《KỲ MÔN ĐỘN GIÁP》HOÀNG THẠCH CÔNG KỲ MÔN 72 CỤC QUÂN TRUNG ỨNG NGHIỆM THẦN PHÙ KINH

HOÀNG THẠCH CÔNG KỲ MÔN 72 CỤC QUÂN TRUNG ỨNG NGHIỆM THẦN PHÙ KINH

Cục thứ nhất
Kỳ Ất đồng Tả Phụ Tinh lâm Hưu Môn. Hiệu viết "Phi Long Tại Thiên" (Rồng bay trên trời). Chủ về tướng quân tại đất kinh thành xa ngàn dặm, lợi cho tiến binh phía Tây, cắm trại, ra cửa có hai chim cùng hót thành kỳ công.
(Dương ngũ cục, Giáp Kỷ nhật, Ất Hợi thời, nhưng không có Cửu Địa chi thần, cần tra cứu.
Dương tam cục, Ất Canh nhật, Bính Tuất thời, nhưng không có Huyền Vũ chi thần.
Âm tam cục, Bính Tân nhật, Mậu Tý thời.
Dương tam cục, Giáp Kỷ nhật, Ất Hợi thời có Thiên Phụ.)

Cục thứ hai
Kỳ Ất đồng Cửu Thiên, Trụ Tinh lâm Sinh Môn. Hiệu viết "Thanh Vân Đắc Lộ" (Xanh mây được lối). Xuất quân chủ đại thắng, được năm nghìn thủ cấp, đất trăm dặm. Ra cửa gặp bà lão đến bên trái, quân hành năm trăm dặm có rượu nước mang đến đón, cát.

Cục thứ ba
Kỳ Ất đồng Nhâm Tinh, Thái Âm lâm Thương Môn. Hiệu viết "Thái Âm Đương Quyền" (Thái Âm nắm quyền). Chủ đại tướng xuất trận đắc thắng, thu được quân nhu, lương thực... Quân hành cung Khảm năm trăm dặm có mây bao phủ, phía Tây có tiếng trống nhạc, đại lợi.

Cục thứ tư
Kỳ Ất đồng Trực Phù, Anh Tinh lâm Đỗ Môn. Hiệu viết "Sấm Sét Lôi Toàn". Nên phó tướng xuất quân, chính tướng ngồi trại, được đất bốn mươi dặm, thủ cấp hơn năm nghìn. Quân hành nên xuất phát từ cung Đoài, ra cửa gặp đạo nhân, trong trại có cờ xí gãy, đại lợi.
(Dương lục cục, Bính Tân nhật, Ất Mùi thời.
Âm nhị cục, Ất Canh nhật, Ất Dậu thời.)

Cục thứ năm
Kỳ Ất đồng Lục Hợp lâm Cảnh Môn. Hiệu viết "Thiên Mã Trì Tinh" (Trời ngựa chạy sao). Quân hành nên xuất cung Đoài, ngồi trại cung Tốn. Có người lạ hiến kế, được quân mã ở kinh thành. Ra cửa có gió lớn, đi đến năm trăm dặm mưa lớn bất chợt đến, cát.
(Dương bát cục, Mậu Quý nhật, Ất Mão thời, có phải là Thiên Trụ Tinh không? Cần tra cứu.
Âm nhất cục, Mậu Quý nhật, Ất Mão thời, cùng cục lại là Thiên Nhuế.)

Cục thứ sáu
Kỳ Ất đồng Bạch Hổ, Tâm Tinh lâm Tử Môn. Hiệu viết "Ngũ Hổ Lâm Môn" (Năm hổ đến cửa). Nên xuất cung Tỵ, ngồi cung Ngọ. Chính tướng đại thắng, được thành trì, thủ cấp, xe ngựa, của cải. Quân hành ra cửa có khí màu tím, đi ba dặm có người cầm dù vàng đến, đại cát.

Cục thứ bảy
Kỳ Ất đồng Thái Âm, Cầm Tinh lâm Kinh Môn. Hiệu viết "Nguyệt Xuất Thiên Cù" (Trăng ra khỏi đường trời). Quân hành nên xuất cung Càn, ngồi trại cung Tỵ. Đánh thành lợi Tây Bắc, đoạt đất lợi Đông Nam. Ra cửa có ba người cưỡi ngựa bay đến báo tin, có tiếng chim ưng kêu, đại lợi.

Cục thứ tám
Kỳ Ất đồng Cửu Thiên, Thiên Phụ Tinh lâm Khai Môn. Hiệu viết "Thái Âm Đắc Lệnh" (Thái Âm được lệnh). Đến mức thiên tử thân chinh, hàng phục bốn phương, trừ diệt kẻ bất pháp.
(Âm tam cục, Giáp Kỷ nhật, Ất Sửu thời.)

Cục thứ chín
Kỳ Ất đồng Trụ Tinh, Trực Phù lâm Hưu Môn. Hiệu viết "Bạch Hổ Dương Uy" (Hổ trắng oai phong). Nên cướp trại quân địch, đoạt lương thảo của người, đại thắng. Nên xuất trận cung Khảm, ngồi trại cung Tốn, chủ tướng có công. Ra cửa ba dặm có chim xanh bay kêu, trên đường gặp lửa cháy, đại cát.
(Dương tam cục, Đinh Nhâm nhật, Ất Tỵ thời.
Âm bát cục, Giáp Kỷ nhật, Ất Hợi thời.)

Cục thứ mười
Kỳ Ất đồng Cửu Thiên, Trụ Tinh lâm Sinh Môn. Hiệu viết "Thiên La Địa Võng" (Lưới trời lưới đất). Chủ đại tướng xuất trận, trăm trận trăm thắng, được đất nghìn dặm, thành trì mười mấy, chỗ nào đến cũng lợi. Quân hành ra cửa có gió lớn nổi lên từ Tây Bắc, Đông Bắc có tiếng sấm đáp ứng, đại cát.

Cục thứ mười một
Kỳ Ất đồng Thái Âm, Trụ Tinh lâm Thương Môn. Hiệu viết "Lục Hợp Đồng Xuân" (Sáu hợp cùng xuân). Xuất quân có tổn thất khi chiến đấu, nên phòng địch có cung nỏ mai phục ở Đông Tây. Xuất quân nên phòng bị. Đi đường có mây vàng nổi lên bốn phía, thời Thìn Tỵ là lợi.

Cục thứ mười hai
Kỳ Ất đồng Lục Hợp, Trụ Tinh lâm Đỗ Môn. Hiệu viết "Ngọc Nữ Quy Quan" (Ngọc nữ về cửa). Xuất chiến đại tướng bị thương, lợi Đông Bắc, không lợi Tây Nam. Quân hành ra cửa mưa nhỏ, không lợi.

Cục thứ mười ba
Kỳ Ất đồng Cửu Thiên, Cầm Tinh lâm Cảnh Môn. Hiệu viết "Hỷ Thước Tranh Sào" (Chim khách tranh tổ). Lợi dùng hỏa công, sau đó cướp trại địch, được khí giới, khiên mác... Quân hành giờ Ngọ, ra cửa giờ Mùi, binh hành ba dặm gặp thỏ, đại cát.

Cục thứ mười bốn
Kỳ Ất đồng Chu Tước, Nhâm Tinh lâm Tử Môn. Hiệu viết "Điểu Chiếm Khô Chi" (Chim đậu cành khô). Xuất quân chủ tốt lính tan rã, việc làm không thành, chiến không thắng. Quân hành ra cửa có chim nhạn bay về nam, không cát.
(Dương cửu cục, Ất Canh nhật, Bính Tuất thời.)

Cục thứ mười lăm
Kỳ Ất đồng Đằng Xà, Phụ Tinh lâm Kinh Môn. Hiệu viết "Hoàng Long Thăng Thiên" (Rồng vàng lên trời). Xuất trận nên thủy chiến không nên lục chiến. Thủy chiến có gió Đông trời giúp, lợi hỏa công. Quân hành năm trăm dặm có khí màu tím, đại cát.

Cục thứ mười sáu
Kỳ Ất đồng Thái Âm, Bồng Tinh lâm Khai Môn. Hiệu viết "Thiên Hổ Tư Hoành" (Hổ trời cầm cân). Lợi thủ không lợi chiến. Chính tướng xuất quân có ưu. Nên xuất cung Tốn, dùng Đinh Giáp phù đốt có thể tránh được. Trên đường gặp mây che mặt trời đỏ, không lợi.

Cục thứ mười bảy
Kỳ Ất đồng Cửu Địa, Nhuế Tinh lâm Hưu Môn. Hiệu viết "Thiên Khu Trực Nhật" (Chốt trời trực nhật). Quân hành nên xuất cung Càn, ngồi trại cung Mùi, không lợi đánh thành. Nếu vào tiết Đại Hàn mới lợi đánh thành. Quân hành ra cửa có người năm màu đến, đại lợi.
(Dương tam cục, Giáp Kỷ nhật, Ất Hợi thời.)

Cục thứ mười tám
Kỳ Ất đồng Thái Âm, Xung Tinh lâm Sinh Môn. Hiệu viết "Bạch Lộ Hoành Giang" (Sương trắng ngang sông). Nên xuất cung Khảm hoặc cung Ngọ, dùng phù thủy phun ra, lợi thủy chiến, có thể được hai nghìn thủ cấp, mấy trăm xe thuyền. Ra cửa có cá trắng vào thuyền, đại lợi.

Cục thứ mười chín
Kỳ Ất đồng Lục Hợp, Cầm Tinh lâm Thương Môn. Hiệu viết "Phong Tán Bách Hoa" (Gió tán trăm hoa). Không nên xuất quân, không lợi cho chủ tướng, có họa mất lính, lật thuyền. Quân hành ra cửa gặp gió Tây, có gió ác, không lợi. Hành quân nếu việc gấp không thể khác, nên xuất cung Tốn, trước hết viết Lục Giáp phù, phun lên, đốt đi, có thể tránh được hung sát.
(Âm tứ cục, Mậu Quý nhật, Ất Mão thời.)

Cục thứ hai mươi
Kỳ Ất đồng Phụ Tinh, Bạch Hổ lâm Đỗ Môn. Hiệu viết "Hổ Khiếu Sinh Phong" (Hổ gầm sinh gió). Quân hành nên xuất cung Dần, ngồi cung Tỵ, lợi lục chiến. Năm mươi dặm đất có phục binh, nên lui không nên tiến. Ra cửa có người mù đến, chủ tiểu lợi.

Cục thứ hai mươi mốt
Kỳ Ất đồng Cửu Thiên, Nhâm Tinh lâm Cảnh Môn. Hiệu viết "Phi Ngô Bảo Hỏa" (Con thiêu thân lao vào lửa). Không lợi giữ thành, nên tử chiến giữ thành, phá địch thì có thể. Nếu địch có kế phản gián, không thể theo. Ra cửa có chó trắng cản đường, không lợi.

Cục thứ hai mươi hai
Kỳ Ất đồng Chu Tước, Trụ Tinh lâm Tử Môn. Hiệu viết "Thi Hoành Biến Dã" (Thây nằm ngổn ngang đồng nội). Không nên xuất quân, nên cố thủ doanh lũy, cẩn phòng hai phương Tây, Bắc có giặc cướp trại. Giờ Ngọ không lợi.
(Dương độn Chu Tước tức Âm độn Huyền Vũ.
Âm lục cục, Ất Canh nhật, Ất Dậu thời.)

Cục thứ hai mươi ba
Kỳ Ất đồng Đằng Xà, Nhâm Tinh lâm Kinh Môn. Hiệu viết "Côn Trùng Biến Hóa" (Côn trùng biến hóa). Nên xuất phương Tây, thủy lục đều lợi. Thành trì có thể phá, đại tướng có thể bắt. Ra cửa có mây trắng trên không, đi ba dặm trời có mưa nhỏ, đại lợi.

Cục thứ hai mươi tư
Kỳ Ất đồng Nhâm Tinh, nhập phù lâm Khai Môn. Hiệu viết "Thiên Môn Đại Khai" (Cửa trời mở to). Đại tướng xuất quân, được thành trì, mấy trăm thủ cấp. Quân hành nên từ cung Khảm, chủ nghe tiếng trống nhạc, có dân dã hiến kế, đại lợi.
(Dương bát cục, Giáp Kỷ nhật, Ất Sửu thời.
Âm tứ cục, Mậu Quý nhật, Ất Mão thời.
Âm thất cục, Mậu Quý nhật, Ất Mão thời.)

Cục thứ hai mươi lăm
Kỳ Bính đồng Lục Hợp, Nhuế Tinh lâm Hưu Môn. Hiệu viết "Ngũ Tinh Tụ Hội" (Năm sao tụ hội). Đại tướng xuất quân, nên xuất cung Khôn, ngồi cung Tốn, được năm nghìn thủ cấp, lại được một đại tướng biết thiên văn địa lý, có thể chiêu hàng. Đại tướng xuất quân nên gặp tuyết lớn, xuân gặp mưa nhỏ, có hai con chó từ phương Tây đến.
(Âm cửu cục, Đinh Nhâm nhật, Bính Ngọ thời.)

Cục thứ hai mươi sáu
Kỳ Bính lâm Chu Tước, Nhâm Tinh lâm Sinh Môn. Hiệu viết "Như Ngư Thất Thủy" (Như cá mất nước). Đại tướng xuất quân không lợi, chủ tốt lính bị thương bởi lửa tên. Nếu việc gấp không thể khác, xuất cung Khảm, nên viết Đinh Giáp phù, dùng thủy chế ngự có thể phản hung thành cát. Ra cửa kỵ gặp người cầm vật màu sắc đến, không lợi.

Cục thứ hai mươi bảy
Kỳ Bính đồng Trực Phù, Tâm Tinh lâm Thương Môn. Hiệu viết "Đắc Xuất Thiên La" (Ra khỏi lưới trời). Chủ đại tướng xuất quân, nên xuất phương Nam, ngồi chính Bắc, ban đầu không lợi, chủ giờ Ngọ thu được nhiều quân nhu, khí giới. Trên đường gặp người mặc áo xanh cầm thư hiến kế đến đón, đại cát.

Cục thứ hai mươi tám
Kỳ Bính đồng Trực Phù, Nhuế Tinh lâm Đỗ Môn gặp Giáp Kỷ nhật. Hiệu viết "Lục Giáp Phùng Thời" (Sáu Giáp gặp thời). Xuất quân có tổn thương nhẹ, tốt lính đều có vẻ lo lắng. Giờ Ngọ xuất binh đại lợi, được đất, phá thành, lòng người quy thuận. Ra cửa năm trăm dặm có phụ nữ mặc áo màu từ phương Tây đến, đại lợi.
(Dương bát cục, Bính Tân nhật, Bính Thân thời.)

Cục thứ hai mươi chín
Kỳ Bính đồng Câu Trần, Bồng Tinh lâm Cảnh Môn. Hiệu viết "Ngư Long Biến Hóa" (Cá rồng biến hóa). Chủ tướng xuất quân một mình cưỡi ngựa phá trận, bắt được mấy chục thủ cấp. Nên ngồi trại cung Khôn. Quân hành ra cửa gặp tiên phong, đạo nhân, đại lợi.
(Dương độn Câu Trần, Âm độn Bạch Hổ.
Âm bát cục, Bính Tân nhật, Đinh Dậu thời.)

Cục thứ ba mươi
Kỳ Bính đồng Câu Trần, Anh Tinh lâm Tử Môn, gặp giờ Ngọ, Mùi. Hiệu viết "Bảo Kính Trùng Ma" (Gương báu mài lại). Đại tướng xuất quân, trước bại sau thắng, được đất năm nghìn, nên xuất cung Chấn. Ra cửa gặp đạo nhân mặc áo vàng cưỡi ngựa trắng đến, đại lợi.
(Dương nhị cục, Bính Tân nhật, Bính Thân thời.
Âm nhị cục, Bính Tân nhật, Mậu Tuất, Kỷ Hợi đều giống.)

Cục thứ ba mươi mốt
Kỳ Bính đồng Thái Âm lâm Kinh Môn. Hiệu viết "Xà Nhập Long Huyệt" (Rắn vào hang rồng). Chủ tướng xuất quân có thể, nên vào thành trì của người, được vàng báu mấy vạn. Quân hành ra cửa phía Tây có tiếng trống, mây trắng chiếu Đẩu Ngưu, mây vàng phủ đỉnh, đại lợi.
(Dương cửu cục, Mậu Quý nhật, Bính Thìn thời, nhưng thiếu tên sao, có phải Thiên Trụ lâm cung không? Chờ tra.)

Cục thứ ba mươi hai
Kỳ Bính đồng Cửu Thiên, Lục Hợp lâm Khai Môn. Hiệu viết "Hồng Hộc Xung Thiên" (Chim hồng hộc xông lên trời). Chủ đại tướng xuất quân đại thắng, có thể đoạt đất của người, chém tướng, cướp cờ. Trong quân có người trở về doanh. Ra cửa Đông Nam có cầu vồng đỏ chiếu Thiên Thị Viên, đại lợi.
(Âm ngũ cục, Đinh Nhâm nhật, Bính Ngọ thời, Cửu Thiên trùng xuất, có phải thiếu Thiên Trụ không? Chờ tra.)

Cục thứ ba mươi ba
Kỳ Bính đồng Đằng Xà, Nhuế Tinh lâm Hưu Môn gặp Nhâm Tý nhật. Hiệu viết "Thiên Cương Trạch Địa" (Thiên cương chọn đất). Chủ tướng trước hung sau cát, bị thương bởi cung tên, đến giờ lành mới thắng, có thể được đất, giết người đầy đồng. Quân hành ra cửa ba dặm chủ mưa nhỏ, đại cát.

Cục thứ ba mươi tư
Kỳ Bính đồng Cửu Địa, Nhâm Tinh lâm Sinh Môn. Hiệu viết "Xà Nhập Yến Sào" (Rắn vào tổ én). Không thể xuất quân, có quân địch mai phục vào trong trại, làm bị thương phó tướng quân. Quân hành ba dặm phía Nam có tiếng trống, chủ trong quân có lửa cháy, không lợi.

Cục thứ ba mươi lăm
Kỳ Bính đồng Lục Hợp, Phụ Tinh lâm Thương Môn. Hiệu viết "Thiên Môn Đại Khai" (Cửa trời mở to). Đại tướng từ cung Chấn xuất quân có thể trói được đầu địch, có công bắt vua chém tướng. Quân hành có khí mây đen nổi lên cung Chấn, đại lợi.

Cục thứ ba mươi sáu
Kỳ Bính đồng Lục Hợp, Nhâm Tinh lâm Đỗ Môn gặp Canh Thân nhật. Hiệu viết "Khô Mộc Phùng Xuân" (Cây khô gặp xuân). Chủ chiến trận đã bại, binh lính lại chỉnh tề xuất trận, lại thành đại lợi. Quân hành ra cửa ba dặm có tiếng quạ kêu bay qua, đại cát.

Cục thứ ba mươi bảy
Kỳ Bính đồng Cửu Thiên, Nhuế Tinh lâm Cảnh Môn. Hiệu viết "Giao Long Thất Thủy" (Giao long mất nước). Chủ xuất quân không lợi, gãy xe ngựa, hỏng quân nhu. Nếu việc gấp nên hướng cung Đoài xuất quân, dùng hành thủy giải trừ, cũng có thể nửa cát. Quân hành ra cửa gặp trời nắng gắt, đi đến mười dặm có tiếng trống, đại lợi.

Cục thứ ba mươi tám
Kỳ Bính đồng Chu Tước, Phụ Tinh lâm Tử Môn. Hiệu viết "Thiên Xung Lâm Trận" (Sao xung lâm trận). Xuất quân nên từ phương Chấn, chủ địch lui ba xạ, được bốn mươi thủ cấp, bắt được một đại tướng. Ra cửa phía Tây Bắc có tiếng sấm lớn, hai mươi dặm đại lợi.

Cục thứ ba mươi chín
Kỳ Bính đồng Trực Phù, Nhuế Tinh lâm Kinh Môn gặp thời Mão Mùi. Hiệu viết "Phong Vân Tụ Hội" (Gió mây tụ hội). Chủ đại tướng xuất quân, bỏ Tây Bắc xuất Đông Nam, phục binh có thể được năm trăm thủ cấp. Quân hành ra cửa ba dặm có chim bay đến, đại cát.
(Dương nhị cục, Giáp Kỷ nhật, Bính Dần thời.
Âm nhị cục, Ất Canh nhật, Bính Tý thời.)

Cục thứ bốn mươi
Kỳ Bính đồng Cửu Thiên, Nhuế Tinh lâm Khai Môn. Hiệu viết "Quần Dương Bác Hổ" (Bầy dê vật hổ). Thời Thìn Tuất xuất binh đại bại, mất ba nghìn quân cưỡi ngựa, không nên chiến. Quân hành gặp hổ, không lợi.

Cục thứ bốn mươi mốt
Kỳ Bính lâm Thái Âm, Bồng Tinh lâm Hưu Môn. Hiệu viết "Thiên Nhật Chiếu Lâm" (Trời mặt trời chiếu đến). Chủ binh thắng, cát. Trói được một đại tướng, được đất ba mươi dặm, thành trì có thể phá. Quân hành nên từ cung Cấn xuất quân, ngồi cung Khôn. Đi đến năm trăm dặm có lửa lớn, mưa gió mười dặm có.
(Dương tam cục, Mậu Quý nhật, Bính Thìn thời.
Âm bát cục, nhật thời đều giống.)

Cục thứ bốn mươi hai
Kỳ Bính đồng Lục Hợp, Xung Tinh lâm Sinh Môn. Hiệu viết "Thu Phong Tứ Khởi" (Gió thu nổi lên bốn phía). Quân hành nên xuất ở cung Cấn, ngồi ở cung Đoài, bốn đường phục binh, phá được năm trăm kỵ binh địch, đều không lợi cho thủy chiến. Quân hành ra cửa có một người dâng bản đồ, đại lợi.

Cục thứ bốn mươi ba
Kỳ Bính đồng Chu Tước lâm Thương Môn gặp nhật Ngọ Mùi. Hiệu viết "Hà Khôi Đoạt Phách" (Sao Hà Khôi cướp phách). Chủ tướng nên xuất cung Ly, ngồi cung Khảm, lợi thủy chiến, có thể đoạt thuyền bè. Quân hành ra cửa phía Tây có lửa cháy, đại lợi.
(Dương nhất cục, Ất Canh nhật, Bính Tý thời, có phải là Nhâm Tinh không, cần tra. Bính Tuất nhật thời cũng giống Thiên Anh lại là.)

Cục thứ bốn mươi tư
Kỳ Bính đồng Cửu Địa, Tâm Tinh lâm Đỗ Môn gặp nhật Thân Tý Thìn. Hiệu viết "Thiên Ất Tư Xung" (Thiên Ất cầm xung). Quân hành nên xuất cung Đoài, ngồi cung Chấn, có thể được đất năm nghìn dặm. Ra cửa có người mặc áo vàng từ phương Nam đến báo tin, đại lợi.

Cục thứ bốn mươi lăm
Kỳ Bính đồng Thái Âm, Anh Tinh lâm Cảnh Môn. Hiệu viết "Hỏa Phân Côn Cương" (Lửa đốt núi Côn Luân). Chủ đại tướng xuất quân trăm dặm, phá trại chém bảy trăm thủ cấp. Ra cửa gặp người mặc áo vàng từ Tây đến, đại cát.
(Dương nhị cục, Quý Dậu nhật, Bính Thìn thời.
Âm thất cục, Mậu Quý nhật, Bính Thìn thời.)

Cục thứ bốn mươi sáu
Kỳ Bính đồng Lục Hợp, Trụ Tinh lâm Tử Môn gặp thời Mão Mùi. Hiệu viết "Thiên Hà Chuyển Vận" (Sông trời chuyển vận). Xuất quân không lợi, chủ tổn thương tốt lính, xe ngựa. Quân hành xuất quân có mưa nhỏ, đi đến ba trăm dặm có bầy chim bay về phương Bắc, không lợi.

Cục thứ bốn mươi bảy
Kỳ Bính đồng Chu Tước, Nhâm Tinh lâm Kinh Môn. Hiệu viết "Thái Ất Đắc Lệnh" (Thái Ất được lệnh). Quân hành ra cửa có thể được thành trì, chiến tất thắng, đánh tất lấy. Nếu trong tiết Kinh Trập, quân hành có mây vàng từ cung Tốn nổi lên, đại cát.

Cục thứ bốn mươi tám
Kỳ Bính đồng Câu Trần, Tâm Tinh lâm Khai Môn trước tiết Vũ Thủy. Hiệu viết "Hà Khôi Trực Thời" (Sao Hà Khôi trực thời). Lợi thủy chiến, có thể trói được đầu địch. Quân hành gặp phía Tây có tiếng trống, đại cát.
(Dương bát cục, Bính Tân nhật, Đinh Dậu thời.
Âm tứ cục, nhật thời giống.
Dương nhất cục, Bính Tân nhật, Giáp Ngọ thời.)

Cục thứ bốn mươi chín
Kỳ Đinh đồng Trực Phù, Nhâm Tinh lâm Hưu Môn gặp thời Sửu Mùi. Hiệu viết "Vũ Tế Thương Giang" (Mưa tạnh sông xanh). Xuất quân nên xuất cung Khảm, ngồi cung Khôn, có thể cướp trại, đốt lương, dùng kế, phục binh, đại thắng. Quân hành ba dặm có mưa nhỏ, gặp gió Tây, đại lợi.
(Dương thất cục, Ất Canh nhật, Đinh Sửu thời.
Âm tứ cục, Mậu Quý nhật, Đinh Tỵ thời.)

Cục thứ năm mươi
Kỳ Đinh đồng Thái Âm, Cầm Tinh lâm Sinh Môn. Hiệu viết "Thắng Quang Tranh Vị" (Ánh sáng thắng tranh vị). Xuất quân không lợi, chủ đại tướng có tai ương, tốt lính nhiều nạn. Quân hành nên lui không nên tiến. Quân hành ra cửa gặp có gió Bắc lớn nổi lên, không lợi.
(Dương bát cục, Đinh Nhâm nhật, Ất Tỵ thời.)

Cục thứ năm mươi mốt
Kỳ Đinh đồng Lục Hợp, Nhâm Tinh lâm Thương Môn. Hiệu viết "Quần Kê Hóa Phượng" (Bầy gà hóa phượng). Chủ tướng nên xuất cung Chấn, ngồi cung Ly, có thể phá được năm trăm kỵ binh địch, gặp giờ Ngọ Mùi càng thắng. Quân hành có ông già dắt con đến gặp, đại cát.

Cục thứ năm mươi hai
Kỳ Đinh đồng Chu Tước lâm Đỗ Môn gặp thời Dần Mão. Hiệu viết "Hỏa Luyện Kim Đan" (Lửa luyện kim đan). Chủ đại tướng xuất quân, từ cung Đoài xuất trước hung sau cát. Quân hành ra cửa gặp đàn bà bế con đến, thấy bầy quạ kêu, đại cát.
(Dương tứ cục, Giáp Kỷ nhật, Đinh Mão thời, nhưng thiếu tên sao, có phải Thiên Bồng lâm cung không, cần tra cứu.
Âm tứ cục cũng cùng cách cục, lại là tên Thiên Trụ, chờ tra.
Dương nhị cục, Bính Tân nhật, Mậu Tý thời, cùng với Dương tứ cục giống.)

Cục thứ năm mươi ba
Kỳ Đinh đồng Câu Trần, Cầm Tinh lâm Cảnh Môn. Hiệu viết "Thử Lạc Khang Bàn" (Chuột rơi khay cám). Xuất quân trước thắng sau không thành, bại đại công. Quân ra cửa thấy phía Tây có lửa cháy, không lợi.

Cục thứ năm mươi tư
Kỳ Đinh đồng Cửu Thiên, Anh Tinh lâm Tử Môn gặp thời Tý Ngọ. Hiệu viết "Cô Châu Độ Giang" (Thuyền độc qua sông). Chủ đại tướng quân nên xuất cung Khảm, ngồi trại phía Đông, có thể chém được ba đại tướng, ba nghìn thủ cấp. Thiên tử xuất quân, có thể phục được muôn nước. Xuất binh phương Nam, có năm sắc mây hiện, đại cát.

Cục thứ năm mươi lăm
Kỳ Đinh đồng Lục Hợp, Tâm Tinh lâm Kinh Môn. Hiệu viết "Thái Tuế Tọa Doanh" (Thái Tuế ngồi trại). Nên xuất đại binh, tám phương đều lợi, có thể được đất mấy nghìn dặm, địch binh quét sạch. Quân xuất phương Nam có gió lớn nổi lên, mây trắng thấy trên đỉnh, đại cát.

Cục thứ năm mươi sáu
Kỳ Đinh đồng Trực Phù, Phụ Tinh lâm Khai Môn. Hiệu viết "Báo Biến Nam Sơn" (Báo biến hóa ở núi Nam). Chủ tướng xuất quân đại thắng. Quân xuất nên xuất cung Tỵ, ngồi trại cung Chấn. Ra cửa có hai đứa trẻ từ phương Bắc đến gặp, đại cát.
(Dương tam cục, Ất Canh nhật, Đinh Sửu thời.
Âm cửu cục, Mậu Quý nhật, Đinh Tỵ thời.)

Cục thứ năm mươi bảy
Kỳ Đinh đồng Thái Âm, Bồng Tinh lâm Hưu Môn gặp thời Sửu Mùi. Hiệu viết "Lôi Chấn Bách Lý" (Sấm động trăm dặm). Đại tướng xuất quân đại lợi, nên xuất cung Chấn, được đất hai trăm dặm, chém năm trăm thủ cấp. Ra cửa gặp phụ nữ mặc áo đỏ từ phương Tây đến, đại cát.
(Dương thất cục, Đinh Sửu nhật, Bính Tuất thời.
Âm tam cục giống.)

Cục thứ năm mươi tám
Kỳ Đinh đồng Lục Hợp, Phụ Tinh lâm Sinh Môn. Hiệu viết "Lục Hợp Lâm Trận" (Sáu hợp lâm trận). Chủ đại tướng xuất quân đại thắng. Quân xuất cung Ly, ngồi cung Chấn, đánh thẳng vào đầu địch, chớ đánh đuôi địch. Ra cửa có tiếng gà gáy, đại cát.

Cục thứ năm mươi chín
Kỳ Đinh đều giống trước.

Cục thứ sáu mươi
Kỳ Đinh đồng Lục Hợp, Tâm Tinh lâm Đỗ Môn. Hiệu viết "Ngọc Nữ Phản Diện" (Ngọc nữ quay mặt). Chủ đại tướng xuất quân không lợi, xuất doanh cung Tốn, nên ngồi trại hơi cát. Quân ra cửa đi năm dặm gặp mưa nhỏ, đến mười dặm có địch đến đánh, không lợi.
(Âm tam cục, Đinh Nhâm nhật, Canh Tý thời.)

Cục thứ sáu mươi mốt
Kỳ Đinh đồng Chu Tước, Nhâm Tinh lâm Cảnh Môn. Hiệu viết "Lục Đinh Xung Trận" (Sáu Đinh xông trận). Xuất quân nên hướng Tây ngồi trại, có địch mai phục ở phương Bắc, có thể được ba nơi đất. Ra cửa trên không có năm sắc mây hiện, đi ba dặm gặp bầy lợn, đại lợi.

Cục thứ sáu mươi hai
Kỳ Đinh đồng Thái Âm, Nhâm Tinh lâm Tử Môn. Hiệu viết "Kim Cương Tảo Địa" (Kim cương quét đất). Xuất quân nên hướng Nam, lại nên ngồi cung Chấn, chủ trước hung sau cát, có thể được năm nghìn thủ cấp. Quân ra cửa gặp thuật sĩ hiến kế, đại lợi.

Cục thứ sáu mươi ba
Kỳ Đinh đồng Cửu Thiên, Phụ Tinh lâm Kinh Môn. Hiệu viết "Hà Lạc Trình Tường" (Hà Lạc hiện điềm lành). Nên xuất quân phương Nam, ngồi trại phương Đông. Nếu đánh thành cũng nên hướng cung Chấn, ba ngày báo thắng. Quân ra cửa ba dặm thấy khí lành từ phương Đông Nam đến, đại cát.

Cục thứ sáu mươi tư
Kỳ Đinh đồng Cửu Thiên, Cầm Tinh lâm Khai Môn. Hiệu viết "Thái Bạch Thùy Quang" (Sao Thái Bạch chiếu sáng). Xuất quân thắng trận, thu được nhiều vàng báu. Quân hành nên xuất cung Chấn, ngồi cung Càn. Đi năm dặm có chim cắt kêu, hai trăm dặm người ta thu được vật dụng, đại lợi.

Cục thứ sáu mươi lăm
Kỳ Đinh đồng Bồng Tinh lâm Hưu Môn gặp nhật Thìn Tuất. Hiệu viết "Huých Hoả Sinh Quang" (Sao Huých Hoả sinh sáng). Nên xuất quân cung Ly, ngồi trại cung Khảm, nên dùng hỏa công, có thể phá được đô ấp của địch, bắt được thượng tướng. Ra cửa gặp người mặc áo vàng từ Bắc đến, không lợi.

Cục thứ sáu mươi sáu
Kỳ Đinh đồng Trực Phù, Phụ Tinh lâm Sinh Môn. Hiệu viết "La Hầu Quá Độ" (La Hầu qua sông). Nên xuất quân cung Khảm, ngồi trại cung Khôn, chủ phá được ba mươi kỵ binh địch, được đất trăm dặm, chém ba nghìn thủ cấp. Quân ra gặp một trận gió lớn, liền không lợi.

Cục thứ sáu mươi bảy
Kỳ Đinh đồng Chu Tước, Tâm Tinh lâm Thương Môn. Hiệu viết "Nguyệt Bột Đương Không" (Sao Nguyệt Bột trên không). Xuất quân không lợi, việc gấp không thể khác, nên dùng quỷ chưởng phù thủy phun về phương Bắc mới có thể xuất, được ba dặm có người què từ Tây Bắc đến báo, đại lợi.

Cục thứ sáu mươi tám
Kỳ Đinh đồng Câu Trần, Cầm Tinh lâm Đỗ Môn. Hiệu viết "Nguyệt Đức Lâm Môn" (Đức trăng đến cửa). Nên phó tướng xuất trận, có thể được đất năm nghìn dặm, nên ngồi trại cung Đoài, xuất quân phương Đông, hướng Tây mà đi, có tiếng sấm pháo đáp ứng, đại cát.

Cục thứ sáu mươi chín
Kỳ Đinh đồng Cửu Thiên, Thiên Nhâm Tinh lâm Cảnh Môn. Hiệu viết "Thiên Đức Chiếu Môn" (Đức trời chiếu cửa). Lợi cho phó tướng xuất quân, quân hành năm dặm gặp phục binh, không thể chiến, đi hai dặm phía Đông có ánh lửa, không lợi.

Cục thứ bảy mươi
Kỳ Đinh đồng Cửu Địa, Trụ Tinh lâm Tử Môn. Hiệu viết "Âm Dương Bất Giao" (Âm dương không giao). Chủ đại tướng xuất quân, có tai họa bởi cung tên. Quân xuất không nên phương Bắc, lợi Tây Nam, ngồi trại cung Cấn, tai họa đó có thể tránh. Đi ba dặm có công sai cưỡi ngựa, đại cát.

Cục thứ bảy mươi mốt
Kỳ Đinh đồng Cửu Thiên, Nhâm Tinh lâm Kinh Môn. Hiệu viết "Tam Thai Đắc Vị" (Ba ngôi sao Thai được vị). Xuất quân đại thắng, nên xuất quân cung Cấn, ngồi trại cung Khảm, được nghìn cỗ xe, đất nghìn dặm. Ra cửa có mưa nhỏ, đại cát.

Cục thứ bảy mươi hai
Kỳ Đinh đồng Câu Trần, Phụ Tinh lâm Khai Môn. Hiệu viết "Thụy Sinh Cửu Đỉnh" (Điềm lành sinh chín đỉnh). Chủ xuất quân đại thắng, bốn phương đều lợi, được thành trì, đất đai và thủ cấp thượng tướng. Quân hành ba dặm có mây trắng từ phương Tây Bắc đến, gió Đông nổi lên, đều đại lợi.