Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh - Quyển 18
Quyển 18
CHIẾM THẤT VẬT (Bói về mất mát, trộm cắp)
CHIẾM TẨU THẤT (Bói về người bỏ trốn, mất người – đi ở, nô tì, đầu súc…)
Phàm chiếm người đi mất (tẩu thất) như nhân khẩu, nô bộc, gia súc, nên đi hướng nào, ta tìm có biết được hay không? Lấy:
Can giờ làm chủ mất (thất chủ).
Lục Hợp làm vật (người) bị mất (tẩu thất chi vật).
Căn cứ vào cung rơi mà luận.
Phân nội ngoại từ cung của Lục Hợp và can giờ để đoán xa gần:
Can giờ và Lục Hợp đều ở bốn cung trong (nội tứ cung: Khảm, Cấn, Chấn, Tốn đối với Dương độn sau Đông Chí? Hoặc theo quy tắc nội ngoại của Kỳ Môn): dễ tìm.
Đều ở bốn cung ngoài (ngoại tứ cung: Ly, Khôn, Đoài, Càn): khó tìm.
Nếu can giờ ở ngoài, Lục Hợp ở trong: vẫn có thể tìm được.
Lấy cung Lục Hợp làm phương hướng.
Nếu được sao vượng tướng, lại được bốn cửa Cảnh, Tử, Kinh, Thương (景, 死, 驚, 傷): có thể tìm được.
Gặp Cửu Địa, Thái Âm: có người giấu kỹ.
Gặp Cửu Thiên: đã đi xa.
Gặp Huyền Vũ: bị người trộm cắp.
Gặp Đằng Xà: có người bắt bẻ, kìm giữ.
Gặp Chu Tước: sắp có tin tức.
Gặp Câu Trần: có người trong nhà xúi giục bỏ đi.
Lại xem Lục Canh ở năm, tháng, ngày, giờ.
Ví dụ: Đại Hàn trung nguyên, Dương cục 9, ngày Ất Canh, giờ Canh Thìn. Can giờ ở cung Chấn (3), Lục Hợp ở cung Khảm (1), là đều ở nội. Lại Lục Hợp ở Khảm (có nghĩa "có người giấu kỹ" vì Khảm chủ ẩn tàng), chủ không mất.
CHIẾM THẤT VẬT (Mất của cải, vàng bạc, tiền bạc…)
Phàm chiếm mất đồ như vàng bạc tiền của, lấy Giáp Tý Mậu làm tài vật.
Nếu thấy Huyền Vũ: bị người trộm.
Không thấy Huyền Vũ: tự mình đánh rơi.
Nếu cung Huyền Vũ khắc cung Thanh Long (Giáp Tý Mậu), và cung Thanh Long sinh cung Huyền Vũ: ắt bị trộm.
Lại xem lục giáp tuần trung không vong (tuần không):
Nếu Giáp Tý Mậu rơi cung không vong: hoặc tự đánh rơi, hoặc bị trộm, đều không thể tìm lại được.
Muốn hỏi mất ở chỗ nào: lấy phương hướng cung Giáp Tý Mậu mà định.
Ở nội tứ cung: ở trong nhà.
Ở ngoại tứ cung: mất ở nơi rất xa.
Lại lấy quái vị, thể tượng của cung để đoán (Bát quái phương vị, thể tượng):
Cấn (8): núi, thiếu nam, Đông Bắc.
Chấn (3): gỗ, trưởng nam, chính Đông.
Tốn (4): gỗ, trưởng nữ, Đông Nam.
Ly (9): văn, trung nữ, chính Nam.
Khôn (2): đất, lão mẫu, Tây Nam.
Đoài (7): đầm, thiếu nữ, chính Tây.
Càn (6): kim, lão phụ, Tây Bắc.
Khảm (1): thủy, trung nam, chính Bắc.
Muốn hỏi ngày tìm được: lấy địa bàn của cung (can chi) mà quyết định.
Nếu thấy Huyền Vũ (có kẻ trộm): lấy phương Huyền Vũ rơi để định phương kẻ trộm ở.
Dương tinh (sao Dương) là nam, Âm tinh là nữ.
Lại lấy can chi của thiên bàn và địa bàn nơi Huyền Vũ rơi để đoán y phục, đặc điểm của kẻ trộm.
Ví dụ: Đại Thử trung nguyên, Âm độn cục 1, ngày Mậu Quý, giờ Nhâm Tuất. Giáp Tý Mậu đến cung 3 (Chấn), không thấy Huyền Vũ, là tự mình đánh rơi, hướng Đông. Lại không thấy không vong, dùng thể tượng quẻ Chấn để tìm kiếm, gặp ngày Mão thì thấy. Nhưng Giáp Tý Mậu đến cung 3 là kích hình (Tý hình Mão), cũng bị tổn thương. Một thuyết: Huyền Vũ khắc Thanh Long, và Thanh Long khắc Huyền Vũ đều chủ tự đánh rơi.
CÁCH KHÁC CHIẾM THẤT VẬT
Lúc này (giờ xem) thiên bàn kỳ nghi và địa bàn sinh hợp, hoặc môn sinh cung: vật mất ắt thấy, hoặc tự đánh rơi, hoặc bị thân bằng hữu cất giấu.
Nếu môn cung tương khắc, trên dưới tương xung: vật ắt khó tìm.
Nếu hợp cách hung: vì mất vật mà ngược lại gây thị phi, phá tài.
Nếu môn sinh cung hợp cách hung, khách lại ở cung mộ suy mà tương hợp: là do người trong nhà ăn trộm.
Nếu cung sinh môn, can chi tương xung: là do người ngoài ăn trộm.
Dương tinh phạm: nam; Âm tinh phạm: nữ; Âm Dương tương tịnh (cùng xuất hiện): nam nữ đồng lõa.
Nếu dương tinh lâm cung mộ: nữ trộm nam giấu; nếu âm tinh lâm cung mộ: nam trộm nữ giấu.
Gặp vượng khí: người trẻ; gặp suy khí: người già.
Địa chi:
Dần: người cửa công (công môn nhân).
Mão: người đã phạm tội (phạm quá nhân).
Thìn, Tuất: lính tráng hoặc người hiếu dũng.
Tỵ: người thủ công hoặc thợ lò luyện.
Ngọ: người buôn bán (thương lữ nhân).
Thân: người láng giềng hoặc người tri kỷ.
Mùi: người cùng loại.
Dậu: người phù phiếm hoặc nhiều lời.
Hợi, Tý: người giang hồ, người chài lưới, người làm nước đá, hoặc người phiêu bạt.
Lại: can trên gặp sinh là người có căn cơ; gặp khắc là người vô căn; hoặc trên dưới tương hợp là người thân quyến.
Nếu gặp môn khắc cung hoặc can chi gặp Canh tương khắc: thêm kiêng kẻ trộm đến.
CHIẾM BẮT NGƯỜI BỎ TRỐN (Bổ vong nhân khẩu tẩu tẩu – Bắt người đã bỏ trốn)
Phàm chiếm vây bắt (tập bắt):
Lục Hợp làm người trốn (đào nhân).
Thương môn (3) làm người bắt (bộ giả).
Nếu cung Lục Hợp sinh cung Thương môn: tự trở về.
Nếu khắc Thương môn: không bắt được.
Nếu cung Thương môn khắc cung Lục Hợp: dễ bắt.
Nếu sinh Lục Hợp: không chịu bắt thực tâm, ắt phải đút lót.
Nếu Thương môn và Lục Hợp cùng cung: có sự thông đồng, che giấu.
Lại Lục Quý (Quý) là Thiên Võng: ở cung 1,2,3,4 (cung thấp) có thể bắt được; ở cung 5,6,7,8,9 (cung cao) không thể bắt.
Âm thời (giờ Âm) có thể bắt, dương thời không bắt được.
Lại Thái Bạch nhập Doanh (太白入荧) cùng cung thì ắt bắt được.
Lại nói: gặp năm, tháng, ngày, giờ giá trị (trực) thì có thể bắt.
CHIẾM QUAN SAI BẮT NGƯỜI ĐƯỢC HAY KHÔNG (Quan sai nã nhân hoạch phủ – bổ di)
Khai môn (6) làm quan phủ.
Trực Sứ làm sai dịch (người đi bắt).
Người có việc (tội nhân) xét theo năm sinh (bản mệnh).
Nếu cung Trực Sứ rơi cung không vong: không bắt được.
Nếu Trực Sứ gia lên bản mệnh năm sinh của người đó: bắt nhanh.
Nếu một cung trong, một cung ngoài: bắt chậm.
Gặp không vong: không bắt được.
Ví dụ: Giáp Tý tuần, không vong là Tuất, Hợi; địa bàn có Giáp Tuất Kỷ hoặc cung Càn (6) là không vong.
CHIẾM BẮT KẺ CHẠY TRỐN (Bắt tẩu tẩu – bắt kẻ trốn)
Lúc này Lục Quý (Quý) gia vào cung 1,2,3,4,5: đuổi gấp ắt thấy; nếu lâm cung 6,7,8,9, hoặc can trên khắc can dưới, hoặc môn khắc cung: trốn thì không đuổi kịp.
Muốn biết chạy trốn hướng nào: phải từ chỗ thiên bàn Lục Quý gia vào mà đuổi theo.
Ví dụ: Lâm cung 1 (Khảm): chạy về phương Bắc 1 dặm, 10 dặm hoặc 100 dặm.
Lâm cung 2 (Khôn): Tây Nam 2 dặm, 20 dặm hoặc 200 dặm. Các trường hợp khác suy tương tự.
Thiên bàn Lục Quý là kẻ trộm, người trốn.
Nếu gia vào cung vượng (đắc khí): khoảng cách 100 dặm.
Gặp suy mộ: 10 dặm.
Gặp suy mộ mà bị khắc: 1 dặm.
Nếu gặp vượng khí, gặp sinh: khó đuổi bắt.
Nếu địa bàn cung này khắc Lục Quý, hoặc cung Lục Quý sinh cung này: dễ thấy.
Nếu Lục Quý và cung này tỷ hòa: ắt dễ thấy.
Nếu Lục Quý khắc cung này, hoặc cung này khắc Lục Quý: ắt khó tìm.
CHIẾM BẮT TRỘM (Bổ đạo – bổ di)
Bắt trộm có hai nghĩa: đại đạo (cướp lớn) và thiết đạo (trộm vặt).
Đại đạo (cướp lớn): do sao Thiên Bồng (1) chủ.
Thiết đạo (trộm vặt): do Huyền Vũ chủ.
Thương môn (3) làm người bắt.
Can giờ làm chủ nhà (chủ nhân).
Thương môn khắc Huyền Vũ: dễ tìm.
Can giờ khắc Huyền Vũ: dễ bắt.
Thương môn sinh Huyền Vũ: không chịu bắt thực tâm.
Huyền Vũ đến khắc can giờ: có ý hại chủ nhà.
Huyền Vũ khắc Thương môn: có ý hại người bắt.
Nếu Thương môn và Thiên Bồng cùng cung, lại có can giờ khắc: bắt không trượt.
Nếu Lục Canh và Huyền Vũ cùng cung (là đại đạo), Thương môn và Huyền Vũ cùng cung, dù có can giờ khắc, cũng chủ không bắt được. Vì người bắt và trộm có sự thông đồng.
Đại để Lục Canh là kẻ địch, là đạo (trộm cướp); Huyền Vũ là thiết đạo (trộm vặt). Khi bị trộm, nên xem cung Thiên Bồng (đại đạo) hoặc Huyền Vũ (tiểu đạo) để chiếm.
CHIẾM TRỐN NẠN (Táo nạn – trốn khỏi nguy nan)
Phàm có nguy hiểm, trốn tránh sang nơi khác, nên xem các phương có Đỗ môn (4), Lục Đinh (6), Lục Kỷ (6), Lục Quý (6), hoặc Lục Hợp, thiên bàn Thiên Xung và Sinh môn.
Lại xem phương của can giờ bản thời (giờ động sự). Được một trong các yếu tố trên thì tốt; nếu gặp sao cát, tam kỳ đại cát; trái lại không lợi.
Phàm tránh binh lính: xem Lục Canh.
Tránh trộm cướp: xem Thiên Bồng.
Tránh quan tụng, kiện cáo: xem Lục Tân.
Lấy can giờ làm bản thân.
Nếu Canh gia can giờ (庚加時幹) không ở nội địa: không cần tránh.
Ở nội địa nhưng không khắc can giờ: không cần tránh.
Gia can giờ, khắc can giờ, lại ở nội địa: rất nên tránh gấp.
CHIẾM TRỐN TRÁNH (Tị tị – tránh né)
Tránh binh nạn: xem Lục Canh.
Tránh trộm cướp: xem Thiên Bồng.
Tránh quan tụng: xem Lục Tân.
Can giờ là chính mình.
Nếu sao chủ (chỉ hung thần) khắc can giờ, lại lâm nội địa và gia lên can giờ: nên tránh.
Nếu khắc can giờ nhưng gia lên can giờ (có thể hiểu là khắc nhưng không ở nội địa hoặc không gia? cần đọc kỹ) cũng không cần tránh.
Tránh kẻ thù (cừu gia): xem căn nguyên của họa.
Người động trước (chủ động gây họa) là khách, là dương, do Lục Bính chủ.
Người động sau (bị động) là chủ, là âm, do Lục Canh chủ.
Nếu khách (bên kia) chiếm, nên tránh hay không? Nếu cung Lục Canh khắc cung Lục Bính, lại lâm nội địa: nên tránh.
Nếu Lục Canh cưỡi sao hưu tù mà gia Bính: không cần tránh.
Nếu cưỡi sao vượng tướng mà gia Bính: nên tránh.
Phàm chiếm trốn tránh, cũng xem Lục Bính tương tự. Nhưng nếu dưới lâm Lục Canh (Bính gia Canh), mọi việc sắp lui, tổng thể không cần tránh.
CHIẾM TIỂU TẶC ĐẠO (Kẻ trộm vặt, cướp nhỏ)
Lúc này nếu can dưới khắc can trên, cung khắc môn, địa bàn ở cung sinh vượng: dù có tiểu nhân, trộm cướp cũng không dám đến phạm.
Nếu can trên Canh hoặc nhật can khắc can giờ, môn khắc cung mà hợp cách hung, sao chủ lâm cung thất lệnh: tiểu nhân, trộm cướp phải cẩn thận, hoặc bị hại lớn.
Không nên trên dưới can chi tỷ hòa tương sinh (đều không tốt), nên tương xung, ta khắc kẻ trộm thì chúng không dám đến phạm.
CHIẾM NGƯỜI MƯU HẠI (Nhân mưu hại)
Xem hai chữ Canh và Giáp, vì Kỳ Môn tôn Giáp, tránh Canh.
Canh là kẻ thù (cừu nhân).
Giáp là bản thân.
Xem cung rơi làm chủ.
Nếu cung Canh kim khắc cung Giáp: có mưu hại.
Nếu cung Giáp khắc cung Canh: không mưu hại.
Nếu cung Giáp bị kích hình: có hại.
Nếu Giáp vượng tướng: dù bị kích hình cũng không bị hại.
Nếu các sao trên dưới đều đến khắc Canh, hoặc Giáp Thân Canh làm Trực Phù (giá trị phù) thì đều không bị hại, vì họ đang có việc gấp, không rảnh hại người.
