Kỳ Môn Độn Giáp diễn tượng: Chiêm đoán bệnh tật

Kỳ Môn Độn Giáp diễn tượng: Chiêm đoán bệnh tật

 

Chiêm bệnh tật

Bản mệnh nếu như gặp sao Thiên Nhuế,
Bệnh tật quấn thân chẳng rời giường.
Vào mộ, tuyệt vong, không đường sống,
Trung ngũ hóa hợp, rời bỏ cõi dương.

Sao Nhuế trị Giáp: mật, Ất: gan,
Mậu: dạ dày, Đinh: tim, Bính: ruột non.
Canh chủ đại tràng, Tân chủ phổi,
Kỷ: tỳ, Quý: thận, Nhâm: bàng quang.

Khai môn tiết tả, Hưu môn di tinh, sinh khí chứng,
Đỗ môn bí tắc, Tử môn tắc nghẽn, lao tổn thương.
Ngũ cách, Kinh môn kinh giật, Cảnh môn huyết nhận,
Lục đầu, nhị bụng, tam túc phương.

Tai: Khảm, mắt: Ly, bảy ở miệng,
Tay: Cấn, đùi: Tốn, ngực: Ngũ hoàng.
Mộc phong, kim ho, thủy tinh tiết,
Thổ bĩ, hỏa thế, cửu cung trạch.

Sao Nhuế đại kỵ khắc bản mệnh,
Rất mừng sinh sinh, uống thuốc lành.


Chiêm bệnh nặng hay nhẹ: Lấy cung mệnh của bệnh nhân và cung Thiên Nhuế mà xét chi tiết.

Nếu bệnh thần (sao Nhuế) khắc thoát cung mệnh, lại được Thời can sinh trợ, hiệp lực tranh mệnh; hoặc Thời can khắc thoát cung mệnh, Tam Ất lần lượt khắc thoát; và cung mệnh lâm Trung ngũ hóa hợp, gặp không vong, nhập mộ, bị phá chế, kích hình, gặp các giá trị của Tử môn, Thương môn, Đỗ môn, Kinh môn – đó đều là những điềm chẳng lành, nên suy đoán kỳ tử vong là phải.

Nếu có sinh khí đến, hoặc động mà đến sinh, làm thoát hao khí của bệnh thần, thì không cần lo lắng. Cứ thế mà luận.


Để quyết đoán bệnh: Chỉ cần xem sao Thiên Nhuế lâm vào cung nào, tương ứng với:

  • Giáp: mật, Ất: gan, Tân: phổi, v.v.
    Kết hợp với các hiện tượng:

  • Hưu môn: di tinh, hoạt tinh

  • Tử môn: tắc nghẽn, làm chậm trệ

  • Thương môn: đau đớn, lao tổn

  • Đỗ môn: đầy bụng, nôn mửa

  • Ngũ cách: nghẹn, ợ

  • Khai môn: hư nhược, tiết tả

  • Kinh môn: tim đập thình thịch, động kinh

  • Sinh khí: đầy hơi, trướng bụng

  • Cảnh môn: đao thương, mất máu

Vào cung các số:

  • Cung 1 (Khảm): tai

  • Cung 9 (Ly): mắt

  • Cung 7 (Đoài): miệng

  • Cung 8 (Cấn): tay

  • Cung 4 (Tốn): đùi

  • Cung 5 (Trung): ngực

Ngũ hành tượng bệnh:

  • Mộc: phong (gió)

  • Kim: ho

  • Thủy: hàn, tinh khí hao tiết

  • Thổ: bĩ (nghẹn, đầy)

  • Hỏa: nóng

Nếu sao Nhuế ở trong cung nội (các cung Cấn, Khảm, Càn, Đoài?) thì bệnh ở bên trong; ở cung ngoại (các cung còn lại) thì bệnh ở bên ngoài.


Tháng, ngày khắc với Tử môn là kỳ tử vong.
Địa chi nơi Tử môn lâm là kỳ tử vong.

Tháng, ngày sinh là kỳ lành bệnh.
Địa chi nơi sinh môn lâm là kỳ lành bệnh.

Nếu các cung khác đều khắc cung mệnh, chỉ có cung Sinh môn sinh trợ nó, thì chỉ nên dùng thuốc men điều dưỡng, còn kỳ lành bệnh hay tử vong tạm thời không cần quyết đoán vội.