Kinh Môn
Kinh Môn
Kinh Môn tọa tại cung Đoài Kim ở hướng Tây, ngũ hành thuộc Kim. Ứng vào mùa thu, khí lạnh tàn sát, cây cỏ điêu tàn, một cảnh tiêu điều khiến người ta kinh hãi; đồng thời quẻ Đoài là Trạch (đầm), là sự khuyết, sự tổn hại, lại quẻ Đoài chủ về miệng, chủ về thị phi quan sự, vì vậy cửa này gọi là Kinh Môn, đối ứng với Cửa Thương ở cung Chấn Mộc phía Đông.
Cổ nhân nói: "Kinh Môn chủ về kiện tụng, ôn dịch chết người thân, năm Thìn và tháng Dậu, họa bay vào tận sân."
Kinh Môn là cửa hung, lâm vào cung Đoài, quẻ Đoài biểu thị thị phi miệng lưỡi, biểu thị tranh luận, cãi vã, khiến người ta căng thẳng lo âu. Kinh Môn cũng là sự dữ tợn, thường đại diện cho sự kinh hoàng, sang chấn, kiện tụng, tranh cãi. Thích hợp nhất cho việc đánh kiện, bắt trộm cướp, đặt phục binh, những việc khác không nên làm.
Khái niệm về Kinh Môn
Kinh Môn là cửa hung, bởi vì lâm vào cung Đoài, quẻ Đoài biểu thị miệng, vì vậy đại diện cho thị phi miệng lưỡi, quan sự, tổn hại, tranh luận, cãi vã, đánh kiện, v.v., khiến người ta căng thẳng lo âu, kinh hoàng, giật mình, ngạc nhiên, hoảng sợ; cũng có thể đại diện cho luật sư, âm thanh, diễn thuyết, phiên dịch, người dẫn chương trình, cờ bạc trò chơi, đặt nghi binh phục kích, xúi giục mê hoặc, biện luận diễn thuyết, ăn uống, đe dọa.
Cách dùng khái quát của Kinh Môn
Đoán nhân vật: Bởi vì Kinh Môn ở cung Đoài, Đoài đại diện cho việc dùng miệng để làm việc, là luật sư, còn biểu thị ca hát, những nhân vật liên quan đến nói và hát, diễn viên hài kịch, diễn viên, v.v.
Đoán công việc: Loại tượng của Kinh Môn thể hiện kiện tụng, luật sư, ngành nghệ thuật biểu diễn; thẩm phán, ngành kiểm tra kỷ luật, ngành giáo dục.
Đoán tính cách: Khéo ăn khéo nói, nói khoác, giọng nói vang sảng, lo lắng, bất an.
Đoán hôn nhân: Thị phi miệng lưỡi, vợ chồng bất hòa.
Đoán cầu tài: Thu nhập không bù nổi chi tiêu, tiền của khó tụ, dễ vì tiền mà gặp kiện tụng thị phi.
Đoán bệnh tật: Kinh hoàng bàng hoàng, đột tử kinh hiểm; phần nhiều chủ về bệnh ở khoang miệng, thanh quản, phổi, tim, v.v.
Trạng thái sinh vượng, hưu tù của Kinh Môn
Kinh Môn thuộc ngũ hành Kim, vượng vào mùa Thu Kim, đặc biệt là tháng Dậu; tướng (tương đối vượng) vào cuối mùa Hạ Thổ; hưu (ngừng trệ) vào mùa Đông Thủy; tù (suy kém) vào mùa Xuân Mộc; tử (tuyệt vọng) vào mùa Hạ Hỏa.
Kinh Môn ở cung Đoài là Phục Ngâm (nằm yên), ở cung Chấn Mộc là Phản Ngâm (xung động), ở cung Cấn Thổ là nhập mộ, ở cung Ly Hỏa là bị chế ngự, ở cung Tốn Mộc là bị ép (môn bức), ở cung Khảm Thủy là tiết khí, ở cung Khôn Thổ là được sinh, ở cung Càn Kim là tỷ hòa (hòa hợp).
Giải thích chi tiết về tượng ý của Kinh Môn
Nhân vật: Thiếu nữ, bậc tiền bối, người kinh hoàng, lo lắng, thấp thỏm, người mang nhiều tâm sự.
Nghề nghiệp: Ngành dùng miệng, ca sĩ, phát thanh viên, người nghệ thuật biểu diễn, giáo viên, luật sư, quân nhân, nhà ngoại giao, gái mại dâm, pháp sư, bác sĩ ngoại khoa, nhân viên kiểm tra kỷ luật.
Tính tình: Khéo ăn khéo nói, giọng nói vang dội, tính thẳng nói thẳng, nói nhanh, khéo ăn khéo nói, nhút nhát sợ việc, giám sát.
Hình thái: Vui vẻ, quyết đoán, há hốc mồm, lo lắng, đờ đẫn như gỗ; ngạc nhiên, kinh hãi, kinh hiểm, giật mình, lo sợ, khiếp đảm.
Sự việc: Miệng lưỡi, kiện tụng, tố tụng, nghệ thuật biểu diễn, diễn thuyết, phiên dịch, bắt cướp, cờ bạc, đánh nhau, hư kinh, tế tự, thu hoạch mùa thu, hành hình, biếm truất, việc khiến người ta kinh hãi thất sắc, sự việc kinh hoàng bất an, hối đoái, bói toán.
Thời tiết và thiên thời: Mùa thu, mát mẻ, bão tố, sương, buổi chiều tối.
Địa lý: Hồ, đầm lầy, hồ chứa nước, bồn địa, đá, hang động, giếng nước, ao, ao cá.
Kiến trúc: Nơi có âm thanh lớn như khu náo nhiệt, địa điểm giải trí; nơi liên quan đến miệng như nha khoa; công an, cơ quan tư pháp, viện kiểm sát tòa án, xưởng quân khí, nhà chứa; và nơi liên quan đến kim loại như cửa hàng kim khí, cửa hàng trang sức, xưởng gia công trang sức.
Vật thể: Vật phẩm thuộc kim loại như đồ đồng, đồ sắt, dụng cụ đóng sách, khoan, kìm, cưa, dao nĩa, kim, rìu; vật thể phát ra âm thanh như âm thanh, nhạc cụ, đĩa hát, lục lạc, chuông gió, đồng hồ, tivi, điện thoại, pháo; quẻ Đoài là vật bề ngoài hư hỏng bên trong còn tốt, vật ngoài rỗng trong đặc, ngoài lỏng trong chặt; bình lọ bằng kim loại.
Bộ phận cơ thể và bệnh tật: Phổi, bệnh phổi, hen suyễn, bệnh răng, quai bị, cổ họng, bệnh hầu, lão hóa, suy kiệt, bệnh tâm lý, loạn nhịp tim, bệnh do kinh sợ, tự kỷ, ruột, chân khập khiễng, tổn thương tay chân, bệnh hoa liễu.
Thực phẩm: Rượu thức ăn, thịt thú rừng.
Động vật: Động vật hay kêu như ve sầu, ếch, ve; rết, dê.
Thực vật: Bạch dương, cây tùng, hoa cỏ mùa thu, lúa mạch, bạch quả.
