《KỲ MÔN THUYÊN CHÍNH》CHIÊM PHÁP
《KỲ MÔN THUYÊN CHÍNH》CHIÊM PHÁP
(Tác giả: Cao Nhân Lân - cao thủ Kỳ Môn thời Dân Quốc)
Có cư dân mạng đặt câu hỏi trực tuyến liên quan đến cuốn 《Kỳ Môn Thuyền Chính》, biên tập viên của Dịch Đức Hiên sẽ giải đáp thắc mắc cho bạn, hy vọng sẽ hữu ích.
《Kỳ Môn Thuyền Chính》 là tác phẩm của cao thủ Kỳ Môn thời Dân Quốc, ông Tào Nhân Lân, thuộc hệ phái Chuyển Bàn Kỳ Môn. Tác giả Tào Nhân Lân, người Thượng Ngu, Chiết Giang, không rõ năm sinh năm mất, hoạt động chính vào đầu thời Dân Quốc. Tinh thông Lục Nhâm, Kỳ Môn, Thất Chính v.v. Ngoài cuốn sách này, ông còn soạn 《Tinh Độ Chỉ Nam》. Dưới đây xin trích chọn chiêm pháp trong sách để tham khảo.
CỬA THI CỬ (KHẢO THÍ MÔN)
Xem văn thí: lấy Nhật Can làm thí sinh, Lục Đinh, Cảnh Môn làm bài thi, Thiên Phụ làm giám khảo, Trực Phù làm tổng tài, Thiên Ất (địa bàn Trực Phù) làm quan tiến cử, Thái Tuế làm nguyên thủ, Nguyệt Kiến làm chủ khảo. Yêu cầu Lục Đinh, Cảnh Môn vượng tướng, được cách cục tốt, lại cần cung của Thiên Phụ, Trực Phù, Thiên Ất v.v. tương sinh với Nhật Can.
Xem thi tuổi (Tuế khảo chiêm): Nhật Can hoặc cung năm mệnh được Tam Kỳ và bốn cát môn Khai, Hưu, Sinh, Cảnh, không phạm kỳ mộ, môn bức, lại Lục Đinh ở cung vượng tướng, Thiên Phụ lại đến sinh Nhật Can hoặc cung năm mệnh thì là tối cát. Muốn biết thứ hạng cao thấp, xem cung Lục Đinh suy vượng thế nào và có môn kỳ hay không.
Xem thi hội (Hội khảo chiêm): Các cung như Trực Phù, Thiên Ất đều không nên khắc Nhật Can cung, và cần Lục Đinh cung vượng tướng thì cát.
Xem thi đình (Đình thí chiêm): Cảnh Môn ở cung vượng tướng lại được Tam Kỳ, và Thái Tuế, Nguyệt Kiến đến sinh Nhật Can cung thì cát.
CỬA QUAN LỘC (QUAN LỘC MÔN)
Như xem cầu quan: Khai Môn là quan văn, Đỗ Môn là quan võ, Thái Tuế là nguyên thủ, Nguyệt Kiến là bộ tuyển, Trực Phù là cấp trên. Yêu cầu Khai, Đỗ nhị môn sinh vượng, được cách cục tốt, cung Thái Tuế v.v. tương sinh với chúng, lại tương sinh với Nhật Can và năm mệnh thì cát. Nếu Khai, Đỗ nhị môn hưu tù bị khắc, chủ bị giáng phạt. Như xem văn thư: lấy Lục Đinh làm văn thư, nếu tương sinh với Phù Sử thì nhanh, tương khắc thì chậm, nếu phạm Chu Tước Đầu Giang thì vô vọng. Lấy can chi ở cung Lục Đinh để định thời gian đến. Như xin nghỉ có được không? Lấy Trực Phù làm cấp trên, địa bàn Trực Phù làm người xin nghỉ, cần thiên bàn Trực Phù sinh địa bàn Trực Phù, hoặc địa bàn Trực Phù khắc thiên bàn Trực Phù mới được, nếu không thì không được.
Xem thăng chức (Thăng thiên chiêm): Khai Môn lâm cung sinh vượng, có Tam Kỳ, cách cục tốt, lại gặp Thái Tuế, Nguyệt Kiến tương sinh thì ắt thăng. Hoặc dùng cung Trực Phù sinh cung Khai Môn cũng được. Lại Thái Tuế, Nguyệt Kiến, Trực Phù tương sinh với Nhật Can hoặc cung năm mệnh cũng cát.
Xem bị giáng phạt (Giáng phạt chiêm): Khai Môn hưu tù hoặc cung bức môn, lại gặp tuế, nguyệt, phù, sử tương khắc, chủ bị bãi chức. Người và giờ gặp Thiên Cương Tứ Trương hoặc Ngũ Bất Ngộ, phòng bị tội. Nhưng Khai Môn vượng tướng thì chỉ bị giáng phạt mà thôi.
Xem người đang tại chức (Hiện nhậm chiêm): Lấy cung năm can của bản thân làm chủ, nếu thiên bàn tinh cát mà được môn kỳ, cách cục tốt thì cát, nếu phạm kích hình, phi phục và các cách hung khác thì chủ bị bãi chức hoặc chết tại chức.
Xem lên nhậm (Thượng nhậm chiêm): Lấy thời điểm lên nhậm, xem cung phương hướng ở chỗ nào, được cách cục tốt, môn kỳ thì chủ thăng chức, không có cách cục tốt nhưng tinh vượng thì không sao. Nếu tinh hưu tù thì chủ bị bãi chức. Nếu gặp phục ngâm, phản ngâm, ngũ bất ngộ thời, và kỳ mộ, môn bức, phi phục các cách hung, không cần xem phương hướng cũng biết là không cát.
Xem văn thư (Văn thư chiêm): Lấy Lục Đinh làm văn thư, nếu tương sinh với Phù Sử thì nhanh, tương khắc thì chậm. Nếu phạm Chu Tước Đầu Giang, chủ văn thư thất lạc. Lại xem Lục Đinh lạc cung nào, liền dùng can chi của cung đó để định thời gian đến.
Xem xin nghỉ (Thỉnh giả chiêm): Thiên bàn Trực Phù cung khắc địa bàn Thiên Ất cung, hoặc Thiên Ất cung sinh Trực Phù cung, đều không được. Nếu Trực Phù sinh Thiên Ất cung, hoặc Thiên Ất khắc Trực Phù cung, mới được.
CỬA TÀI LỢI (TÀI LỢI MÔN)
Xem cầu tài: lấy Sinh Môn làm tài thần, Giáp Tý Mậu làm lợi ích. Yêu cầu Sinh Môn, thiên bàn tinh sinh cung, được cách cục tốt, và cần Giáp Tý Mậu tương sinh với nó. Xem cho vay: Trực Phù là chủ nợ, Thiên Ất là người vay. Xem đòi nợ: Thương Môn là người đòi nợ. Xem mượn, vay, mua chịu: Trực Phù là chủ vật, Thiên Ất là người đến mượn. Xem mua bán: Trực Phù là người mua vật, Sinh Môn là vật đang bán, cung Sinh Môn lạc là chủ vật. Xem hợp tác kinh doanh: lấy cung Sinh Môn làm chủ, xem can chi bàn trời đất để phân người ta, đều lấy người khác sinh ta là cát, khắc ta là hung. Xem khai trương: xem cung Sinh Môn cát hung để định thành bại.
Xem cầu tài: Chuyên xem cung Sinh Môn lạc, thiên bàn tinh của nó cần phải tương sinh với cung Sinh Môn. Cung Sinh Môn là thể, thiên bàn tinh là dụng. Dụng sinh thể thì cát, thể sinh dụng thì không cát. Lại xem bàn trời bàn đất được cách cục tốt, tinh tốt thì cầu được như ý; hưu tù thì không như ý. Giáp Tý Mậu là lợi ích, cung lạc nên sinh Sinh Môn, hai cung này nên lâm nội bàn thì nhanh chóng.
Xem lợi tức: Nếu cung Sinh Môn hưu tù lại gặp hung cách thì lỗ vốn; nếu vượng tướng lại được Giáp Tý Mậu tương sinh, ắt được lợi gấp đôi. Dùng can của Giáp Tý Mậu lâm để quyết định số lượng nhiều ít. Số của mười can: Giáp Kỷ là 9, Ất Canh là 8, Bính Tân là 7, Đinh Nhâm là 6, Mậu Quý là 5.
Xem mượn nợ: Trực Phù sinh Thiên Ất, Thiên Ất khách Trực Phù, ắt thành, nếu không thì không thành.
Xem cho vay: Trực Phù khắc Thiên Ất hoặc Thiên Ất sinh Trực Phù thì cát. Trực Phù sinh Thiên Ất hoặc Thiên Ất khắc Trực Phù thì hung. Nếu Sinh Môn và Thiên Ất cùng khắc Trực Phù, thì mất hết tiền; cùng sinh Trực Phù, thì cả vốn lẫn lời đều thu về. Nếu Sinh Môn và Thiên Ất một cái sinh một cái khắc, thì vốn lời không đủ và chậm. Nếu Thiên Ất và Sinh Môn hưu tù, dù sinh Trực Phù cũng e rằng không đủ lực.
Xem đòi nợ: Cung Thương Môn khắc cung Thiên Ất thì có thể đòi; cung Thiên Ất khắc cung Thương Môn thì khó đòi. Thương Môn và Thiên Ất cùng sinh Trực Phù thì trả hết; cùng khắc Trực Phù thì không trả. Thương Môn sinh Trực Phù mà khắc Thiên Ất thì ắt trả; ngược lại thì không trả. Thiên Ất vượng tướng khắc Thương Môn, có lực nhưng không trả. Thiên Ất hưu tù sinh Thương Môn, muốn trả nhưng không có lực hoặc không trả hết. Nếu Thiên Ất cưỡi Canh Tân đến khắc Trực Phù, chủ phải qua quan phủ. Nếu Trực Phù khắc Thiên Ất gặp Cảnh Môn, cũng chủ phải qua quan phủ mới trả. Nếu Giáp Tý Mậu phù gặp Khai Môn gia thời can, lâm nội giới, thì trả hết và nhanh.
Xem chuộc lại tài sản: Lấy Trực Phù, Thiên Ất, Trực Sử mà luận. Trực Phù chủ động, Thiên Ất chủ tĩnh, Trực Sử là người trung gian. Nếu tôi muốn chuộc lại từ người khác, tôi là Trực Phù, người kia là Thiên Ất. Nếu người khác muốn chuộc lại từ tôi, người kia là Trực Phù, tôi là Thiên Ất. Đều lấy cái sinh ta là có thể chuộc, khắc ta là không thể chuộc. Lại Trực Phù sinh cả hai nhà thì được, khắc cả hai nhà thì không được. Nếu có Huyền Vũ, Câu Trần đồng cung, chủ qua quan phủ.
Xem mua bán: Lấy Trực Phù là người mua vật, Sinh Môn là vật đang bán, cung Sinh Môn lạc là chủ vật. Nếu cung Sinh Môn sinh Trực Phù, mua vật ắt thành và có lợi; khắc Trực Phù thì không thành. Nếu môn và cung lạc tương sinh, là vật luyến chủ, cũng khó thành giao dịch. Lại Trực Phù vượng tướng sinh cung Sinh Môn thì lợi cho người bán; Sinh Môn đến sinh cung Trực Phù thì lợi cho người mua. Phàm muốn mua vật, xem phương của chủ bán, được cách cục tốt thì có lợi, hung cách thì không lợi. Phàm muốn bán vật, xem phương của người mua, được cách cục tốt thì thuận lợi, hung cách thì phiền não.
Xem hợp tác: Xem bàn trời đất của cung Sinh Môn. Địa bàn là chủ nghiệp, thiên bàn là người muốn hợp tác. Nếu bàn trời đất tương khắc, hoặc thiên bàn sinh địa bàn, đều không lợi. Ắt phải địa bàn sinh thiên bàn, tức là người kia sinh ta, mới có thể cùng hưởng lợi ích mà hợp tác. (Biên tập viên án: Luận này nghi bị đảo ngược)
Xem khai trương: Cung Sinh Môn lạc vượng tướng, lại được cát tinh, Tam Kỳ, và các cách cát như Long Hồi Thủ, Điểu Điệt Huyệt, chủ kinh doanh hưng thịnh. Nếu không đầy đủ thì bình thường. Lạc cung tuần không vong hoặc hưu tù cưỡi hung tinh, lại gặp các cách hung như Canh gia Kỷ, thì đại bất lợi. Cát tinh được Thiên Phụ thì nên xuân hạ, được Thiên Cầm thì nên các tháng cuối mùa, được Thiên Tâm thì nên thu đông.
CỬA MƯU VỌNG (MƯU VỌNG MÔN)
Xem nhờ vả (Chúc thoát chiêm): Lấy cung Thiên Ất làm người nhờ vả, cung Trực Phù làm người được nhờ vả, Trực Sử làm người nhận lời nhờ. Nếu Trực Phù sinh Trực Sử, ắt tin lời. Trực Phù khắc Trực Sử, lời không được nghe. Trực Sử sinh Trực Phù mà khắc Thiên Ất, thì không chịu nói hết. Trực Phù khắc Trực Sử mà sinh Thiên Ất, việc thành nhưng chậm. Trực Phù và Trực Sử cùng sinh Thiên Ất hoặc đều bị Thiên Ất sinh, việc ắt thành và nhanh.
Xem cầu việc (Cầu sự chiêm): Vẫn lấy hai cung Trực Phù và Thiên Ất. Nếu người đến cầu ta, thì họ là khách, ta là chủ; ta đi cầu họ, thì họ là chủ, ta là khách. Đều lấy Trực Phù làm khách, Thiên Ất làm chủ. Tương sinh thì dễ thành, tương khắc thì không thành. Nếu gặp kỳ mộ, môn bức, hung cách, thì vì cầu việc mà sinh thị phi hoặc ngược lại tổn hao tài vật. Nếu có phương hướng nhất định, thì lấy can của bàn trời đất ở phương đó phân chủ khách cũng được.
Xem xin dạy học (Tựu quán chiêm): Lấy Thiên Phụ làm thầy, Trực Phù làm chủ quán, Thiên Nhuế làm học trò. Nếu Trực Phù sinh cung Thiên Phụ, lại được Tam Kỳ, cát môn và các cách cục tốt, ắt thành. Lại Thiên Nhuế ở cung vượng tướng thì học trò đông, hưu tù thì học trò ít. Nếu có phương hướng đến mà mưu cầu, thì nên xem cung đó, được Tam Kỳ, cát môn và các cách cục tốt, là có quán dạy. (Theo: dụng thần này trong thời hiện đại có thể dẫn là trường học, lớp đào tạo v.v.)
CỬA PHỎNG YẾT (PHỎNG YẾT MÔN)
Như xem yết kiến quý nhân: Hưu Môn là quý nhân, hoặc quan đã về hưu; Khai Môn là quan đương nhiệm; Thời Can là người đến yết kiến. Như xem tìm thầy: Thiên Nhuế là thầy sáng. Đều cần vượng tướng được cát, và tương sinh với Thời Can. Nếu gặp cách Canh cách (Canh gia niên, nguyệt, nhật, thời) thì là bất ngộ. Lại xem cung phương hướng định đến, sự sinh khắc của bàn trời đất.
Xem yết kiến quý nhân: Cung Hưu Môn hoặc Khai Môn sinh cung Thời Can (tức cung Trực Phù, phàm việc do ta chủ động, đều chọn cung này. Những việc khác suy ra tương tự). Cung Thời Can, môn cung tương sinh được cách cục tốt thì ắt vừa ý, viên mãn; nếu tương khắc thì không được gặp. Nếu ta sinh họ, thì dù có gặp cũng chưa chắc có ích. Lại cần cả hai cung đều được vượng tướng mới là cát.
Xem thăm bạn: Nếu không có loại thần chuyên dụng, lấy cung phương hướng cần thăm làm chủ, cần bàn trời đất tương sinh, lại được cát môn, đi ắt gặp. Nếu tương khắc, không có cát môn, thì không gặp. Gặp Canh gia niên, nguyệt, nhật, thời cách, thì bị từ chối không tiếp. Lại Bính Canh tương gia, dù có gặp cũng không được vừa ý.
CỬA HÔN NHÂN (HÔN NHÂN MÔN)
Canh là chồng, Ất là vợ. Canh, Ất: với người chủ động thì xem thiên bàn, với người bị động thì xem địa bàn. Lục Hợp là bà mối.
Xem gả cưới: Canh Ất lạc cung tương sinh thì nói sẽ thành, tương khắc thì không thành. Lục Hợp sinh cung Ất, là hướng về nhà gái; sinh cung Canh, là hướng về nhà trai. Canh khắc Ất, nhà gái sợ không gả; Ất khắc Canh, nhà trai chê không cưới. Ất gặp hung cách, nữ xấu; Canh gặp hung cách, chồng xấu.
Xem chiêu rể: Cần cung thiên bàn Canh đến sinh địa bàn cung Ất, và trên Canh được cát tinh, chủ chồng tính lương thiện và dễ thành. Nếu nam cầu nữ, nên địa bàn cung Ất sinh thiên bàn cung Canh.
CỬA THAI THAI (THAI THAI MÔN – THAI SẢN)
Lấy cung Khôn làm mẹ mang thai, lấy môn của cung Khôn làm thai tức (hơi thở của thai), thiên bàn tinh làm thai thần, địa bàn tinh làm sản thần. Lấy âm dương của tinh để phân biệt nam nữ. Tinh bàn trời đất và môn cung đều không nên tương khắc.
Thiên bàn tinh cung Khôn khắc địa bàn tinh, hoặc môn khắc cung, là mẹ mang thai không an. Nếu địa bàn tinh khắc thiên bàn tinh, hoặc cung khắc môn, là con không an. Thiên bàn tinh dương là nam, âm là nữ. Phục ngâm là con luyến bụng mẹ, sinh đẻ ắt chậm. Cung Khôn được kỳ môn, cách cục tốt, thai sản bình an. Can địa bàn cung Khôn là ngày thụ thai, lấy can thiên bàn của cung xung đối với cung Khôn làm ngày sinh.
CỬA HÀNH NHÂN (HÀNH NHÂN MÔN – NGƯỜI ĐI XA)
Như người nhà xem người đi xa: lấy năm mệnh của người đó và cung phương hướng đã đi lạc, xem cách cục cát hung. Như người đi xa xem việc nhà: lấy cung trường sinh của bản nhật để xem cát hung. Như xem ngày về: chuyên xét Canh cách. Như xem tin tức: lấy Lục Đinh hoặc Cảnh Môn lâm nội ngoại bàn để phân nhanh chậm, cách cát thì tin cát, cách hung thì tin hung.
Xem người đi xa bình an hay không: Lấy cung phương hướng đã đi, xem bàn trên dưới của nó, được Tam Kỳ, cát môn và cách cục tốt thì an, trái lại thì không an. Lại xem cung năm mệnh của người đó, cưỡi khí vượng tướng, được kỳ môn cách tốt, thì ở ngoài ắt mọi việc như ý. Nếu cung năm mệnh hưu tù hoặc tuần không vong và các cách hung, đều chủ không cát.
Xem trong nhà bình an hay không: Lấy cung trường sinh của Nhật Can làm nhà. Ví dụ Nhật Can là Giáp, trường sinh tại Hợi, liền xem cung Càn để định cát hung. Lại xem cung khắc đó là hành gì, lấy lục thân của Nhật Can sở thuộc mà luận (ví dụ cung Càn thuộc Kim sợ Hỏa khắc, Hỏa là con của Giáp Mộc, là lo vì con bệnh. Những cái khác suy ra tương tự).
Xem ngày về (Quy kỳ chiêm): Chuyên xét Canh cách. Năm dương thời (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu) lấy thiên bàn Canh dưới lâm can gì. Năm âm thời (Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) lấy địa bàn Canh trên cưỡi can gì. Xem có phải là niên, nguyệt, nhật, thời cách không. Niên cách thì năm về, nguyệt cách thì tháng về, nhật cách thì ngày về, thời cách thì giờ về. Nếu Ất Canh hợp và Canh Kim nhập mộ thì là không về. Lại xem cung năm mệnh người đi xa, ở nội bàn là gần, ở nội; ngoại bàn là xa, ở ngoại. Lại phục ngâm là chưa động, phản ngâm thì về nhanh.
Xem ngày về (cách khác): Lấy Thiên Bồng làm chủ (theo: cung Khảm là đầu của Cửu cung, cho nên lấy sao Bồng ở cung này làm thần trở về). Ở nội bàn thì nửa năm đầu về, ở ngoại bàn thì nửa năm cuối về. Lấy 12 chi vị của cung lạc để định ngày về.
Xem ngày về (cách khác nữa): Lấy cung đối diện với phương người đi xa đã đi. Nếu năm mệnh người đó ở trong cung này thì về, ngày về lấy can chi của cung này suy vượng mà quyết định. Ví dụ năm mệnh Giáp Tý, đi về phương Nam, nếu can chi Giáp Tý lâm cung Khảm thì về. Dương độn lâm ba cung Khôn, Đoài, Càn thì đang trên đường; lâm ba cung Cấn, Chấn, Tốn thì lại đi nơi khác. Âm độn thì ngược lại. Lại xem cát hung của tinh môn nơi can chi lâm để định bình an hay không.
Xem tin tức: Lấy cung Lục Đinh lạc làm tin (dương thời nên xem thiên bàn, âm thời nên xem địa bàn). Lâm nội bàn thì nhanh, ngoại bàn thì chậm. Lục Đinh nhập mộ hoặc không vong, chủ chậm trễ hoặc không có tin. Lại Yểu Kiểu (Đằng Xà?) chủ chậm, Đầu Giang thì không tin. Có Tam Kỳ hợp cách cát thì tin vui. Canh cách thì không tin. Đầu Giang dù ở nội bàn cũng không tin. Lại xem Cảnh Môn, dùng nội ngoại bàn để xem nhanh chậm, môn bức thì không tin. Nếu Cảnh Môn lâm vào nơi người hỏi ở, tin đến rất nhanh. Ví dụ người hỏi ở phương Bắc, Cảnh Môn lâm Khảm, tin tức đến ngay. Những cái khác suy ra tương tự.
CỬA XUẤT HÀNH (XUẤT HÀNH MÔN)
Xem xuất hành: lấy Thời Can làm người đi đường. Xem cung phương hướng định đến, có kỳ môn cách tốt sinh cung Thời Can thì cát, trái lại không cát. Như xem đường thủy bộ: lấy cung Sử Môn sinh cung Khảm, hoặc cung Hưu Môn có Tam Kỳ cách tốt, là lợi cho đường thủy. Nếu sinh cung Cấn hoặc cung Sinh Môn có Tam Kỳ cách tốt, là lợi cho đường bộ. Như xem thuê thuyền: xem cung Chấn. Như xem quán trọ: xem cung Thời Can. Đều lấy cát hung của thiên bàn tinh để xét chủ thuyền, chủ quán tốt xấu. Như xem ngày về: xem cung Bồng Tinh lạc được chi gì. Như xem ngày đi: xem cung Khai Môn lạc được can gì. Như xem tránh nạn, nên đi về phía Đỗ Môn. Lại các phương Đinh, Kỷ, Quý hoặc Lục Hợp, Thiên Xung và Sinh Môn, nếu có thể sinh cung Thời Can, đều có thể đến tránh. Nếu được Bính gia Canh, phàm việc sẽ lui, không cần tránh.
Xem xuất hành (Xuất hành chiêm): Lấy cung Thời Can (xem địa bàn) làm người muốn đi. Phương nào có kỳ môn cách tốt đến sinh cung Thời Can thì đi ắt đại lợi, tỉ hòa cũng lợi, trái lại không lợi. Phương nào có hung môn, hung cách lại xung khắc cung Thời Can thì đại hung. Lại Thời Can, năm mệnh lâm không, mộ cũng không lợi.
Xem đường thủy bộ (Thủy lục chiêm): Khảm là đường thủy, Cấn là đường bộ. Xem cung Sử Môn sinh Khảm thì đường thủy cát, sinh Cấn thì đường bộ cát, khắc thì không cát. Lại có cách: xem hai cung Hưu, Sinh Môn lâm. Cung Hưu Môn có Tam Kỳ cách tốt thì nên đi thủy, cung Sinh Môn có Tam Kỳ cách tốt thì nên đi bộ.
Xem thuê thuyền: Lấy cung Chấn làm thuyền, xem cát hung của thiên bàn tinh ở cung này để xét chủ thuyền tốt xấu. Gặp Phụ, Cầm, Tâm là đại cát; Xung, Nhâm là tiểu cát; còn lại là hung.
Xem quán trọ: Cung Thời Can (địa bàn) lạc, xem thiên bàn tinh. Gặp các hung tinh Bồng, Nhuế, Anh, Trụ thì phòng có người xấu, còn lại đều cát. Nếu cung này được kỳ môn cách tốt thì dù có hung tinh cũng không ngại.
Xem đường đi: Xem cung trước cung Thời Can. Dương độn thuận, Ấm độn nghịch. Nếu cung trước thiên bàn được Thiên Bồng, phòng gặp trộm cướp, nhưng nếu cung Thời Can được kỳ môn cách tốt thì không ngại.
Xem ngày đi (Hành kỳ chiêm): Cung Thời Can ở ngoại là đi, ở nội là không đi. Lấy can dưới cung Khai Môn để định ngày đi.
Xem tránh nạn (Đào tị chiêm): Phàm có nguy hiểm, nạn cần trốn tránh, chuyên xem phương Đỗ Môn, lại xem các phương Lục Đinh, Lục Quý, Lục Kỷ, hoặc Lục Hợp, Thiên Xung trên trời và Sinh Môn lâm. (Theo: Đinh là Ngọc Nữ, Kỷ là Địa Hộ, Quý là Thiên Cương, đều lợi cho trốn chạy. Dương thời xem thiên bàn, âm thời xem địa bàn). Nếu sinh cung Thời Can lạc, đều có thể đến tránh. Lại được cát tinh, cát môn, kỳ, âm thần, càng tốt. Phàm tránh nạn binh lửa thì xem Lục Canh, tránh trộm cướp xem Thiên Bồng, tránh kiện tụng xem Lục Tân. Cung Thời Can là đương sự, ắt Canh, Tân, Thiên Bồng khắc Thời Can, lại lâm nội bàn và gia Thời Can, thì nên tránh. Nhưng chẳng luận khắc Thời Can hay gia Thời Can, nếu không lâm nội bàn thì cũng không cần tránh. Phàm tránh kẻ thù, nên phân chủ khách. Người động trước là khách là dương, do Lục Bính chủ; người động sau là chủ là âm, do Lục Canh chủ. Ta có nên tránh hay không? Ta động trước là khách, nếu cung Lục Canh khắc cung Lục Bính, lại lâm nội bàn, thì nên tránh. Lục Canh cưỡi sao hưu tù mà gia Bính, không cần tránh. Cưỡi sao vượng tướng mà gia Bính, thì nên tránh. Bính gia Canh là Hỏa Nhập Kim, phàm việc sẽ lui, không cần tránh.
CỬA TỪ TỤNG (TỪ TỤNG MÔN – KIỆN TỤNG)
Lấy Khai Môn làm quan tòa, Kinh Môn làm thần kiện tụng, Trực Phù làm nguyên cáo, Thiên Ất làm bị cáo. Xem sinh khắc của Khai Môn, Kinh Môn với nguyên bị để định. Như xem đơn có được chấp nhận hay bị bác: lấy Cảnh Môn làm đơn kiện, xem sự sinh khắc giữa Khai và Cảnh. Như xem hình tội nặng nhẹ: lấy Tân làm người có tội, Nhâm làm thiên lao, Canh làm thiên ngục. Xem Khai Môn sinh khắc cung Tân, và có Canh, Nhâm cưỡi lên hay không.
Xem nguyên bị thắng bại: Nếu cả hai môn Khai, Kinh đều khắc Thiên Ất (địa bàn Trực Phù cung) thì bị cáo thua; đều khắc Trực Phù (thiên bàn Trực Phù) thì nguyên cáo thua; một khắc Thiên Ất, một khắc Trực Phù thì cả hai đều thua. Lại như Khai sinh nguyên, Kinh khắc nguyên, hoặc Khai khắc nguyên, Kinh sinh nguyên, mà phía bị với Khai, Kinh được sinh khắc cũng vậy. Thì lấy cung Trực Phù và Thiên Ất, cung nào vượng tướng thì thắng, hưu tù thì bại. (Phàm nói suy vượng, đều xem sự suy vượng của sao mà can bàn trời đất cưỡi)
Xem đơn được chấp nhận hay bị bác: Khai Môn sinh Cảnh Môn thì được chấp nhận; Cảnh Môn sinh Khai Môn thì không được chấp nhận. Cảnh khắc Khai thì được chấp nhận; Khai khắc Cảnh thì không được chấp nhận. Lại cung Cảnh Môn cần vượng tướng, kỵ hưu tù.
Xem hình tội nặng nhẹ: Cung Khai Môn khắc cung Lục Tân (địa bàn), trên Tân có Canh, Nhâm lâm thì tội nặng. Xem sao của địa bàn Lục Tân có vượng không, nếu được cát tinh, cát môn, cách tốt hoặc khắc cung Khai Môn, hoặc tương sinh hòa với cung Khai Môn, thì sự tha bổng ắt nhanh; không đủ thì hơi chậm. Nếu cung Khai Môn khắc địa bàn cung Lục Tân, sao ở đó lại hưu tù, chủ bị vướng bận. Lại xem Thiên Cương cao thấp để quyết định có được tha hay không (xem địa bàn Quý, gia cung 1-2 là thấp, gia cung 8-9 là cao, đều có thể thông; gia cung 3-4-5-6-7 thì không cao không thấp, không thể thông).
Xem hòa giải: Lấy Canh, Bính làm hai bên kiện tụng (nguyên xem thiên bàn, bị xem địa bàn). Lục Giáp Trực Phù làm người chủ hòa. Ắt cung Trực Phù cùng sinh hai bên hoặc cùng khắc hai bên mới là xử sự công bằng, thì hòa thành. Nếu một sinh một khắc, có thiên tư, khó hòa. Nhưng nếu Trực Phù vượng tướng, Canh Bính hưu tù, thì họ cũng không thể không hòa. Lại có cách: lấy Trực Phù, Thiên Ất làm nguyên bị, lấy Giáp Tý Mậu hoặc Thiên Phụ làm người hòa giải.
Xem kiện tụng thông thường (Từ tụng thông thường chiêm): Lúc này gặp môn sinh cung (lấy cung làm chủ, nên xem địa bàn Trực Phù cung) hợp cách cát, hoặc can trên sinh can dưới, hoặc can ở cung đắc lệnh (phàm vượng tướng lấy sao của can mà nói, như sao Bồng ở cung Khảm, mùa đông là đắc lệnh, còn lại suy ra tương tự) mà khắc can trên, hoặc cung khắc môn (lấy cung làm chủ, nên cung khắc môn, không nên môn khắc cung), thì nhờ kiện có lý, có quý nhân phù trợ được tài. Nếu can lâm cung suy mộ (như sao Bồng ở Ly, mùa hè là thất lệnh), gặp can trên khắc can dưới và môn khắc cung mà hợp cách hung, thì thị phi nặng nề, tài sản phá tán, kinh sợ. Nếu gặp Tâm tinh và Khai Môn sinh cung, chủ quý nhân nâng đỡ. Nếu gặp Anh, Cảnh sinh cung, chủ văn thư đắc lực. Nếu gặp Sinh, Tử môn sinh cung, chủ được lợi ích về ruộng đất. Nếu tương khắc, vẫn dùng cái chủ của Bát Môn mà suy ra, như Khai Môn khắc cung là bị quý nhân trách móc v.v.
CỬA TẨU THẤT (TẨU THẤT MÔN – MẤT CẮP, BỎ ĐI)
Lấy Thời Can (xem địa bàn, tức cung Trực Phù) làm chủ mất, vàng bạc của cải xem Giáp Tý Mậu, trẻ con xem Lục Hợp, phụ nữ xem Thái Âm, con gái nhỏ xem Thiên Trụ, đầy tớ trai xem Thiên Bồng, đầy tớ gái xem Thiên Nhuế, lừa la, xe, thuyền xem Thương Môn, Thiên Xung, trâu bò xem Tử Môn, Thiên Nhuế. Xem các loại thần đó với cung Thời Can lâm nội ngoại, để đoán xa gần, được mất. Lấy nơi loại thần ở làm phương mất. Cung loại thần vượng tướng, trên dưới tương sinh và có cát môn thì khó tìm. Dùng Canh cách để định kỳ tìm được. Lại nếu các loại thần cưỡi Huyền Vũ hoặc Huyền Vũ khắc loại thần, là bị trộm cắp, nếu không thì tự đánh rơi. Nơi ở của kẻ trộm xem phương Huyền Vũ.
Xem người đi mất (Tẩu thất chiêm): Lấy cung các loại thần và cung Thời Can lạc phân nội ngoại để đoán xa gần. Cả Thời Can và cung loại thần đều ở nội thì dễ tìm, đều ở ngoại thì khó tìm. Nếu cung Thời Can ở ngoại, cung loại thần ở nội, vẫn có thể tìm. Cung loại thần ở là phương mất. Nếu được tinh vượng tướng và bốn môn Khai, Hưu, Sinh, Đỗ thì không thể tìm, trái lại thì có thể tìm. Được Cửu Địa, Thái Âm thì có người giấu; được Cửu Thiên thì nên đi xa; được Huyền Vũ thì bị người trộm; có người giam giữ, tra hỏi. Lại xem Canh cách: niên cách thì năm bắt, nguyệt cách thì tháng bắt, nhật thời cách thì ngày giờ bắt. Lại loại thần không có thế chủ khách đối ứng, dương thời nên xem thiên bàn, âm thời nên xem địa bàn. Ở Khảm: tìm ở mé nước, trong đền; ở Cấn: tìm ở nơi cao phía đông bắc; ở Chấn, Tốn: tìm ở trong rừng rậm; ở Ly: tìm ở nơi cao, miệng lò, gốm sứ; ở Khôn: tìm ở mộ cổ, nhà bà lão; ở Đoài: tìm ở chợ náo nhiệt hoặc chỗ giết mổ; ở Càn: tìm ở nhà quan quyền. Nếu loại thần lạc nhật can mộ khố hoặc không vong, đều khó tìm.
Xem mất đồ (Thất vật chiêm): Phàm xem mất đồ, vàng bạc của cải... Xem cung Giáp Tý Mậu. Thấy Huyền Vũ thì bị trộm, không thấy Huyền Vũ thì tự đánh rơi. Lại nếu cung Huyền Vũ lạc khắc cung Mậu, cung Mậu sinh Huyền Vũ, cũng bị trộm. Giáp Tý Mậu không vong, dù bị trộm hay tự rơi, đều không thể tìm được. Muốn hỏi ngày tìm được, lấy can chi địa bàn cung Mậu mà quyết. Kẻ trộm ở đâu lấy phương Huyền Vũ quyết, tinh dương là nam, tinh âm là nữ, dùng loại tượng bát quái của cung Huyền Vũ để quyết ngoại hình.
CỬA TẬP BỔ (TẬP BỔ MÔN – BẮT BỌN TRỐN, BẮT CƯỚP)
Lấy Lục Hợp làm người trốn, Thương Môn làm người bắt. Thương Môn khắc Lục Hợp thì có thể bắt, Lục Hợp khắc Thương Môn thì khó bắt. Như xem bắt kẻ cướp: lấy Thiên Bồng làm đại cướp, Huyền Vũ làm trộm vặt, cung Thời Can làm chủ sự việc. Cũng xem sự sinh khắc giữa Thương Môn, cung Thời Can với Bồng, Huyền để định có bắt được không. Kỳ bắt được xem Canh cách. Nếu hỏi cướp ở đâu, lấy loại tượng bát quái của cung Bồng, Huyền lạc mà quyết. Vật giấu ở đâu lấy cung trường sinh của ngũ hành mà sao Huyền Vũ cưỡi để tìm.
Xem bắt người trốn: Lục Hợp là người trốn, Thương Môn là người bắt. Lục Hợp sinh Thương Môn thì tự về; khắc Thương Môn thì khó bắt; Thương Môn khắc Lục Hợp thì dễ bắt. Sinh cung Lục Hợp thì được hối lộ không chịu hết lòng; Thương Môn và Lục Hợp đồng cung, chủ thông đồng làm gian. Lại xem Lục Quý Thiên Cương: ở cung 3,4,5,6,7 thì có thể bắt; ở các cung khác thì không thể bắt. Được Bạch Nhập Quỳ thì ắt bắt; được niên, nguyệt, nhật, thời cách cũng có thể bắt.
Xem bắt kẻ cướp: Bồng là đại cướp, Huyền là trộm vặt, Thương Môn là người bắt, Đỗ Môn là phương bắt được, cung Thời Can là chủ mất. Thương Môn hoặc cung Thời Can khắc cung Huyền, Bồng thì dễ bắt; sinh thì nhận hối lộ không hết lòng bắt. Huyền, Bồng, Thương Môn đồng cung, chủ thông đồng làm cướp. Huyền, Bồng khắc Thời Can thì e hại chủ, khắc Thương Môn thì e hại người bắt. Thời Can và Thương Môn cùng khắc Huyền, Bồng thì bắt không gì không thắng. Đỗ Môn có cách thì ắt bắt. Trong cục có niên, nguyệt, nhật, thời cách cũng có thể bắt, không cách thì bắt được. Nếu Huyền, Bồng và Lục Canh, dù có cung Thời Can khắc cũng tốn công.
Xem cướp ở đâu: Cung Bồng, Huyền là phương của giặc cướp, theo loại tượng bát quái mà quyết. Nếu lạc không thì không cần tìm.
Xem vật giấu ở đâu: Lấy nơi trường sinh của kẻ trộm làm nơi giấu vật. Ví dụ Huyền Vũ cưỡi Anh tinh thuộc Hỏa, Hỏa trường sinh tại Dần, tức giấu ở phương Cấn. Nếu cưỡi Nhuế, Cầm thuộc Thổ, Thổ trường sinh tại Thân, tức giấu ở phương Khôn.
CỬA TẬT BỆNH (TẬT BỆNH MÔN)
Lấy cung Nhuế Tinh làm bệnh thần. Cung này được Sinh Môn thì sống, được Tử Môn thì chết. Lại xem Nhuế Tinh suy vượng để quyết định khó dễ chữa trị. Cung năm mệnh người bệnh vượng tướng và được kỳ môn cách tốt thì dễ khỏi; năm mệnh nhập mộ thì hung. Cung Nhuế xung khắc năm mệnh cũng hung. Kỳ khỏi bệnh lấy lúc cung Nhuế tù phế và lúc can chi xung khắc cung Nhuế làm kỳ. Xem mời thầy thuốc: lấy cung Thiên Tâm lạc xung khắc cung Nhuế là lương y.
Xem bệnh cát hung: Lấy cung Nhuế làm bệnh thần, dùng Sinh Tử nhị môn để quyết. Cung Nhuế được Sinh Môn thì sống, được Tử Môn thì chết. Nhuế lạc Càn, Đoài là vượng, không chữa được; lạc Ly, Trung Ngũ (cung 5) thì bệnh kéo dài; lạc Chấn, Tốn thì không thuốc cũng khỏi; lạc Khảm thì dù kéo dài vẫn chữa được. Bệnh mới lạc không vong thì sống, bệnh lâu lạc không vong thì chết. Lại xét cung năm mệnh người bệnh: được Sinh Môn thì sống, được Tử Môn thì khó khỏi. Lại năm mệnh mang khí tử tù, hoặc mang hung thần, hung cách, cũng chết. Cung Nhuế có hung thần, hung cách, năm mệnh dù được vượng tướng mà bị cung Nhuế xung khắc, cũng chết. Năm mệnh nhập mộ cũng hung. Cung năm mệnh được kỳ môn cách tốt, trên dưới tương sinh hợp, không thuốc cũng khỏi. Kỳ khỏi lấy lúc cung Nhuế phế tù, hoặc lúc can chi khắc cung Nhuế, kết hợp mà quyết. Ví dụ ngày Giáp Ất Mộc khắc Mậu Kỷ Thổ, là khắc can; ngày Sửu xung Mùi, là xung chi v.v. Xem bệnh cho cha mẹ, niên can (Thái Tuế) nhập mộ thì hung; xem bệnh cho con cái, thời can nhập mộ thì hung; mỗi cái lấy lục thân chủ quyết.
Xem mời thầy thuốc: Thiên Tâm hoặc Ất Kỳ là thầy thuốc. Cung lạc được kỳ môn cách tốt là lương y; hai thần lâm cung vượng tướng, không được kỳ môn cách tốt là thầy thuốc thời vụ; không được vượng tướng và kỳ môn cách tốt là thầy thuốc tầm thường. Chẳng luận lương y hay thầy tầm thường, hễ có thể khắc cung Nhuế thì thầy thuốc có công; cung Nhuế khắc cung của hai thần, thì dù lương y cũng không chữa được.
Xem bệnh gì: Lấy cung Nhuế quyết. Lạc Ly cung là bệnh đầu mắt; ở trong là bệnh tim; trong bệnh là Hỏa. Đều dùng loại tượng bát quái để suy ra.
