KỲ MÔN ĐỘN GIÁP DỰ ĐOÁN (PHẦN 4) - KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ KỲ MÔN

KỲ MÔN ĐỘN GIÁP DỰ ĐOÁN (PHẦN 4) - KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ KỲ MÔN

CHƯƠNG 2: KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ KỲ MÔN

So với Lục hào và Mai hoa, Kỳ Môn có khá nhiều kiến thức cơ bản và phương pháp khởi cục. Tôi không muốn trình bày quá dài dòng chiếm nhiều dung lượng trong sách này, nhưng để đảm bảo tính toàn vẹn, có trình tự và cũng để giúp đỡ những người mới bắt đầu, ở đây tôi xin giới thiệu một số kiến thức cơ bản về Kỳ Môn.

I. PHƯƠNG PHÁP KHỞI CỤC KỲ MÔN CHUYÊN BÀN (CHUYỂN BÀN KỲ MÔN KHỞI CỤC PHÁP)

  1. Trong nửa năm từ Đông chí đến Hạ chí sử dụng Dương cục, nửa năm từ Hạ chí đến Đông chí sử dụng Âm cục.

  • Dương độn có 9 cục, Âm độn có 9 cục, mối quan hệ tương ứng với tiết khí như sau:

Dương độn: Đông chí, Kinh trập: 1-7-4; Tiểu hàn: 2-8-5; Đại hàn, Xuân phân: 3-9-6; Vũ thủy: 9-6-3; Thanh minh, Lập hạ: 4-1-7; Lập xuân: 8-5-2; Cốc vũ, Tiểu mãn: 5-2-8; Mang chủng: 6-3-9.

Âm độn: Hạ chí, Bạch lộ: 9-3-6; Tiểu thử: 8-2-5; Đại thử, Thu phân: 7-1-4; Lập thu: 2-5-8; Hàn lộ, Lập đông: 6-9-3; Xử thử: 1-4-7; Sương giáng, Tiểu tuyết: 5-8-2; Đại tuyết: 4-7-1.

Nghĩa là, Thượng nguyên của Đông chí và Kinh trập là Dương độn cục 1, Trung nguyên là Dương độn cục 7, Hạ nguyên là Dương độn cục 4; các tiết khác cũng suy ra tương tự.

Để xác định ngày đầu tiên của Thượng nguyên cho mỗi cục, có hai phương pháp: Một là phương pháp Trí nhuận (đặt tháng nhuận), tra cứu lịch Kỳ Môn là được, không bàn dài dòng ở đây. Phương pháp chúng tôi sử dụng là phương pháp Sai bổ (phương pháp bù đắp), quy tắc như sau:

Theo Kỳ Môn Độn Giáp, Giáp, Kỷ là phù đầu (đầu phù). Gặp Tý, Ngọ, Mão, Dậu là Thượng nguyên; gặp Dần, Thân, Tỵ, Hợi là Trung nguyên; gặp Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là Hạ nguyên. Thời điểm đổi cục hoàn toàn tuân theo thời gian giao tiết của tiết khí; cách dùng giống như phương pháp Tử Bình.

Dưới đây sẽ giải thích phương pháp sắp xếp cục Kỳ Môn Độn Giáp Chuyển bàn thông qua ví dụ thực tế.

Ví dụ: Giờ: 11h15' ngày 29 tháng 11 năm 2016 (Dương lịch). Tra Kỳ Môn vạn niên lịch, can chi của ngày này như sau:

Can chi: Bính Thân niên, Kỷ Hợi nguyệt, Ất Mão nhật, Nhâm Ngọ thời.
21 tháng 12 là Đông chí, dùng Dương độn cục; nhưng hiện tại đang thuộc Âm độn. 22 tháng 11 là tiết Tiểu tuyết, tháng 12 mới đến Đại tuyết, do đó dùng cục là 5-8-2 (Tiểu tuyết 5-8-2). Tý, Ngọ, Mão, Dậu là Thượng nguyên dùng cục 5; Dần, Thân, Tỵ, Hợi là Trung nguyên dùng cục 8; Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là Hạ nguyên dùng cục 2. Ngày Ất Mão có phù đầu là Giáp Dần; Giáp Dần thuộc Dần, Thân, Tỵ, Hợi (Trung nguyên), vì vậy dùng Âm độn cục 8.

2. Sắp xếp Cửu cung, Tam kỳ, Lục nghi

Cửu cung là khung và trận địa để sắp xếp cục, nó là sự kết hợp giữa Lạc thư và Hậu thiên bát quái. Số ở trung cung là 5, được gửi tại cung Khôn (Nhị). Sắp xếp theo thứ tự như hình vẽ:

(Lược hình vẽ)

Làm thế nào để dùng Cửu cung sắp xếp cục? Dùng Tam kỳ, Lục nghi để suy diễn.

  • Lục nghi là: Mậu (Giáp Tý), Kỷ (Giáp Tuất), Canh (Giáp Thân), Tân (Giáp Ngọ), Nhâm (Giáp Thìn), Quý (Giáp Dần).

  • Tam kỳ là: Ất kỳ (Nhật kỳ), Bính kỳ (Nguyệt kỳ), Đinh kỳ (Tinh kỳ).

Thứ tự khi sắp xếp cục là: Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, Đinh, Bính, Ất.

"Vài cục" có nghĩa là khi sắp xếp cục, Giáp Tý Mậu ở cung nào. Cục 1 là Giáp Tý Mậu ở cung Khảm (1), cục 2 là Giáp Tý Mậu ở cung Khôn (2), các cục khác suy ra tương tự. Đây là Âm độn cục 8. Âm độn cục 8 có nghĩa là sắp Mậu (đầu của Lục nghi) ở cung Cấn (8), thì Kỷ ở cung Đoài (7), Canh ở cung Càn (6)... chi tiết như sau:

(Lược hình vẽ)

Cần lưu ý: Dương độn thì thuận bố Lục nghi, nghịch bố Tam kỳÂm độn thì ngược lại. Vì vậy, ở đây (Âm độn cục 8) là nghịch bố Lục nghi, thuận bố Tam kỳ.

Tiếp theo, xác định tuần thủ (đầu tuần) của trụ thời. Trụ thời Nhâm Ngọ thuộc Giáp Tuất tuần. Đầu tuần Giáp Tuất ẩn dưới Lục nghi Kỷ. Do đó, tuần thủ của trụ thời là Giáp Tuất Kỷ. Vì tuần thủ là Giáp Tuất Kỷ, nay Kỷ rơi vào cung Đoài (7). Sao bản vị của cung Đoài là Thiên Trụ tinh, cửa bản vị là Kinh môn. Trong Kỳ Môn, sao ở cung chứa tuần thủ của trụ thời được gọi là Giá Phù (值符), cửa ở cung đó được gọi là Giá Sử (值使). Vậy Giá Phù là Thiên Trụ tinhGiá Sử là Kinh môn.

3. Sắp xếp Cửu tinh, Bát môn, Bát thần

Tiếp ví dụ trên. Trong ví dụ, Giá Phù rơi vào cung của thời can (Nhâm). Các sao còn lại xoay theo chiều kim đồng hồ để sắp xếp. Ở ví dụ này, thời can là Nhâm, Nhâm rơi vào cung Tốn (4), tức là đặt Giá Phù vào cung Tốn (4). Tuần thủ là Giáp Tuất Kỷ, ở cung Đoài (7). Sao bản vị của cung Đoài (7) là Thiên Trụ tinh, vì vậy đặt sao Thiên Trụ vào cung Tốn (4) - nơi có thời can Nhâm, sau đó sắp xếp theo thứ tự Cửu tinh vào 9 cung, như hình:

(Lược hình vẽ)

  • Cửu tinh theo thứ tự: Bồng, Nhâm, Xung, Phụ, Anh, Nhuế (Cầm), Trụ, Tâm, xoay thuận chiều kim đồng hồ sắp xếp vào 9 cung. Bất kể Âm độn hay Dương độn, luôn xoay thuận chiều kim đồng hồ để sắp xếp 9 cung, bắt đầu từ cung Giá Phù.

4. Bước cuối cùng: Viết lên trên đầu sao đã chuyển đến mỗi cung chính là Tam kỳ Lục nghi ở bản vị Địa bàn của sao đó. Ví dụ sao Thiên Trụ, bản vị của nó ở cung Đoài (2) – cung Đoài Địa bàn có Tam kỳ Lục nghi là Kỷ, vì vậy viết Kỷ lên đầu sao Thiên Trụ đã chuyển đến cung Tốn (4)... Các cung khác cũng làm tương tự. Sau đó thêm thông tin năm, tháng, ngày, giờ:

Dương lịch: 11h15' ngày 29 tháng 11 năm 2016 – Âm độn 8 cục
Âm lịch: 11h15' ngày 01 tháng 11 năm 2016
Lập đông: 7/11/2016 9:34:00 – Đại tuyết: ...
Can chi: Bính Thân niên, Kỷ Hợi nguyệt, Ất Mão nhật, Nhâm Ngọ thời
Tuần không: Thìn Tỵ không, Thìn Tỵ không, Tý Sửu không, Thân Dậu không
Trực phù: Thiên Trụ – Trực sử: Kinh môn – Tuần thủ: Giáp Tuất Kỷ

Như vậy đã hoàn thành một bảng sắp xếp cục Kỳ Môn Độn Giáp hoàn chỉnh. Cần lưu ý: Tổ hợp Thiên Nhuế tinh và Thiên Cầm tinh cùng rơi vào một cung. Thiên Cầm tinh có bản vị ở Trung cung (5). Trung cung ngũ hành thuộc Thổ, thường được gửi tại cung Khôn (2), vì vậy Thiên Nhuế tinh và Thiên Cầm tinh cùng rơi vào một cung. Còn có một phương pháp gửi cung khác: Dương độn thì Thiên Cầm tinh gửi tại cung Cấn (8), tức là Thiên Cầm tinh cùng rơi với Thiên Nhâm tinh; Âm độn thì Thiên Cầm tinh cùng rơi với Thiên Nhuế tinh. Có thể sử dụng cả hai phương pháp này. Rất nhiều học giả cho rằng, bất kể Âm độn hay Dương độn, Trung cung (5) của Thiên Cầm tinh đều nhất luật gửi tại cung Khôn (2). Nhưng cá nhân tôi cho rằng, phương pháp Dương độn gửi tại cung Cấn (8), Âm độn gửi tại cung Khôn (2) là phù hợp với dễ lý, có thể sử dụng như một phương pháp chuẩn mực. Một cách dùng khác tôi có thể giới thiệu sau, nhưng cách tôi thường dùng vẫn là cách gửi: Dương Cấn, Âm Khôn.

Về phương pháp khởi cục Kỳ Môn, do giới hạn dung lượng, tôi chỉ giới thiệu một cách đơn giản. Nếu bạn đọc sau khi xem vẫn chưa rõ, có thể tự tham khảo thêm tài liệu liên quan, tôi sẽ không trình bày chi tiết nữa.

Dưới đây xin giới thiệu một phương pháp khởi Kỳ Môn nhanh trên tay (chưởng thượng), khá dễ dùng. Tôi đã từng dùng một thời gian, sau... sau vì điện thoại sắp xếp cục trở nên phổ biến, tôi lười quá, thường dùng điện thoại để sắp cục. Nhưng đối với người mới học, tôi vẫn khuyến khích nên thành thạo phương pháp khởi cục trên giấy, trên tay, vì nó giúp ích cho việc xây dựng nền tảng vững chắc.

PHƯƠNG PHÁP SẮP XẾP NHANH KỲ MÔN (KHỞI CỤC TRÊN TAY)

(Tài liệu mạng, không rõ nguồn gốc, xin được đính kèm dưới đây)

Tâm toán pháp sắp xếp bàn Kỳ Môn:

Bước 1: Cần ghi nhớ thứ tự số và thứ tự sắp xếp của các yếu tố trong 3 bàn Kỳ Môn.

  • Thứ tự Tam kỳ Lục nghi: Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, Đinh, Bính, Ất tương ứng với các số: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9.

  • 9 cửa (Bát môn + Trung môn): Hưu, Tử, Thương, Đỗ, Trung, Khai, Kinh, Sinh, Cảnh tương ứng: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9.

  • 9 sao (Cửu tinh): Bồng, Nhuế, Xung, Phụ, Cầm, Tâm, Trụ, Nhâm, Anh tương ứng: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9.

  • 8 thần: Phù, Xà, Âm, Lục, Bạch, Huyền, Địa, Thiên tương ứng: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8.

  • Thứ tự sắp xếp 8 cửa: Hưu, Sinh, Thương, Đỗ, Cảnh, Tử, Kinh, Khai – lần lượt vòng quanh 8 cung.

  • Thứ tự sắp xếp 9 sao: Bồng, Nhâm, Xung, Phụ, Anh, Nhuế (Cầm), Trụ, Tâm – lần lượt vòng quanh 8 cung.

  • Thứ tự sắp xếp 8 thần: Phù, Xà, Âm, Lục, Bạch, Huyền, Địa, Thiên – lần lượt vòng quanh 8 cung.

Bước 2: Nhanh chóng phán đoán thời gian thuộc tuần nào.

  • Các tuần: Giáp Tý (Mậu), Giáp Tuất (Kỷ), Giáp Thân (Canh), Giáp Ngọ (Tân), Giáp Thìn (Nhâm), Giáp Dần (Quý).

  • Tương ứng với số: 1, 2, 3, 4, 5, 6.

  • 10 Thiên can tương ứng với số 1 đến 10.

  • 12 Địa chi tương ứng với số 1 đến 12.

Trước khi phán đoán, cần nhớ: 60 Giáp Tý chia thành 6 tuần, mỗi tuần tương ứng với số: 0, 10, 8, 6, 4, 2.

Ví dụ: Giờ Bính Thìn – muốn biết ở tuần nào. Thiên can Bính = 3, Địa chi Thìn = 5. 5 - 3 = 2, vậy biết giờ Bính Thìn ở tuần thứ 6, tức là tuần Giáp Dần (Quý). Ví dụ khác: Giờ Bính Tý, Bính = 3, Tý = 1, 1 - 3 = -2, ra số nhỏ hơn 0 thì làm thế nào? Thì cộng thêm 12! Kết quả = 10, vậy biết là tuần thứ 2, tuần Giáp Tuất (Kỷ). Ở đây cần đặc biệt nói rõ, biết thời gian ở tuần nào là rất quan trọng, mấu chốt để tìm trực phù trong sắp xếp bàn Kỳ Môn chính là ở đây!

Công thức tóm gọn như sau:
Số thứ tự tuần = Số Địa chi - Số Thiên can
Nếu số thứ tự tuần nhỏ hơn 0 thì cộng thêm 12 để ra số thứ tự tuần cuối cùng. Nếu kết quả = 0 là tuần Giáp Tý, = 10 là tuần Giáp Tuất, v.v... suy ra tương tự.

Bước 3: Căn cứ vào số cục đã dùng để tìm Giá Phù và Giá Sử.

Cách tìm Giá Phù và Giá Sử trong Dương độn:
Số thứ tự Giá Phù - Giá Sử = Số cục đang dùng + Số thứ tự tuần của thời gian - 1
Nếu kết quả lớn hơn 9 thì trừ đi 9 để ra số thứ tự cuối cùng.

  • Nếu số thứ tự = 1 thì Giá Phù là Thiên Bồng, Giá Sử là Hưu môn.

  • = 2: Giá Phù là Thiên Nhuế, Giá Sử là Tử môn.

  • ... suy ra tương tự.

Cách tìm Giá Phù và Giá Sử trong Âm độn:
Số thứ tự Giá Phù - Giá Sử = 1 + Số cục đang dùng - Số thứ tự tuần của thời gian
Nếu kết quả lớn hơn 9 thì trừ đi 9 để ra số thứ tự cuối cùng.

  • Nếu số thứ tự = 1 thì Giá Phù là Thiên Bồng, Giá Sử là Hưu môn, v.v.

Bước 4: Tìm cung lạc của Giá Phù và Giá Sử.

Cách tìm trong Dương độn:
Số cung lạc của Giá Phù = Số thứ tự của Thời can trong Tam kỳ Lục nghi + Số cục - 1
Nếu số cung > 9 thì trừ 9; nếu < 0 thì cộng 9.

Cách tìm trong Âm độn:
Số cung lạc của Giá Phù = 1 + Số cục - Số thứ tự của Thời can trong Tam kỳ Lục nghi
Nếu số cung < 0 thì cộng 9; nếu > 9 thì trừ 9.

Ví dụ 1: Dương độn cục 7, giờ Ất Sửu. Tìm Giá Phù và cung lạc.

  • Ất trong 10 can ứng với 2, Sửu trong 12 chi ứng với 2. Biết Ất Sửu thuộc Giáp Tý tuần, số thứ tự tuần = 1.

  • Số thứ tự Giá Phù - Giá Sử = 7 + 1 - 1 = 7 → 7 ứng với cung 7, sao Thiên Trụ và Kinh môn. Vậy Thiên Trụ và Kinh môn là Giá Phù và Giá Sử.

  • Số cung lạc Giá Phù = 7 - 1 + 9 (số thứ tự của Ất trong Tam kỳ Lục nghi? Lưu ý: Thời can Ất, trong Tam kỳ Lục nghi, thứ tự là Mậu1, Kỷ2, Canh3, Tân4, Nhâm5, Quý6, Đinh7, Bính8, Ất9) = 7 - 1 + 9 = 15; 15>9, trừ 9 = 6. Vậy Giá Phù lạc cung 6 (Càn).

Ví dụ 2: Âm độn cục 6, giờ Tân Sửu. Tìm Giá Phù và cung lạc.

  • Tân trong 10 can ứng với 8, Sửu trong 12 chi ứng với 2. 2 - 8 = -6 < 0, cộng 12 = 6. Vậy Tân Sửu thuộc Giáp Ngọ tuần, số thứ tự tuần = 4.

  • Số thứ tự Giá Phù - Giá Sử = 1 + 6 - 4 = 3. 3 ứng với cung 3, sao Thiên Xung và Thương môn. Vậy Giá Phù là Thiên Xung, Giá Sử là Thương môn.

  • Số cung lạc Giá Phù = 1 + 6 - 4 (số thứ tự của Tân trong Tam kỳ Lục nghi? Tân thứ tự 4) = 3. Vậy Giá Phù lạc cung 3 (Chấn).

Trên đây không phân biệt Âm Dương độn. Nếu gặp Thiên Cầm là Giá Phù thì Thiên Cầm luôn đi cùng Thiên Nhuế, lấy Tử môn làm Giá Sử.

Bước 5: Tìm cung lạc của Giá Sử.

Cách tìm trong Dương độn:

  • Số thứ tự của Thời can trong 10 Thiên can: Giáp1, Ất2, Bính3, Đinh4, Mậu5, Kỷ6, Canh7, Tân8, Nhâm9, Quý10.

  • Cung lạc Giá Sử = Số thứ tự Giá Sử + Số thứ tự Thời can trong 10 can - 1
    Nếu kết quả > 9 thì trừ 9.

Cách tìm trong Âm độn:

  • Số thứ tự của Thời can trong 10 Thiên can (theo chiều nghịch): Giáp1, Ất9, Bính8, Đinh7, Mậu6, Kỷ5, Canh4, Tân3, Nhâm2, Quý1.

  • Cung lạc Giá Sử = Số thứ tự Giá Sử + Số thứ tự Thời can trong 10 can (nghịch) - 1
    Nếu kết quả > 9 thì trừ 9.

Trên đây không phân biệt Âm Dương độn. Nếu Giá Sử lạc Trung cung (5) thì gửi tại cung Khôn (2).

Ví dụ 1 (Dương độn 7, giờ Ất Sửu): Giá Phù Thiên Trụ, Giá Sử Kinh môn, số thứ tự Giá Sử = 7.

  • Cung lạc Giá Sử = 7 + 2 (Ất) - 1 = 8. Vậy Kinh môn lạc cung 8 (Cấn).

Ví dụ 2 (Âm độn 6, giờ Tân Sửu): Giá Phù Thiên Xung, Giá Sử Thương môn, số thứ tự Giá Sử = 3.

  • Thời can Tân, trong 10 can nghịch: Tân = 3.

  • Cung lạc Giá Sử = 3 + 3 - 1 = 5. Vậy Thương môn lạc cung 5 (Trung cung, gửi cung Khôn 2).

Năm bước trên là những điều cần phải ghi nhớ: số tương ứng của các yếu tố trên ba bàn, và trong những điều kiện nhất định, các số có thể xuôi hoặc ngược chiều. Ví dụ khi tìm Giá Sử, thứ tự số của 10 Thiên can ở Dương độn và Âm độn là khác nhau. Cần phân biệt rõ thứ tự số của 10 Thiên can và thứ tự số của Tam kỳ Lục nghi.

Bước 6: Căn cứ vào thông tin cung lạc của Giá Phù và Giá Sử đã tính từ 5 bước trên, dựa vào phương pháp sắp xếp Kỳ Môn Chuyển bàn (Chuyển bàn Kỳ Môn) để sắp xếp bàn.

Bước 7: Thuật toán Thiên bàn Kỳ Nghi.

  1. Trước hết cần biết và ghi nhớ thứ tự Kỳ Nghi: Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, Đinh, Bính, Ất; số tương ứng tự nhiên là: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9.

  2. Tiếp theo, căn cứ vào quy luật sắp xếp bàn Kỳ Môn: Thiên bàn Giá Phù tùy thời can tẩu (Dương thuận Âm nghịch) để tính toán. Trong Kỳ Môn bài cung pháp, mọi người đều biết, cách sắp xếp Thiên bàn tinh là xoay chuyển (chuyển bài), số tương ứng của các sao là: 1, 8, 3, 4, 9, 2, 7, 6. Dù thế nào thì thứ tự này cũng không thay đổi, nghĩa là sao Thiên Bồng tiếp theo nhất định là Thiên Nhâm, v.v. Khi đã có khái niệm này, những bước sau sẽ dễ dàng.

Công thức Thiên bàn Kỳ Nghi trong phép Chuyển bàn:

  • Dương độn: Số tương ứng của Thiên bàn Kỳ Nghi = Số tương ứng của Thiên bàn tinh - Số cục + 1. Nếu kết quả nhỏ hơn 1 thì cộng thêm 9 để ra số tương ứng của Kỳ Nghi.

  • Âm độn: Số tương ứng của Thiên bàn Kỳ Nghi = Số cục - Số tương ứng của Thiên bàn tinh + 1. Nếu kết quả nhỏ hơn 1 thì cộng thêm 9 để ra số tương ứng của Kỳ Nghi.

Phương pháp sắp xếp bàn trên tay này, nhìn qua có vẻ nhiều bước, nhưng thực tế sau một thời gian làm quen, rất dễ dùng, tốt hơn nhiều so với phương pháp sắp xếp cổ xưa, tiện lợi, nhanh chóng, ít sai sót. Tôi khuyến khích mọi người học tập. Còn về phần tôi, tôi dùng điện thoại! :)

Ở đây cần lưu ý một điều: Kỳ Môn và Tử Vi đều thuộc hệ thống chiêm tinh trong thuật số, vì vậy khi sử dụng, trong điều kiện thông thường, cần dùng giờ mặt trời thực (真太陽時) để hiệu chỉnh. Còn việc dùng bừa mà vẫn đúng, hoặc thỉnh thoảng đúng, đó thuộc về vấn đề "cảm thông" (感通), không phải là học thuật. Người nhân đức tự biết.

 

Các bài liên quan: