiêu hồ tiến hồ tượng hĩ'. Biết được điều này thì nghĩa của Âm Phù đã hết, đời sau không thể thêm vào. Xưa Tây Vương Mẫu giáng ở Vương Ốc sơn, ban binh pháp cho Đế, dùng để chiến đấu với Xi Vưu ở Trác Lộc chi dã." Điều này giống hệt với sự ra đời của kinh Độn Giáp thời Tùy Đường. Đời sau cũng nghi ngờ Âm Phù Kinh chính là Độn Giáp Kinh.
Việc phân chương của Âm Phù Kinh từ xưa đến nay thường chia thành ba thiên: Thượng, Trung, Hạ. Thượng thiên là "Thần tiên bão nhất diễn đạo chương", Trung thiên là "Phú quốc an dân diễn pháp chương", Hạ thiên là "Cường binh chiến thắng diễn thuật chương". Nếu Âm Phù Kinh chính là Độn Giáp Kinh thì nó cũng là tác phẩm lý luận dạng văn luận, chứ không phải phương pháp sử dụng cụ thể của Kỳ Môn Độn Giáp. Kỳ Môn Độn Giáp sử dụng tượng, số, lý trong tư tưởng Chu Dịch để mô phỏng vận hành và biến hóa của không – thời gian vũ trụ, từ đó đánh cắp cơ hội có thể thừa thắng để chỉ đạo việc tiến lui, công thủ trong quân sự, đạt được mục đích quân sự là chiến thắng. Nguồn gốc của Kỳ Môn Độn Giáp cũng đại thể giống với Âm Phù Kinh. Đời Đường, Lý Toàn trong "Thần cơ chế địch Thái Bạch Âm Kinh" dẫn: "Hoàng Đế chinh phạt Xi Vưu bảy mươi hai trận không thắng, ban ngày mộng thấy người vàng dắt đầu dài, áo lông cáo cổ dài nói rằng: Ta là sứ giả của Hoàng Đế Trời, trao phù cho Đế. Hoàng Đế đạt đến tinh túy của đạo, thần của ta nương tựa, tâm của ngài không chỗ trụ, đạm nhiên hợp với vạn vật làm một, đạo trời ghét sự đầy đặn mà ưa sự khiêm tốn. Bèn trao thần phù cho Hoàng Đế và chiến thắng."
Còn trong Đạo Tạng, "Bí tàng thông huyền biến hóa lục âm động vi độn giáp chân kinh, độn giáp thần kinh xuất sơ tự" có chép: Xưa Xi Vưu làm loạn, Hoàng Đế nhiều lần giao chiến không thắng. Đế nói: "Ta nghe Phục Hy trị thiên hạ không dùng binh, nay Xi Vưu chỉ là kẻ thường dân, sinh ra yêu khí, đánh mà không có công, chiến mà không thắng, đó là lỗi của ta." Bỗng nhiên trước mắt có mây ngũ sắc từ trên trời giáng xuống, trong mây có sáu tiên nữ cầm sách, hai đứa trẻ bước ra nói: "Phụng mệnh thánh chỉ của Cửu Thiên Huyền Nữ, gửi tặng ba quyển Độn Giáp Phù Kinh, bảo rằng hãy đánh, nguyện truyền bài văn này. Đó là phúc họa của trời đất, là cát hung của bát quái, biện biến động của phong vân, nhận biết thành bại của khí hậu, xem xét sự hư thực của nhật nguyệt, luận thuận nghịch của âm dương, biết cát hung của sao, hiểu thắng bại của lòng người, thuật này là phép vạn biến vạn hóa vậy." Hoàng Đế bèn có được ba quyển Âm Phù Kinh. Thượng quyển là thuật thần tiên luyện đan bão nhất, nói về phép trường sinh; Trung quyển là phương pháp an bang định quốc, phủ an vương dân; Hạ quyển bàn về việc chiến đấu. Nhờ đó, chiến thắng Xi Vưu ở Trác Lộc chi dã. Độn Giáp chính là phép của Huyền Nữ. Huyền Nữ cũng chính là chòm sao Bắc Đẩu Thất Tinh trong tứ tượng phương Bắc Huyền Nữ tọa, cũng là Lạc Thư Bát Quái Cửu Cung, cấu trúc chủ thể của Kỳ Môn Độn Giáp. Tới đây thì không khó để thấy Âm Phù Kinh chính là Độn Giáp Kinh, có cơ sở sử liệu rõ ràng.
"Đạo" là quy luật tự nhiên của vạn vật trong vũ trụ, nó đúng ở mọi nơi. Việc ba thiên của Âm Phù Kinh là Thần tiên bão nhất diễn đạo, Phú quốc an dân diễn pháp, Cường binh chiến thắng diễn thuật chỉ là sự phân chia theo mục đích theo đuổi và sử dụng khác nhau mà thôi. Đối với việc chú giải kinh này, tôi dùng tư tưởng số thuật Kỳ Môn Độn Giáp để thử vén mở tác phẩm lý luận Đạo giáo này. Được hay mất, mong rộng đường các nhà nghiên cứu quốc học chỉ giáo. "Dịch" nói: Người nhân thấy gọi là nhân, người trí thấy gọi là trí. Đó chính là sự thể hiện của "Đạo" ở những góc độ, tầng bậc khác nhau. Tức kinh này là tác phẩm lý luận của Kỳ Môn, cũng là đại cương.
HOÀNG ĐẾ ÂM PHÙ KINH TÂN GIẢI
QUYỂN THƯỢNG: THẦN TIÊN BÃO NHẤT DIỄN ĐẠO CHƯƠNG
Quan thiên chi đạo, chấp thiên chi hành, tận hĩ.
"Quan" là thấy, là phát hiện. "Đạo" là quy tắc vận hành của vạn vật vũ trụ. Chu Dịch, Hệ Từ hạ: "Thiên địa chi đạo, trinh quán giả dã." Sự hiển hiện của "Đạo" là sự biến hóa bốn mùa trong chu kỳ lịch pháp. Chu Dịch, Hệ Từ thượng: "Dịch dữ thiên địa chuẩn, cố năng di luân thiên địa chi đạo, ngưỡng dĩ quan vu thiên văn, phủ dĩ sát dữ địa lý"; "Thị cố pháp tượng mạc đại hồ thiên địa, biến thông mạc đại hồ tứ thời, huyền tượng trứ minh mạc đại hồ nhật nguyệt". "Chấp thiên chi hành" là làm theo quy luật tự nhiên của vạn vật vũ trụ. "Tận hĩ" thì không còn hung hiểm.
Thiên hữu ngũ tặc, kiến chi giả xương. Ngũ tặc tại tâm, thi hành vu thiên.
Ngũ tặc là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ - Ngũ hành, tư tưởng triết học chất phác thời cổ đại Trung Quốc, dùng để chỉ mối quan hệ phát triển vừa độc lập vừa mâu thuẫn, tương hỗ lẫn nhau giữa các sự vật. Tặc đồng nghĩa với đạo (ăn trộm). Ngũ hành thể hiện giữa trời đất là sự biến hóa của thời không, bốn mùa, cũng là quy tắc vận hành của đạo trời. Tả truyện, Tương Công 27 năm chép: "Trời sinh ra năm chất, dân cùng dùng chúng, bỏ một cũng không được". Ngũ hành là lý luận cơ sở của triết học cổ đại và các thuật số, cho nên "kiến chi giả xương" (ai thấy được thì thịnh vượng). Ngũ hành thực chất là sự vận hành biến hóa của đạo trời. "Ngũ tặc tại tâm" là sự nắm bắt, sử dụng và điều khiển ngũ hành của đạo trời trong lòng. Ngũ hành là tinh khí giữa trời đất. Quản Tử, Nội Nghiệp chép: "Phía dưới sinh ngũ cốc, phía trên thành liệt tinh, chảy giữa trời đất gọi là quỷ thần, chứa trong lòng gọi là thánh nhân."
Vũ trụ tại hồ thủ, vạn hóa sinh hồ thân.
"Vũ trụ" chỉ thời không của đạo trời. "Tại hồ thủ" là chỉ sự thoải mái, tự tại sau khi phát hiện và nhận biết quy luật tự nhiên của ngũ hành. Sự biến hóa của trời đất đều có thể nắm trong tay. Kỳ Môn Độn Giáp, Yên Ba Điếu Tẩu Phú có câu: "Nhược năng liễu đạt âm dương lý, thiên địa đô tại nhất chưởng trung", ý tứ cũng giống như vậy. "Vạn hóa sinh hồ thân" chỉ con người là một tiểu thiên địa: trời có ngũ hành, người có ngũ tạng; trời có mười hai tháng, người có mười hai kinh lạc; trời hành ngũ vận lục khí, người có ngũ tạng lục phủ.
Thiên tính, nhân dã. Nhân tâm, cơ dã. Lập thiên chi đạo, dĩ định nhân dã.
Trung Quốc cổ đại gọi trời, đất, người là một thể thống nhất gọi là Tam tài. Trời, đất, người đều lấy một làm trung tâm. Lòng người hợp với đạo trời, cho nên nói "lập thiên chi đạo, dĩ định nhân dã". Lão Tử, Đạo Đức Kinh chương 25: "Người pháp đất, đất pháp trời, trời pháp đạo, đạo pháp tự nhiên" cũng cùng ý này. Pháp thức Kỳ Môn Độn Giáp mô phỏng khung thời không vũ trụ: địa bàn gọi là Lạc Thư bát quái cửu cung, nhân bàn gọi là Bát Môn, thiên bàn gọi là Cửu Tinh. Kỳ Môn là môn học thiên thời địa lý, cho nên bố cục lấy địa bàn làm pháp thức. Để tránh sự sai lộn giữa nhân bàn, thiên bàn của Tam tài với địa bàn, thì Bát Môn (thêm Gián Môn) của nhân bàn và Cửu Tinh của thiên bàn chỉ là cách gọi khác nhau, ý nghĩa phần lớn là biến thể của địa bàn bát quái, đại đồng tiểu dị. Kỳ Môn Độn Giáp, Yên Ba Điếu Tẩu Phú có câu: "Nhận thủ cửu cung vi cửu tinh, bát môn hựu trục cửu tinh hành".
Thiên phát sát cơ, long xà khởi lục. Nhân phát sát cơ, thiên địa phản phục. Thiên nhân hợp phát, vạn biến định cơ.
"Thiên" chỉ thiên bàn Cửu Tinh của Kỳ Môn Độn Giáp: Khảm Nhất cung Thiên Bồng, Khôn Nhị cung Thiên Nhuế, Chấn Tam cung Thiên Xung, Tốn Tứ cung Thiên Phụ, Trung Ngũ cung Thiên Cầm, Càn Lục cung Thiên Tâm, Đoài Thất cung Thiên Trụ, Cấn Bát cung Thiên Nhâm, Ly Cửu cung Thiên Anh. "Sát cơ" chỉ các cục cát hung sinh ra sau khi bố trục Lục Nghi: Giáp Tý (Mậu), Giáp Tuất (Kỷ), Giáp Thân (Canh), Giáp Ngọ (Tân), Giáp Thìn (Nhâm), Giáp Dần (Quý) gia vào địa bàn thời can. "Long" là Thanh Long chủ phương Đông, thiên can là Giáp Ất; thiên bàn Ất lâm địa bàn Tân gọi là Thanh Long Đào Tẩu. "Xà" là Đằng Xà chủ phương Bắc, thiên can là Nhâm Quý; thiên bàn Quý lâm địa bàn Đinh gọi là Đằng Xà Yểu Kiểu. "Lục" chỉ địa bàn. Sát cơ là những cách cục bất lợi hiện ra ở thiên bàn. Trong thức Kỳ Môn Độn Giáp còn có thiên bàn Tân lâm địa bàn Ất gọi là Bạch Hổ Sàng Cuồng, thiên bàn Đinh lâm địa bàn Quý gọi là Chu Tước Đầu Giang, hợp xưng là Tứ hung cách. "Nhân" chỉ Bát Môn: Hưu, Tử, Thương, Đỗ, Gian, Khai, Kinh, Sinh, Cảnh, thêm Gian Môn hợp thành Cửu Môn. "Thiên địa phản phục" chỉ thiên bàn Cửu Tinh lâm vào địa bàn cung tương phản gọi là Phản Ngâm, lâm vào bản cung bất động gọi là Phục Ngâm. Lục Giáp đều phục ở sáu nghi mà chúng độn: Giáp Tý tuần phục ở Mậu Thìn, Giáp Tuất tuần phục ở Kỷ Mão, Giáp Thân tuần phục ở Canh Dần, Giáp Ngọ tuần phục ở Tân Sửu, Giáp Thìn tuần phục ở Nhâm Tý, Giáp Dần tuần phục ở Quý Hợi. Nhân bàn Bát Môn hiện trạng đại hung bất lợi cũng giống như phản ngâm, phục ngâm của Cửu Tinh: gia vào cung xung chiếu gọi là Phản Ngâm, gia về cung cũ bất động gọi là Phục Ngâm. Vào thời cuối của Lục Giáp (sáu giờ Quý) thì Bát Môn đều là Phục Ngâm. Kỳ Môn Độn Giáp, Yên Ba Điếu Tẩu Phú câu: "Tựu trung phục ngâm vi tối hung, Thiên Bồng gia trước địa Thiên Bồng. Thiên Bồng nhược đáo Thiên Anh thượng, tu tri tức thị phản ngâm cung. Bát môn phản phục giai như thử, sinh tại sinh hề tử tại tử." Kỳ Môn Độn Giáp lấy khung chính của bát quái cửu cung làm kinh, can chi bố cục của tiết khí làm vĩ. Yên Ba Điếu Tẩu Phú câu: "Cửu cung phùng Giáp vi trực phù, bát môn trực sứ tự phân minh." Khi sử dụng, thiên bàn Cửu Tinh cùng Lục Giáp trực phù gia vào địa bàn thời can đang ở, trực sứ bát môn gia vào thời chi của việc đang dùng, từ đó sinh ra biến hóa phức tạp đan xen, cho nên nói "thiên nhân hợp phát, vạn biến định cơ".
Tính hữu xảo chuyết, khả dĩ phục tàng. Cửu khiếu chi tà, tại hồ tam yếu, khả dĩ động tĩnh.
"Tính hữu xảo chuyết" chỉ tính cách con người phân ra thánh hiền, ngu trí. "Phục tàng" là chức năng của Kỳ Môn Độn Giáp, tránh hung, xu hướng cát. Trương Lương chú giải rằng lục Quý là Thiên Tàng, có thể phục tàng. "Cửu khiếu chi tà" là địa bàn bát quái cửu cung. Hoàng Đế Nội Kinh chép: "Đất có chín châu, người có chín khiếu". "Tại hồ tam yếu" là ba yếu tố trong lý luận tránh hung xu hướng cát của Kỳ Môn Độn Giáp. Ví dụ: Thiên bàn Cửu Tinh nên dùng ba sao tốt là Thiên Phụ, Thiên Cầm, Thiên Tâm; Kỳ Nghi nên dùng ba kỳ (ba quý) là Nhật – Nguyệt – Tinh (Ất, Bính, Đinh); Bát Môn nên dùng ba cửa tốt là Khai, Hưu, Sinh. "Khả dĩ động tĩnh" là Kỳ Môn phân biệt cách sử dụng chủ – khách, động – tĩnh: làm chủ nên dùng địa bàn (thuộc tĩnh), làm khách nên dùng thiên bàn (thuộc động). Nếu dùng sự vào năm thời dương: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu thì nên làm khách dùng thiên bàn; năm thời âm: Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý thì nên làm chủ dùng địa bàn.
Hỏa sinh vu mộc, họa phát tất khắc. Gian sinh vu quốc, thời động tất hối.
"Hỏa sinh vu mộc, họa phát tất khắc" là nói về tác dụng của Tam Kỳ trong Kỳ Môn Độn Giáp. Hỏa sinh từ Mộc là sự chuyển hóa ngũ hành, một hiện tượng tự nhiên. Kỳ Môn Độn Giáp, môn số thuật thiên thời truyền thống này, hàm nghĩa của nó bắt nguồn từ sự phù đức ức sát của đạo trời. Mộc chủ sinh phát là Đức, Kim chủ sát phạt là Hình. Giáp là phương Đông Thanh Long, đứng đầu thập can, tượng trưng cho chủ soái quân đội, sợ phương Tây Canh kim tương khắc, cho nên trong chín cung không hiện ra, không chiếm một cung riêng mà tránh ở dưới Lục Mậu, vì thế gọi là "Độn Giáp". Đạo trời ưa sinh, để Giáp mộc không bị chế ngự, dùng ba kỳ Ất, Bính, Đinh để phù trợ Giáp chế Canh. Giáp là dương mộc, Ất là âm mộc, Giáp gả em gái Ất cho Canh kim làm vợ, là một sách lược mềm dẻo (hoài nhu). Giáp mộc lại dùng con cháu là Bính, Đinh hỏa để khắc chế Canh kim khiến nó không đủ lực khắc Giáp. Hỏa là sao Nam phương Chấn hoặc, Kim là sao Tây phương Thái Bạch. Trong Kỳ Môn Độn Giáp, thiên bàn Bính hỏa lâm vào địa bàn Canh kim phía trên gọi là "Chấn nhập Thái Bạch". Yên Ba Điếu Tẩu Phú câu: "Chấn nhập Thái Bạch tặc tu diệt" là nói về tác dụng của Bính Kỳ. "Gian sinh vu quốc, thời động tất hối": Gian là kẻ tiểu nhân, thời cơ chín muồi thì sẽ sinh binh loạn, hại nước. Thiên bàn Canh kim gia lên địa bàn Bính hỏa phía trên gọi là "Thái Bạch nhập Chấn". Yên Ba Điếu Tẩu Phú câu: "Thái Bạch nhập Chấn tặc giai lai", "Gia nhất cung hề chiến dã, đồng nhất cung hề chiến vu quốc". Lão Tử, Đạo Đức Kinh có: "Dĩ chính trị quốc, dĩ kỳ dụng binh". Lấy phép tắc chính thống trị quốc gia, dùng mưu kỳ quỷ đạo để dụng binh. Kỳ Môn Độn Giáp chính là kỳ mưu binh học đánh cắp cơ trời.
Tri chi tu luyện, vị chi thánh nhân.
"Tri chi tu luyện" là sự sử dụng và nắm vững môn số thuật Kỳ Môn Độn Giáp. "Thánh nhân" là hình tượng trong tư tưởng Nho gia. Hoàng Đế, Nội Kinh: "Thiện ngôn thiên giả, tất ứng vu nhân". Kỳ Môn Độn Giáp là số thuật thiên đạo, quy luật của thiên đạo là sự thịnh suy tuần hoàn, biểu hiện của nó cũng là sự biến hóa chu kỳ của ngũ hành lịch pháp. Bát quái, âm dương, ngũ hành, thiên can, địa chi... đều là sự diễn giải của thiên đạo.
Thiên sinh thiên sát, đạo chi lý dã.
Vật mạnh thì già, đó là bắt đầu của sự vật. Trời đất mà trường tồn là bởi vì chúng không tự sinh cho nên trường tồn. Lão Tử, Đạo Đức Kinh chương 5: "Trời đất không nhân, coi vạn vật như con chó rơm; thánh nhân không nhân, coi trăm họ như con chó rơm". Chó rơm dùng để tế lễ cầu phúc, sau tế lễ thì bỏ đi. Trời đất sinh vạn vật không gọi là nhân từ, nó đối đãi vạn vật như nhau, mặc cho chúng mạnh rồi già. Thánh nhân đối với trăm họ cũng vậy, mặc cho họ sinh sôi.
QUYỂN TRUNG: PHÚ QUỐC AN DÂN DIỄN PHÁP CHƯƠNG
Thiên địa, vạn vật chi đạo. Vạn vật, nhân chi đạo. Nhân, vạn vật chi đạo.
Lão Tử, Đạo Đức Kinh chương 25: "Người pháp đất, đất pháp trời, trời pháp đạo, đạo pháp tự nhiên". Có trời đất rồi có vạn vật. Trời đất vạn vật con người vốn là một thể đồng tâm. Triết học cổ điển Trung Quốc gọi trời, đất, người là Tam tài. Sự sinh tồn của con người dựa vào đất, cho nên đất có mười hai tháng, người có mười hai kinh lạc. Sự sinh tồn của đất dựa vào sự vận hành của đạo trời, mà quy luật của đạo trời là truy tìm quy tắc vận động tự nhiên hằng cửu bất biến. "Đạo" là mô phỏng, là cướp lấy (đạo tặc).
Tam đạo ký nghi, tam tài ký an.
"Tam đạo" đều là ba tài trời, đất, người. Kỳ Môn Độn Giáp pháp thức là mô phỏng quy luật vận hành của đạo trời, hóa Tam tài thành ba bàn: trời, đất, người: thiên bàn gọi là Cửu Tinh, nhân bàn gọi là Bát Môn (thêm trung cung Gian Môn hợp thành chín cửa), địa bàn gọi là Cửu Cung. Kinh Dịch, Hệ Từ: "Dịch chi vi thư dã, quảng đại tất bị, hữu thiên đạo yên, hữu nhân đạo yên, hữu địa đạo yên". (Xem ở trên)
Cố viết: "Thực kỳ thời, bách hài lý. Động kỳ cơ, vạn hóa an."
Sự dự đoán và sử dụng Kỳ Môn Độn Giáp lấy một thời thần (hai giờ) làm một tổ hợp biến hóa thời không, gọi là "cục". Khi diễn bố, lấy trực phù Lục Giáp (mà Cửu Tinh độn) gia vào thời can đang dùng, trực sứ gia vào thời chi, tinh, môn, kỳ nghi tổ hợp trên địa bàn Cửu Cung tạo nên biến hóa phức tạp đan xen, cho nên nói "động kỳ cơ, vạn hóa an".
Nhân tri kỳ thần nhi thần, bất tri bất thần nhi sở dĩ thần dã.
Kỳ Môn Độn Giáp có nhiều người cảm thấy nó rất thần kỳ, thực ra là vì nó mô phỏng quy luật tự nhiên của vận hành đạo trời. Đại lộ ở khắp mọi nơi. Chu Dịch, Hệ Từ nói: "Bách tính nhật dụng nhi bất tri, cố quân tử chi đạo hiểu hĩ". Càng ngày càng ít người biết nó, nắm bắt nó.
Nhật nguyệt hữu số, đại tiểu hữu định.
Nhật là chu kỳ vận hành của Trái Đất quanh Mặt Trời. Kỳ Môn Độn Giáp lấy một năm mặt trời làm một Thái Cực, rồi phân Đông Chí, Hạ Chí làm Âm Dương lưỡng nghi, tám tiết: Đông Chí, Lập Xuân, Xuân Phân, Lập Hạ, Hạ Chí, Lập Thu, Thu Phân, Lập Đông làm Bát Quái. Chu Dịch, Hệ Từ: "Càn chi trắc nhị bách nhất thập hữu lục, Khôn chi trắc bách tứ thập hữu tứ, phàm tam bách lục thập, đương kỳ chi nhật". Nguyệt là mười hai tháng trong năm, căn cứ vào sự chỉ hướng của Bắc Đẩu trong lịch pháp. Hán đại, Nguyệt lệnh chương cú: "Đại Nạo thái ngũ hành chi tinh, chiêm đẩu cương sở kiến, vu thị thủy tác Giáp Ất dĩ danh nhật, vị chi cán. Tác Tý Sửu dĩ danh nguyệt, vị chi chi". Sự sinh thành của mười hai địa chi, có bối cảnh thiên văn học. "Đại tiểu" là tháng đủ, tháng thiếu và năm nhuận. "Hữu định" là lịch pháp có quy luật nhất định có thể tìm thấy trong bối cảnh thiên văn.
Thánh công sinh yên, thần minh xuất yên.
Đạo trời yên lặng mà sinh nuôi vạn vật, cho nên thánh công sinh ra, thần minh xuất hiện. Kinh Dịch, Hệ Từ: "Âm dương chi nghĩa phối nhật nguyệt, quảng đại phối thiên địa, biến thông phối tứ thời". Đây là tán thán quy luật tự nhiên của thiên đạo lịch pháp.
Kỳ đạo cơ dã, thiên hạ mạc năng kiến, mạc năng tri.
Đạo là cướp lấy, cơ là có thể thấy được. Môn học Kỳ Môn Độn Giáp này, thiên hạ rất ít người biết đến.
Quân tử đắc chi cố cung, tiểu nhân đắc chi khinh mệnh.
Đạo trời giúp thuận, phạt nghịch. Thuật Kỳ Môn Độn Giáp, nếu quân tử có được đạo, không trái với thường đạo thì sẽ được báo lành. Nếu tiểu nhân có được nó, sẽ liều mạng đi ăn trộm quy luật cơ mấu của trời để làm việc gây hại cho xã hội, tích điều bất thiện, cuối cùng cũng sẽ gặp báo ứng xấu. Đây cũng là câu trong Yên Ba Điếu Tẩu Phú: "Thỉnh quan ca lý tinh vi quyết, phi thị hiền nhân mạc truyền vu". Đối với "Lục Giáp Âm Phù" càng là "Ninh vu nhân thiên kim, bất vu nhân lục giáp chi âm".
QUYỂN HẠ: CƯỜNG BINH CHIẾN THẮNG DIỄN THUẬT CHƯƠNG
Cổ giả thiện thính, lung giả thiện thị. Tuyệt lợi nhất nguyên, dụng sư thập bội.
"Cổ giả" là người bị mù mắt, người không có thị lực thì thính lực đặc biệt tốt; người không có thính lực thì thị lực đặc biệt tốt. Ngũ quan mất đi một cái có ích thì phải tăng cường các chức năng khác để bù đắp. Cũng giống như trong quân sự, khi đánh lưng vời nước, đường sống đã tuyệt, binh lính trái lại trở nên dũng mãnh. Như Hạng Vũ phá phủ, đốt thuyền (phủ trầm chu) là đặt mình vào chỗ chết rồi mới được sống.
