Kiến Thức Cơ Bản Về Kỳ Môn: Cách Lấy Dụng Thần
Kiến Thức Cơ Bản Về Kỳ Môn: Cách Lấy Dụng Thần
Trong cuốn “Bí Kíp Toàn Thư Kỳ Môn Độn Giáp” có chép lại thiên dự đoán vận mệnh con người, nay xin trích lục như sau:
Phép này trước hết phải hiểu rõ “Đới cửu, lí nhất” (số 9 ở trên, số 1 ở dưới), cẩn thận tìm hiểu “Tiếp khí, Siêu thần”. Tám môn phối hợp với chín cung, chín cung phải mang Tam Kỳ. Năm, tháng, ngày, giờ cần vượng tướng, tám môn, chín cung phải suy xét lẫn nhau. Cung Ly là đầu mặt, cung Càn, cung Cấn là hai chân; vai tai ở cung Khôn, cung Tốn; ngực áo bên trái, bên phải là cung Chấn, cung Đoài. Cung Khảm là âm thận, cung Trung là tim bụng.
Niên can (can năm) là cha mẹ, nguyệt can (can tháng) là anh chị em, nhật can (can ngày) là bản thân, thời can (can giờ) là con cái. Suy xét đến vợ thiếp, chỉ cần xem cung lạc của Ất và Đinh; nếu hỏi về người chồng, thì hai can Canh, Bính là chủ định không sai. Cần xét rõ cường nhược, mới có thể quyết định vinh hoa hay tiều tụy. Vượng tướng gặp kỳ môn, vừa giàu vừa quý; tử, mộ, tuyệt, ắt rất hèn rất nghèo.
Cách cục cần phân biệt nhẹ nặng, vận mệnh nghiệm sự được mất. Trước khi bố cục, trước hết xem Cô, Hư, Vượng, Tướng; vừa mở miệng ắt phải phân biệt Thiên Địa thừa thời. Sao Bạch (Kim tinh) vào cung Càn, Khôn: cha mẹ sớm mất; nếu lâm vào cung huynh đệ, thì anh em hóa ra kẻ thù. Nhật Kỳ (Bính kỳ) bị hình (gặp hình khắc), Trang sinh than thở; thời can gặp phải, Đặng Thông không con.
Sinh Môn là sản nghiệp, phải được Tam Kỳ. Thành bại phân ở nội ngoại, sinh khắc quyết được mất. Sinh Môn gặp Bạch Hổ (Canh) xung đột phá hại, là người ly hương bỏ tổ; bị xung khắc, bán sạch vườn xưa nhà tổ. Sinh ở ngoài mà thân ở trong, ắt phải dời nhà mới phát phú; thân ở ngoài mà sinh ở trong, dù có tổ nghiệp cũng khó giữ. Thân và sinh đều ở trong cung nội, an hưởng phúc lộc tôi tớ ngựa xe; thân và sinh đều ở ngoại cung, là người lập nghiệp phương xa.
Nhật lâm cô, thời lâm hư, thời trẻ không nơi nương tựa; thời rơi vào cô, nhật rơi vào hư, về già cô độc. Mệnh bị xung khắc, ăn xin nơi đường sá; nhật lâm mộ tuyệt, khó giãn đôi mày.
Tài quan sinh vượng, bởi vì gặp cách “Phi điểu điệt huyệt” (Phượng hoàng bay vào hang); ngạo nghễ đầu rùa (đỗ đầu), ắt phải do cách “Thanh Long phản thủ” (Thanh Long quay đầu). Thiên Phụ vượng tướng được Kỳ Môn, văn hay, nơi viện hàn lâm. Thiên Xung vượng tướng được Kỳ Nghi, uy chấn biên cương. Thiên Cầm trấn giữ Trung cung, được Kỳ Môn, làm quan đứng đầu trăm họ. Thiên Anh (Hữu Bật) phối hợp cách cát, làm nên công lao to lớn giúp vua. Thiên Trụ phù hợp thức, làm quan can gián trực ngôn. Thiên Tâm vào viên (tường viên), y dược tốt nhất. Thiên Nhậm là Tả Phụ, chức Tư Nông. Thiên Nhuế không được đắc địa, gặp Kỳ Môn cũng chỉ là hạng Tào Tháo, Đổng Trác. Thiên Bồng trấn giữ Bắc viên, được Kỳ Môn lại là kẻ phản nghịch vua.
Khai Môn có kỳ, ắt là văn chức. Thương Môn được lệnh, chắc là võ tướng. Sinh Môn được kỳ, giàu như Thạch Sùng. Cảnh Môn hợp cục, văn minh rực rỡ. Kinh Môn nhập thức, người giỏi biện luận. Hưu Môn hợp kỳ, trưởng quan lễ tân. Đỗ Môn được địa, quân cảnh giữ bí mật. Tử Môn được kỳ, chức coi hình ngục.
Phân bố tám môn, sao, thần, kỳ, nghi. Người hợp cục thì giàu sang quyền quý. Người thất cục thì hạng bình dân hạ lưu. Khai Môn và Tâm Tinh đều thuộc Kim, hơi có khí, thì làm y, bốc, tướng, tinh hoa; nếu rơi vào tử tù, thì làm nghề thủ công vất vả. Hưu Môn và Thiên Bồng đều là Thủy, hơi có khí, thì làm lính, lính dịch; nếu rơi tử tù, thì là quân lính, kẻ trộm cướp. Sinh Môn và Thiên Nhậm là Thổ tú, được đắc địa, thì ruộng đất giàu đủ; nếu thất thời, thì làm thợ cày cấy tầm thường. Thương Môn và Thiên Xung đều là Mộc, hơi có khí, là thủ lĩnh binh lính; nếu rơi tử hưu, thì chạy theo sau ngựa. Đỗ Môn và Thiên Phụ cũng là Mộc, hơi có khí, thì có oai phong lẫm liệt; nếu hoàn toàn thất cục, thì là người lao động luyện kim vất vả. Tử Môn và Thiên Nhuế đều là Thổ, hơi có khí, thì là trưởng giả họ Triệu, họ Ngụy; nếu rơi mộ không, thì là người cô cùng. Kinh Môn và Thiên Trụ cùng thuộc Kim, hơi có khí, thì làm môn khách, giáo thụ; nếu thất lệnh, thì làm người hát xướng, phù thủy.
Phân biệt vượng tướng của tám môn, lại luận về chín sao. Thiên Bồng thừa thời, là tướng nơi biên ải; nếu thất địa lợi, là quân lính, kẻ trộm cướp. Thiên Nhậm được địa, giàu có ruộng đất tôi tớ ngựa xe; nếu bị khắc, là người làm vườn làm ruộng vất vả. Thiên Xung có khí là võ quan quý; trái thời thì là người xe thuyền, giang hồ. Thiên Phụ là sao Văn Xương, được khí thì làm quan văn nhã; thất địa lợi thì làm sư sãi, thợ vẽ. Thiên Anh thuộc Hỏa, chủ phương Nam, được quyền thì ắt chủ về văn minh; trái thời thì tham bạo hôn ám. Thiên Nhuế vốn là Hắc Tinh, được thiên thời, tính ác bá đạo; mất thiên thời, làm kẻ chăn nuôi, thợ thuyền tầm thường. Thất Xích Thiên Trụ trấn giữ Tây viên, có khí thì biện luận tài giỏi đương thời; bị xung khắc, thì làm kỹ nữ, nhạc công. Thiên Tâm vốn là Lục Bạch, được đắc địa, tài hoa là trụ cột quốc gia; nếu rơi không mộ, thì theo đuổi nghề thuộc hàng cửu lưu.
Thanh Long phản thủ, ngạo nghễ đầu rùa (đỗ đầu). Phi điểu điệt huyệt, giàu sang thành danh. Thanh Long chuyển quang, làm ấp trưởng, huyện lệnh. Mậu gia Đinh kỳ, giàu sang vinh hiển. Bạch Hổ cuồng sài (Bạch hổ giương nanh), là kẻ hung ác ngoan cố. Thanh Long đào tẩu (Thanh Long trốn chạy), là người nhu nhược, lại thêm chủ việc thành bại do vợ, và bị gù lưng, khòm lưng. Chu Tước đầu giang (Chu Tước nhảy sông), làm thư lại viết lách. Đằng Xà yểu kiểu (Đằng xà uốn éo), kẻ lòng dạ độc ác. Người thất thời thì mù mắt điếc tai, người thừa khí thì bị lửa thiêu cháy thân. Thái Bạch nhập Hỏa Diễm (Canh nhập Bính): tiến thì trước nghèo sau giàu; Hỏa Diễm nhập Thái Bạch (Bính nhập Canh): thoái thì gia nghiệp tiêu điều. Canh gia Mậu, Mậu gia Canh: nhiều thành nhiều bại, đất này không như đất khác. Phi can, phục can: người này không giống người khác. Thái Bạch đồng cung (Canh đồng cung), anh em đánh nhau như sấm. Thái Bạch phùng tinh (Canh gặp sao), vợ thường xuyên đau ốm. Tinh phùng Thái Bạch (sao gặp Canh), cửa nhà có tiếng xấu. Đại cách: lãng tích bốn biển. Tiểu cách: nhất thời thanh bần.
Bốn cách của năm, tháng, ngày, giờ. Từ đó suy ra lục thân, xem là cung nào kiểm nghiệm, mà là bội nghịch vô lễ, suy ra cha mẹ anh chị em vợ con tốt xấu, có thể biết rõ.
Tân là Thiên Ngục, Nhâm là Địa Lao, chủ về phẩm hạ liệt, lại chủ sự uất ức khó giải bày. Quý là Thiên Cương, cần xem cao thấp, cao thì hóa thành Hoa Cái, có thể suy ra cách quý; thấp thì Thiên Cương quấn thân, cô độc nghèo hèn, lại kỵ Ngọc Nữ thủ môn (玉女守门), vợ đi theo người khác. Ất, Đinh là vợ thiếp, xem ai thân ai sơ. Ất kỳ nhập mộ, vợ không sinh con; Đinh, Ất đồng cung, lại nối duyên thân thiết. Ất kỳ ở trên, vợ thiếp hòa thuận; Đinh ở trên Ất, vợ lẽ được chồng yêu.
Các cách kỵ lạc cung vong (tuyệt, mộ), cát thì giảm bớt thịnh, hung thì càng thêm khổ. Nếu lâm vào mộ, tuyệt, là dân nghèo không nơi tố cáo. Tám môn suy xét, sợ nhất là phản ngâm, phục ngâm cũng là hung thần. Ngũ hành phối hợp với lý lẽ này, cách dùng ở một tấm lòng. Ta không nói hết, chỉ mong người ứng dụng tự ngộ ra.
17. Gặp người đi đường, kết bạn, xem thiện ác
Lấy cung nhật can đại diện cho bản thân, lấy cung thời can đại diện cho người gặp trên đường. Xem trên thời can có sao gì, dựa vào cát hung của cửu tinh để quyết định thiện ác, ngũ hành vượng tướng, hưu tù để định cát hung.
18. Mời khách có đến hay không
Lấy Trực Phù đại diện cho khách, Thiên Ất tinh đại diện cho chủ nhà, ngũ hành sinh khắc quyết định đến hay không. Cung Trực Phù khắc cung Thiên Ất thì không đến, cung Thiên Ất sinh cung Trực Phù cũng không đến. Cung Trực Phù sinh cung Thiên Ất thì đến, cung Thiên Ất khắc cung Trực Phù thì đến.
19. Kết giao bạn bè, xem thiện ác
Lấy cung nhật can đại diện cho bản thân, lấy cung thời can đại diện cho bạn bè. Sao và cách cục trên thời can quyết định thiện ác của bạn bè. Dùng ngũ hành sinh khắc để quyết định thời gian và mức độ giao tiếp. Nếu thời can sinh cung nhật can, là người đó giúp ta nhiều; nhật can sinh cung thời can, là ta giúp người đó nhiều hơn. Nếu cung nhật can khắc cung thời can, có thể giao tiếp nhưng sẽ có mâu thuẫn. Nếu cung thời can khắc cung nhật can, quyết không thể giao tiếp, nếu không, ắt sẽ bị hại.
20. Thuế má, hưng suy
Lấy cung Sinh Môn đại diện cho thuế khóa, cung nhật can đại diện cho người thu thuế, cung Khai Môn đại diện cho quan thuế. Dựa vào ngũ hành sinh khắc, vượng tướng hưu tù của từng cung để quyết định.
21. Giếng nước, mạch nước hưng suy
Khoản này ngày nay không còn thực dụng nữa, nhưng ở nông thôn rộng lớn Trung Quốc vẫn có việc đào giếng lấy nước uống. Lấy cung Hưu Môn đại diện cho mạch nước, cung Tử Môn đại diện cho cái giếng. Nếu cung Hưu Môn và cung Tử Môn ngũ hành tương sinh thì nước mạnh, tương khắc thì nước yếu.
22. Bắt cá
Khoản này thời cổ chỉ ngư dân làm nghề sinh sống, hiện nay ở ven biển vẫn có ngư dân sống bằng nghề này, ngoài ra còn có hành vi câu cá giải trí của cá nhân khi rảnh rỗi. Lấy Thương Môn đại diện cho người đánh cá, Giáp Dần, Quý đại diện cho lưới (hoặc cần câu). Dùng ngũ hành sinh khắc để luận được mất, dùng vượng tướng hưu tù để luận nhiều ít. Nếu ngũ hành cung Giáp Dần, Quý khắc ngũ hành cung Thương Môn thì cá nhiều, không khắc thì được ít.
23. Thăm bạn
Lấy địa bàn của phương hướng định đến đại diện cho chủ nhà (người bạn định thăm), thiên bàn tinh đại diện cho khách (bản thân). Nếu ngũ hành của thiên bàn và địa bàn tương sinh hoặc tương hợp, hoặc có tam kỳ và cát môn, thì đi sẽ gặp. Nếu môn hung hoặc hai bàn thiên địa tương khắc thì sẽ không gặp được bạn. Trong bàn Kỳ Môn Độn Giáp, nếu xuất hiện Canh dưới lâm niên, nguyệt, nhật, thời (tức cách niên, cách nguyệt, cách nhật, cách thời) thì cũng báo hiệu không thể gặp được người bạn định thăm.
24. Trồng trọt
Khoản này chỉ có nông dân dùng. Nếu Trực Sử gia lâm Thiên Bồng tinh, thích hợp trồng lúa, kê, đậu đen; Trực Sử gia lâm Thiên Anh tinh, thích hợp trồng đậu đỏ, lúa mì; Trực Sử gia lâm Thiên Xung, Thiên Phụ tinh, thích hợp trồng dưa quả, ngũ cốc; Trực Sử gia lâm Thiên Nhậm, Thiên Cầm, Thiên Nhuế tinh, thích hợp trồng vừng, đậu tương; Trực Sử gia lâm Thiên Tâm, Thiên Trụ tinh, thích hợp trồng đại mạch, kiều mạch, cao lương.
25. Tuổi thọ
Đây là kinh nghiệm từ cổ thư, việc đưa ra ở đây không có ý nghĩa thực tiễn, chỉ để tham khảo. Lấy tuổi 90 làm tiêu chuẩn, mỗi cung đại diện cho 10 năm. Xem khoảng cách giữa cung lạc của Thiên Xung tinh và Tử Môn để định số tuổi. Dương độn thì đếm thuận, âm độn thì đếm nghịch. Người gặp ngũ hành vượng tướng thì cả đời ít tai họa, nếu không thì cả đời thường gặp trắc trở.
