Kỳ Môn Độn Giáp: Cát Cách

Cát Cách (Cục Diện Tốt)

Trong thực tế ứng dụng Kỳ Môn thời gia, bởi vì có Cửu Cung (9 cung), 18 cục Âm Độn và Dương Độn, 60 canh giờ diễn một cục, tổng cộng sẽ có 9 × 18 × 60 = 9720 loại cách cục. Phép bài cung đem Ngũ cung ký vào Khôn nhị cung, tức là chỉ còn (phối với Bát Môn, Cửu Tinh, Bát Thần, Tam Kỳ Lục Nghi, Bát Quái), do đó cũng có 8 × 18 × 60 = 8640 loại cách cục.

Người xưa qua thực tiễn, dựa trên nguyên lý ngũ hành sinh khắc chế hóa và kinh nghiệm ứng nghiệm cát hung tích lũy lâu đời, đã phân loại, quy nạp, sàng lọc gần vạn loại cách cục trên, tổng kết ra một số cách cục tốt (cát cách) và cách cục xấu (hung cách), để hậu nhân tham khảo trong ứng dụng dự đoán.

Thông thường, Cát Môn, Cát Tinh, Cát Thần phối với Tam Kỳ là cát cách; Hung Môn, Hung Tinh, Hung Thần gặp nhau là hung cách; Giữa Tinh, Môn, Cung, Tam Kỳ, Lục Nghi, nếu ngũ hành thuộc tính tương sinh hoặc tỷ hòa (bằng nhau, hòa hợp) là cát; nếu ngũ hành tương hình, tương xung, tương khắc, tương hại và nhập mộ là hung; Sự kết hợp của năm dương can Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu thường là cát; sự kết hợp của năm âm can Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý thường là hung. Đặc biệt là trong Độn Giáp, Giáp là chủ soái, rất sợ Canh Kim khắc sát, vì vậy gặp Canh thường là hung cách.

Phần này trước hết giới thiệu một số cách cục tốt (cát cách) thường dùng trong dự đoán Kỳ Môn:

1. Thanh Long Phản Thủ (còn gọi là Long Hồi Thủ)

Thiên Bàn Giáp Tý Mậu gia Địa Bàn Bính Kỳ, tức Mậu gia Bính. Bởi vì Giáp Mộc là Thanh Long, Mộc sinh Hỏa, Bính Hỏa là con của Giáp Mộc, mẹ con nhìn nhau, người mẹ quay đầu lại nhìn con, vì vậy đặt tên là "Long Hồi Thủ". Bởi vì Bính Hỏa có thể khắc Canh Kim, cứu trợ nguyên soái Giáp Mộc, nên là cát. Thích hợp cho việc nhận chức, kiện tụng, di dời, cầu tài, xây dựng... trăm việc đều tốt.

Tuy nhiên, nếu gặp Môn khắc Cung, hoặc Địa Bàn là Chấn tam cung (Tý Mậu tương hình), thì việc tốt sẽ biến thành xấu.

2. Phi Điểu Điệt Huyệt (còn gọi là Điểu Điệt Huyệt)

Thiên Bàn Bính Kỳ gia Địa Bàn Giáp Tý Mậu, tức Bính gia Mậu (ngược lại với "Long Hồi Thủ"). Bởi vì Bính Hỏa là Chu Tước phương Nam, trở về bên cạnh mẹ là Giáp Mộc, tựa như chim bay về tổ, vì vậy đặt tên là "Điểu Điệt Huyệt". Do Mộc Hỏa tương sinh, nên là cát cách. Thích hợp cho việc nhận chức, cầu tài, kiện tụng, xây dựng, hôn nhân... trăm việc đều tốt.

3. Cửu Độn (Chín Độn)

  • Thiên Độn: Thiên Bàn Bính Kỳ (Nguyệt Kỳ), Môn Bàn Sinh Môn, Địa Bàn Đinh Kỳ (Tinh Kỳ). Nhị kỳ cùng Sinh Môn, nhị hỏa sinh Cấn thổ (Sinh Môn thuộc thổ, tọa tại Cấn cung), nên là cát cách. Trăm việc sinh vượng, có lợi cho hành quân, đánh trận, dâng sớ, cầu quan, kinh doanh, hôn nhân...

  • Địa Độn: Thiên Bàn Ất Kỳ (Nhật Kỳ), Môn Bàn Khai Môn, Địa Bàn Lục Kỷ. Kỷ là Địa Hộ, Khai Môn lại được Nhật tinh che chở, nên trăm việc đều tốt. Thích hợp đóng trại, mai phục, xây dựng, tu tạo...

  • Nhân Độn: Thiên Bàn Đinh Kỳ (Tinh Kỳ), Môn Bàn Hưu Môn, Thần Bàn Thái Âm. Độn này được Tinh tinh che chở, hướng này có thể dùng để thăm dò, mai phục, đàm phán, tìm người tài, kết hôn, giao dịch... đều là tốt.

  • Phong Độn: Thiên Bàn Ất Kỳ (Nhật Kỳ), một trong ba môn Khai, Hưu, Sinh trên Môn Bàn, Địa Bàn là Tốn tứ cung. Tốn Mộc chủ phong, lại được Ất Kỳ và Cát Môn, nên gọi là Phong Độn. Nếu gió từ hướng Tây Bắc đến, nên thuận gió đánh địch; nếu gió từ hướng Đông Nam đến, địch ở Đông Nam, không nên giao chiến.

  • Vân Độn: Thiên Bàn Ất Kỳ (Nhật Kỳ), một trong ba môn Khai, Hưu, Sinh trên Môn Bàn, Địa Bàn Lục Tân. Độn này được Vân tinh che chở, thích hợp cầu mưa, lập trại, chế tạo vũ khí.

  • Long Độn: Thiên Bàn Ất Kỳ (Nhật Kỳ), một trong ba môn Khai, Hưu, Sinh trên Môn Bàn, Địa Bàn Khảm (trong nước có Rồng) nhất cung hoặc Lục Quý. Thích hợp phục kích địch, thủy chiến, làm cầu, đào giếng...

  • Hổ Độn: Thiên Bàn Ất Kỳ (Nhật Kỳ), kết hợp Hưu Môn hoặc Sinh Môn, lâm Địa Bàn Lục Tân tại Cấn (Dần Hổ) bát cung, hoặc Thiên Bàn Giáp Thân Canh kết hợp Khai Môn, hạ lâm Địa Bàn Đoài cung (Canh Tân Kim, đều là Bạch Hổ) đều gọi là Hổ Độn. Thích hợp đóng trại, đặt phục binh, xây dựng...

  • Thần Độn: Thiên Bàn Bính Kỳ (Nguyệt Kỳ), Môn Bàn Sinh Môn, Thần Bàn Cửu Thiên (Thần Cửu Thiên). Thích hợp tấn công nơi sơ hở, mở đường, lấp sông, tạo tượng, giáo hóa binh lính...

  • Quỷ Độn: Thiên Bàn Đinh Kỳ (Tinh Kỳ), Môn Bàn Đỗ Môn (cửa nhân gian bị chặn), Thần Bàn Cửu Địa (địa ngục có quỷ), hoặc Đinh Kỳ, Khai Môn kết hợp Cửu Địa. Thích hợp đánh úp trại địch, đặt nghi binh, phục binh.

4. Tam Kỳ Đắc Sử

Tam Kỳ Đắc Sử là Thiên Bàn Ất, Bính, Đinh gia lâm Địa Bàn Trực Sử Môn. Cụ thể mà nói, là Thiên Bàn Ất Kỳ gia lâm Địa Bàn Giáp Tuất Kỷ hoặc Giáp Ngọ Tân; Thiên Bàn Bính Kỳ gia lâm Địa Bàn Giáp Tý Mậu hoặc Giáp Thân Canh; Thiên Bàn Đinh Kỳ gia lâm Địa Bàn Giáp Thìn Nhâm hoặc Giáp Dần Quý.

Nghĩa là, Địa Bàn thuộc Giáp Tuất tuần hoặc Giáp Ngọ tuần, Thiên Bàn Ất Kỳ đắc sử; Địa Bàn thuộc Giáp Tý tuần hoặc Giáp Thân tuần, Bính Kỳ đắc sử; Địa Bàn thuộc Giáp Thìn tuần hoặc Giáp Dần tuần, Đinh Kỳ đắc sử. Đắc sử thì có thể hành sự, nếu không có Cát Môn cũng có trợ giúp nhỏ.

Về Tam Kỳ Đắc Sử, Yên Ba Điếu Sửu Ca viết: "Tam Kỳ đắc sử thành kham sử, Lục Giáp ngộ chi phi tiểu bổ. Ất phùng khuyển mã, Bính thử hầu, Lục Đinh ngọc nữ kỳ long hổ." Điều này, các nhà nghiên cứu qua các đời giải thích không giống nhau. Bởi vì trong đó có mâu thuẫn rõ ràng: Ất phùng khuyển mã, tức Ất Kỳ gia Giáp Tuất Kỷ và Giáp Ngọ Tân. Ất + Kỷ là Nhật Kỳ nhập mộ, Ất + Tân là Thanh Long đào tẩu, đều là hung cách. Bính thử hầu, tức Bính Kỳ gia Giáp Tý Mậu và Giáp Thân Canh. Bính + Mậu là Điểu điệt huyệt, cát cách, nhưng Bính + Canh là Doanh nhập Bạch, hung cách. Lục Đinh ngọc nữ kỵ long hổ, tức Đinh Kỳ gia Giáp Thìn Nhâm và Giáp Dần Quý. Đinh + Nhâm tuy là cát cách, nhưng Đinh + Quý là Tước đầu giang, hung cách. Sáu cách trên, ngoại trừ Bính + Mậu, Đinh + Nhâm là cát cách, bốn cách còn lại đều là hung cách, sao có thể gọi là "Lục Giáp ngộ chi phi tiểu bổ", "thành kham sử" là cát cách được?

Có lẽ chính bởi những mâu thuẫn này, sách "Kỳ Môn Dự Đoán Học" của Lưu Quảng Bính đã bỏ hẳn cách cục này không ghi lại.

Ý kiến sơ bộ của cá nhân tôi, đã nói "Tam Kỳ đắc sử thành kham sử", một trong những điểm trọng yếu là "đắc sử", "đắc sử" là được Trực Sử Môn. Tuy rằng Ất + Kỷ, Ất + Tân, Bính + Canh, Đinh + Quý là hung cách, nhưng nếu trên Môn Bàn, Trực Sử Môn rơi vào cùng một cung với các cách cục này, tức là Tam Kỳ được Trực Sử Môn, thì vẫn có thể sử dụng, không luận là hung. Điểm này cần được kiểm nghiệm trong thực tiễn nhiều hơn.

5. Ngọc Nữ Thủ Môn

Đinh Kỳ còn được gọi là Ngọc Nữ. Ngọc Nữ thủ môn, là cung mà Trực Sử Môn trên Môn Bàn rơi vào đang gặp Địa Bàn Đinh Kỳ. Thời gian cụ thể là: Giáp Tý tuần (tuần Giáp Tý) thì giờ Canh Ngọ; Giáp Tuất tuần thì giờ Kỷ Mão; Giáp Thân tuần thì giờ Mậu Tý; Giáp Ngọ tuần thì giờ Đinh Dậu; Giáp Thìn tuần thì giờ Bính Ngọ; Giáp Dần tuần thì giờ Ất Mão. Ngọc Nữ thủ môn, hướng này có lợi cho việc yến tiệc, vui chơi, hôn nhân.

6. Tam Kỳ Quý Nhân Thăng Điện

  • Ất Kỳ lâm Chấn cung, là Nhật xuất Phù Tang, có lộc chi hương, là quý nhân thăng Ất Mão chính điện.

  • Bính Kỳ đến Ly cung, là Nguyệt chiếu Đoan Môn, đất hỏa vượng, là quý nhân phồn vinh xương thịnh ở Bính Ngọ chính điện.

  • Đinh Kỳ đến Đoài cung, là Tinh kiến phương Tây (Dậu là đất trưởng sinh của Đinh Hỏa), Thiên chi thần vị, là quý nhân thăng Đinh Dậu chính điện.

Lúc Tam Kỳ quý nhân thăng điện, trăm việc có thể làm.

7. Thiên Hiển Thời Cách (còn gọi là Phụ Đại Cát Thời)

  • Giáp, Kỷ Nhật (ngày Giáp, Kỷ) có giờ Giáp Tý, Giáp Tuất;

  • Ất, Canh Nhật có giờ Giáp Thân;

  • Bính, Tân Nhật có giờ Giáp Ngọ;

  • Đinh, Nhâm Nhật có giờ Giáp Thìn;

  • Mậu, Quý Nhật có giờ Giáp Dần.

Nói một cách đơn giản, đó là lúc các vị đại tướng Lục Giáp trực ban xuất hiện, hoặc là lúc hòa hợp với Nhật Can (ngày). Mặc dù lúc này cách cục Kỳ Môn cũng là Phục Ngâm, nhưng không xem là hung, ngược lại là cát.

Các giờ này thích hợp hành quân, đánh trận, lên quan, yết kiến, cầu tài, viễn hành đều tốt. Người có tội cũng có thể được ân xá.

8. Tam Trá Ngũ Giả

Phàm làm việc, xuất hành nên dùng phương vị của ba Cát Môn là Khai, Hưu, Sinh. Nếu được thêm Tam Kỳ Ất, Bính, Đinh thì càng tốt; nếu không được Tam Kỳ cũng có thể dùng. Nếu ba Cát Môn Khai, Hưu, Sinh kết hợp với Tam Kỳ Ất, Bính, Đinh, lại được ba Thần Âm là Thái Âm, Lục Hợp, Cửu Địa phù trợ, thì gọi là Tam Trá. Kinh doanh, viễn hành, hôn thú, trăm việc đều tốt.

Cổ binh thư viết: "Binh bất yếm trá", Trá cũng có vấn đề vận trù cơ mưu, lựa chọn thời không.

Cụ thể mà nói:

  • Ba Cát Môn hợp Tam Kỳ, lại có Thái Âm ở trên, gọi là Chân Trá.

  • Ba Cát Môn hợp Tam Kỳ, lại có Lục Hợp ở trên, gọi là Hưu Trá.

  • Ba Cát Môn hợp Tam Kỳ, lại có Cửu Địa ở trên, gọi là Trọng Trá.

Cát Môn là trên hết, Kỳ là thứ yếu, Trá là tiếp theo. Kỳ và Môn đều hợp là thượng cát.

Ngũ Giả là: Thiên Giả, Địa Giả, Nhân Giả, Thần Giả, Quỷ Giả. "Giả" ở đây là mượn sức mạnh (nhuệ khí) để hành sự. Sự việc phù hợp với khí đó thì có lợi, ngược lại thì không lợi. Ngũ Giả kỵ bị Bách (áp chế) và Mộ (nhập mộ).

  • Thiên Giả: Cảnh Môn hợp Tam Kỳ Ất, Bính, Đinh, lại có Cửu Thiên ở trên. Thích hợp tranh chiến, kiện tụng, yết quý cầu quan, dâng sớ hiến kế, xuất quân ban hiệu, tuyên minh đồng minh.

  • Địa Giả: Đỗ Môn hợp Đinh, Kỷ, Quý, lại có Cửu Địa, Thái Âm hoặc Lục Hợp ở trên, đều gọi là Địa Giả. Thích hợp lén lút mai phục, đào tẩu tránh nạn, mưu đồ việc riêng tư.

  • Nhân Giả: Kinh Môn hợp Lục Nhâm, lại có Cửu Thiên ở trên, gọi là Nhân Giả. Thích hợp bắt bớ đào thoát. Nếu lại gặp cách cục "Thái Bạch nhập Doanh", nhất định có thể bắt được kẻ đào tẩu.

  • Thần Giả (còn gọi là Vật Giả): Thương Môn hợp Đinh, Kỷ, Quý, lại có Cửu Địa ở trên, gọi là Thần Giả. Thích hợp chôn giấu, mai phục, khiến người khác khó biết. Một thuyết khác: Thương Môn hợp Đinh, Kỷ, Quý, lại có Lục Hợp ở trên là Vật Giả (còn gọi là Thần Giả), thích hợp chôn giấu, cầu nguyện, đòi nợ, bắt bớ, giao dịch, mai phục.

  • Quỷ Giả (còn gọi là Thần Giả): Tử Môn hợp Đinh, Kỷ, Quý, lại có Cửu Địa ở trên, gọi là Quỷ Giả. Thích hợp siêu độ vong linh, phù trợ trọng bệnh an dân, đào đất sửa mộ, trừ tà, săn bắn.

9. Tam Kỳ Chi Linh: Tam Kỳ Ất, Bính, Đinh; bốn Thần là Thái Âm, Lục Hợp, Cửu Địa, Cửu Thiên; ba Môn là Khai, Hưu, Sinh. Mỗi khi một trong số chúng (Kỳ, Thần, Môn) xuất hiện ở phương vị đó, thì đó là sự thanh tịnh linh thiêng của đạo tốt, hành sự đều tốt đẹp.

10. Kỳ Du Lộc Vị:

  • Ất Kỳ đến Chấn (Mão là đất Lâm Quan, Lộc của Ất Mộc),

  • Bính Kỳ đến Tốn (Tỵ là đất Lâm Quan, Lộc của Bính Hỏa),

  • Đinh Kỳ đến Ly (Ngọ là đất Lâm Quan, Lộc của Đinh Hỏa).
    Đây là bản lộc chi vị. Kết hợp với ba Cát Môn, thích hợp cho việc nhậm chức, cầu tài, cầu phúc và các mưu cầu khác đều tốt lành.

11. Hoan Di: Tam Kỳ lâm cung Lục Giá Trực Phù gọi là Hoan Di. Phàm mưu cầu việc gì đều có lợi, phủ dụ tướng sĩ, quân chúng vui lòng phục tùng.

12. Kỳ Nghi Tương Hợp:

  • Ất Canh, Bính Tân, Đinh Nhâm là Kỳ hợp.

  • Mậu Quý, Giáp Kỷ là Nghi hợp.
    Được Cát Môn, phàm việc có tượng hòa hợp, chủ sự hòa giải, kết thúc, hòa cục, phân chia đều.

13. Môn Cung Hòa Nghĩa:

  • Phàm cung sinh môn là "Hòa", gặp Cát Môn thì mọi việc đều tốt.

  • Phàm môn sinh cung là "Nghĩa", gặp Cát Môn thì mọi việc đều tốt.