Nguyên lý thiết lập cục thức Kỳ Môn Độn Giáp
Nguyên lý thiết lập cục thức Kỳ Môn Độn Giáp
Trong Kỳ Môn Độn Giáp, các phương pháp khởi cục phổ biến trên thị trường thường thấy là phương pháp “Trí Nhuận” (điều chỉnh nhuận), “Chiết Bổ” (bù khuyết) và phương pháp khởi cục của phái Mao Sơn. Lại có một phái khác gọi là “Âm Bàn Kỳ Môn”, dùng lịch Âm để khởi bàn. Ngoài ra còn có nhiều phương pháp khởi cục do người hiện đại sáng tạo. Trong quá trình khởi cục, hai phương pháp “Phi” (bay) và “Chuyển” (xoay) thường gây ra nhiều tranh luận.
Những người cho rằng bàn Kỳ Môn nên dùng “chuyển” thường dẫn trong cổ thư rằng “các chòm sao trên trời đều xoay chuyển”, vì thế nên dùng chuyển. Những người cho rằng bàn Kỳ Môn nên dùng “phi” thì cho rằng “Cửu Cung vốn dĩ nhảy cóc qua lại”, đương nhiên phải dùng phi.
Trong cuộc tranh luận “phi” và “chuyển” này, đã xuất hiện nhiều ý kiến trái chiều. Kết quả là người dùng phi vẫn tiếp tục dùng phi, người dùng chuyển vẫn áp dụng phi, nhưng điểm khác biệt là: bàn phi (phi bàn) lấy cát hung của từng cung đơn để luận đoán rõ ràng, còn bàn chuyển (chuyển bàn) lại chú trọng lấy hình tượng để lấy tượng (suy diễn).
Rốt cuộc Kỳ Môn nên dùng phi hay chuyển? Thực ra, ngay trong quá trình khởi bàn Kỳ Môn Độn Giáp đã có sẵn câu trả lời. Nhiều người không nhận ra, phần lớn là do việc lập bàn bằng máy tính quá tiện lợi, vì thế không đi sâu tìm hiểu chi tiết.
Trên mạng hiện có rất nhiều bài viết dài dòng về cách khởi cục Kỳ Môn, nhưng ở đây tôi chỉ đề cập đến những điểm chưa được nhắc đến ở nơi khác.
Xét về việc khởi cục Kỳ Môn: trước tiên dựa theo Tiết Khí để phân chia Bát Quái, mỗi quái ứng với một tiết (Bát Tiết). Tám quẻ này xoay thuận theo vòng tròn. Mỗi tiết dài hơn 45 ngày, lại được chia thành từng khoảng 15 ngày, tương ứng với 24 Tiết Khí. Số 15 chính là tổng số của Lạc Thư (9 cộng với các số khác ra tổng 15), vì vậy tiếp tục phân chia thành Thượng, Trung, Hạ Nguyên (Tam Nguyên), phối hợp với phương pháp bay (phi pháp) của Cửu Cung.
Một ngày có 12 giờ, 15 ngày là 180 giờ, 45 ngày là 540 giờ. Cứ 10 giờ lại đổi một Tuần (cục). 45 ngày vừa đúng 54 lần đổi Tuần. Tám Tiết tổng cộng đổi 432 lần. Tuy nhiên, một năm thực tế không phải 360 ngày mà là hơn 365 ngày, vì thế cuối cùng dư ra hơn 5 ngày, tính là 6 Tuần. Một năm tổng cộng đổi 438 Tuần. Con số 438 này có ý nghĩa đặc biệt, bởi vì 4+3+8=15, đây là một kết quả tinh tế. Các con số khác cũng có thể suy luận tương tự.
Nói một cách đơn giản, bản thân Cửu Cung đã đủ để điều chỉnh sự chênh lệch giữa một năm 365 ngày và 360 ngày.
Nguyên tắc của phương pháp Chiết Bổ và Trí Nhuận là tuân theo sự chuyển động của Mặt Trời qua các cung (Thái Dương quá cung). Dương tính biểu hiện ra bên ngoài, vì vậy hiện tượng (tượng) sẽ rõ ràng hơn. Trong thực tế xem xét nghiệm chứng, thường phát hiện: một tượng xuất hiện ở một phương vị nào đó, thì phương vị đó nhất định có sự vật tương ứng. Sự định vị hiện tượng này rất chính xác, nhưng không phải là không có vấn đề. Vì phần lớn là tượng thì chuẩn, nhưng phần nội tại (bản chất) lại bị mất đi. Đây là vấn đề “thiên dương thất âm” (lệch về dương, mất phần âm). Vì vậy, trong việc vận trù (hoạch định chiến lược) thường gặp khó khăn.
Mục đích của phương pháp Chiết Bổ và Siêu Tiếp Trí Nhuận đều là chạy theo Mặt Trời. Chiết Bổ thuộc dạng “ứng cục thức” (cục ứng biến), tức là khi Trái Đất ở vị trí nào so với Mặt Trời vào thời điểm đó thì chọn đoạn đó để khởi cục. Nếu ví von, nó giống như một loại thức cục ứng cấp, cần sử dụng nhanh chóng cho việc chiêm đoán. Nhưng nó thiếu cơ chế đệm, vì thế đôi khi phương pháp Chiết Bổ có thể xuất hiện sự hỗn loạn trong phạm vi nhỏ. Trong khi đó, phương pháp Trí Nhuận có cơ chế đệm xử lý, tuân theo mô hình “thiên địa” của người xưa. Sau Đông Chí, dương khí thăng lên, đến Hạ Chí thì đạt đỉnh. Sau khi đạt đỉnh, dương khí không lập tức chuyển thành âm khí giáng xuống, mà có một quá trình. Quá trình này chính là thời gian “nhuận”. Tương tự, đến Đông Chí, sau khi âm khí giáng xuống, đi vào lòng đất cũng không lập tức biến thành dương khí, cũng cần một quá trình, đó cũng là quá trình “nhuận”. Dùng phép so sánh Trái Đất quay quanh Mặt Trời để giải thích phương pháp Siêu Tiếp Trí Nhuận: khi Trái Đất đi qua điểm Đông Chí, lượng ánh sáng nhận được là ít nhất, nhưng trước đó khí hậu đã bắt đầu lạnh. Sau khi qua Đông Chí, lượng ánh sáng tăng lên, nhưng âm khí vẫn chiếm ưu thế. Lúc này, dù dương khí đã sinh nhưng bị áp chế, tạm thời không thể hiện ra. Vì vậy, nguyên nhân khiến khí hậu mỗi năm có thể lạnh sớm hơn hoặc muộn hơn một chút, suy cho cùng vẫn phải phù hợp với tượng trời. Nếu bàn luận chi tiết thì rất phức tạp.
Tiếp theo nói về phương pháp khởi cục của phái Mao Sơn. Yêu cầu của nó là: hễ Tiết Khí vừa đến thì lập tức sử dụng cục của tiết đó. Điều này cũng có lý. Ví dụ, vừa qua điểm Đông Chí, lượng ánh sáng Mặt Trời Trái Đất nhận được thực tế đã tăng lên, mặc dù khí hậu thực tế có thể đến sớm hoặc chậm, nhưng ánh sáng tăng lên vào đúng thời điểm này là sự thật. Vì vậy, đi theo ánh sáng Mặt Trời là đặc điểm của phương pháp Mao Sơn. Nếu như Chiết Bổ và Siêu Tiếp Trí Nhuận chú trọng vào biến hóa khí hậu thực tế, thì phương pháp Mao Sơn chú trọng vào nguyên nhân dẫn đến những biến hóa này, ở tầng tư duy sâu hơn một bước.
Còn phái “Âm Bàn Kỳ Môn” lưu truyền rộng rãi, thì dùng lịch Âm để khởi cục. Nói rằng phương pháp này mô phỏng pha của Mặt Trăng thì có vẻ gượng ép. Phương pháp của họ lấy số thứ tự của năm chi cộng với số tháng chi, cộng với ngày trong tháng Âm lịch, cuối cùng cộng với số thứ tự của giờ chi. Trước hết, trong đó “ngày trong tháng Âm lịch” là có ý nghĩa, bởi vì Âm lịch bao gồm điểm sóc (ngày Mặt Trăng, Mặt Trời và Trái Đất thẳng hàng). Điểm sóc, khi Mặt Trăng, Mặt Trời và Trái Đất nằm trên cùng một đường thẳng, là một điểm đánh dấu quan trọng. Số thứ tự của địa chi tháng đại diện cho vị trí của Trái Đất trên Hoàng đạo của Mặt Trời (12 phân đoạn). Địa chi giờ là do một ngày 12 giờ, sao trên trời xoay chuyển kết hợp với giờ làm độ lệch. Cuối cùng, địa chi năm đại diện cho sự biến đổi độ lệch của tuế tinh (sao Mộc). Phương pháp khởi bàn bằng Âm lịch này tuy đơn giản nhưng bao hàm ý nghĩa rất rộng. Bởi vì trong các năm khác nhau, giá trị tổng của tháng và giờ giống nhau, đại diện cho sự xoay chuyển của thiên tượng; ngày đại diện cho số ngày sau điểm sóc; cuối cùng cộng thêm sự di chuyển của tuế tinh như một yếu tố cân nhắc. Từ góc độ thiên văn, sự mô phỏng này chi tiết hơn so với chỉ dùng Thái Dương. Đó cũng là lý do vì sao tượng của Âm Bàn Kỳ Môn thường tinh tế hơn.
Tuy nhiên, phương pháp khởi cục của Âm Bàn Kỳ Môn này thực tế đã mượn cách bắt quẻ của Mai Hoa Dịch Số. Đây là một cách mô phỏng tiện lợi. Nhưng nếu xét kỹ, cách khởi cục này cũng có vấn đề. Trước hết, vào ngày sóc (Mặt Trăng và Mặt Trời hợp), mặc dù đã dùng đến giờ, nhưng không xét đến giờ của điểm sóc là khác nhau. Thứ hai, về sự vận động biến đổi của tuế tinh, dùng tham chiếu 12 năm để suy bước, chính xác mà nói phải là 11.85 năm, sai lệch 0.15 năm, điều này sẽ gây ra sai số nhất định cho cục pháp. Ngoài ra còn có vấn đề về nguyệt kiến (tháng xây dựng). Lấy Tý làm 1 tuy có lý lẽ, nhưng nếu luận theo kỷ niên Thượng Nguyên, giờ Tý ngày mùng 1 tháng Giêng năm Giáp Tý Thượng Nguyên, có ba chữ Tý (năm Giáp Tý, tháng Giáp Tý, ngày Giáp Tý) cộng với một ngày mùng 1, lại khởi cục từ cục 4, độ lệch là quá lớn.
Những điều trên đều có lý lẽ riêng, có thể tùy theo nhu cầu khác nhau mà sử dụng. Vẫn còn một số chi tiết chưa được trình bày, ví dụ như một số cải tiến hữu ích xin tạm thời chưa đề cập. Nhưng dù chúng có gắn với Đạo gia hay không, có thể nói, đây đều không phải là phương pháp khởi cục Kỳ Môn chính thống của Đạo gia. Cách khởi cục của Đạo gia, cục thức này phải đi theo tư duy của Đạo gia, phải phối hợp với tu luyện và các yếu tố khác. Làm theo những cách trên, dùng để bói toán thì được, một phần dùng để vận trù cũng có thể, nhưng dùng để tu luyện thì không thích hợp, bởi vì phần lớn chúng vẫn mang tư duy của nho sinh.
Bản thân tôi có quá nhiều thứ phải học, vì vậy không có thời gian nghiên cứu sâu về Kỳ Môn. Nhưng khi lật xem các điển tịch được lưu trữ trong phái Ẩm Phù, tôi thấy rằng cách khởi bàn Độn Giáp của Đạo gia chú trọng hơn vào mục đích tu luyện và pháp thuật. Ví dụ như bước đạp Cửu Cung cương bộ, chính là dựa theo Độn Giáp khởi thức để đạp. Trên mạng, có người từ hơn chục năm trước từng nói rằng đã đạp cương theo cách này hơn trăm ngày, nhưng chẳng thấy gì… Những lời này tạm không bàn đến việc đạp theo thức mà thông thần, ngay cả những người chuyên tu cương bộ, nếu không theo lệ thức Kỳ Môn để đạp, chỉ chuyên tâm tu tập cũng có nhiều người đạt được hiệu nghiệm. Vì vậy, những lời nói kiểu này phần lớn đều là sai lầm.
Về việc khởi thức Độn Giáp, xét theo điều kiện quan sát thiên văn ngày xưa, lẽ ra không thể làm được chu đáo đến vậy, bởi vì dân gian thường bị cấm học thiên văn. Tuy nhiên, dựa theo lệ để suy ngược thiên văn, dường như lại phù hợp với cổ pháp hơn. Sao Hỏa (Huỳnh Hoặc) và sao Kim (Thái Bạch) dù sao cũng không ngoài việc sao trời biến hóa, địa khí quy về Cửu Cung, bố trí lại phương vị. Mười thiên can hóa thành Độn Giáp, tuy là chín can (bỏ Giáp), nhưng không rời khỏi sự biến hóa của Cửu Tinh. Đó cũng là lý do vì sao Cửu Tinh thường đi theo Thiên Can. Có lẽ do người xưa quan sát sao mà sáng tạo ra Tinh Chiêm, rồi từ đó chiết xuất thành Kỳ Môn. Trong đó, thuyết về Giáp, Canh, Nhâm, Quý lại thông với Đan Đạo. Đại thể tổng kết lại không rời khỏi “Tam Ngũ” (số 3 và 5). Ngoài cục pháp ra, những phần khác cơ bản tương tự. Chỉ có một điểm khác biệt lớn: cách khởi thức Bát Môn không phải theo lệ cố định như môn Hưu ở cung Khảm, mà là ba ngày thay đổi một lần. Trong 36 thời thần (giờ), Bát Môn lại xoay chuyển theo giờ. Xem xét sự phối hợp giữa các môn, lại có huyền cơ riêng. Ví dụ như Sinh Môn vào chỗ Tử Địa, đây là “trong chết có sống”; hoặc Kinh Môn gặp Đỗ Môn, ắt gặp kiện cáo vào tù, v.v… Phần lớn đều luận theo ngũ hành vượng suy để xét mức độ nặng nhẹ của sự việc, vì vậy vẫn không rời khỏi nguyên lý Dịch. Một số quyết pháp này dường như tương thông với cái gọi là “Âm Dương giao cấu” trong Huyền Không, nhưng lại không hoàn toàn giống. Chưa từng nghiên cứu sâu thì khó có thể nói nhiều, chỉ đành để lại sau này bàn luận tiếp.
