THIÊN CẦM TINH
THIÊN CẦM TINH
Tên đầy đủ của Thiên Cầm Tinh là Chấp Khánh Cương Dục Thiên Cầm Liêm Trinh Cương Tinh, gọi tắt là Liêm Trinh Tinh, tự Tử Công.
Đặc điểm của Thiên Cầm Tinh: sao này ứng với Trung ương Ngũ cung, là Dương tinh, hành Thổ. Bởi vì Thổ sinh vạn vật, và Trung cung là nơi của Nguyên soái Trực phù trong Độn Giáp, cho nên là Đại Cát chi tinh. Nếu Thiên Cầm Tinh lâm cung, mọi việc đều tốt lành. Thích hợp cho việc tế tự cầu phúc, cắt đứt quan hệ với những nước hoặc người hung ác, bất lương. Cầm quân xuất trận bốn mùa đều cát lợi, thậm chí không cần dùng đến đao binh mà chỉ dùng kế sách cũng có thể khiến kẻ thù khiếp phục, quy hàng. Ngoài ra, dời nhà, yết kiến quan phủ, buôn bán, cưới gả, xây dựng, an táng đều cát lợi.
Thiên Cầm Tinh ở vị trí Trung ương, là sao tôn quý, là Nguyên soái, hành Thổ. Ý nghĩa tượng trưng của Thiên Cầm Tinh chủ yếu diễn sinh từ Thổ, ví dụ như đồ gốm sứ cổ, châu báu đồ cổ, đồ gốm sứ thổ mộc, ngành hàng gốm sứ, ngành tạp hóa (Thổ là khí tạp của ngũ hành), ngành bách hóa, ngành than đá, ngành khoáng sản, bảo tàng, viện lưu trữ, tỳ vị, v.v. Thiên Cầm Tinh ở Trung cung, vốn không ứng với bất kỳ tiết khí nào trong 24 tiết khí, cũng không ứng với bất kỳ quẻ nào trong 12 quẻ Tiêu tức, cũng không ứng với bất kỳ quẻ nào trong Tiên Thiên Bát Quái và Hậu Thiên Bát Quái. Vậy Thiên Cầm Tinh lấy tượng từ đâu? Thông thường, trong thực tế cục Kỳ Môn, Trung cung sẽ ký sinh vào cung Nhị (cung Khôn). Trong các cục Kỳ Môn thực tế, Thiên Cầm Tinh thường xuất hiện bên cạnh Thiên Nhuế Tinh. Thiên Nhuế Tinh ở cung nào thì Thiên Cầm Tinh ở cung đó.
Thiên Cầm Tinh ứng với Trung ương Thổ, có thể cầm dây (chỉ sự quyền uy) để chế ngự bốn phương, lại là nơi bắt đầu và kết thúc của vạn vật, cũng là Thái cực của trời đất, đương nhiên là Đại Cát Đại Lợi. Vì vậy, trong Kỳ Môn Độn Giáp, Thiên Cầm Tinh là Thượng Cát chi tinh.
TƯỢNG Ý
Ngũ hành: Thổ. Ở trên không trung trung ương.
Trạng thái bốn mùa: Mùa xuân: tù; mùa hạ: phế; mùa thu: vượng; mùa đông: hưu; tháng Tứ Duy: tướng.
Trạng thái Cửu cung: cung Chấn, Tốn: tù; cung Ly: phế; cung Càn, Đoài: vượng; cung Khảm: hưu; cung Khôn, Cấn: tướng.
Khái niệm: Dương tính, chính trực, vuông vắn, chất phác, hậu đạo, là trung tâm, là cao, là vật bay, là năng lực quản lý, là tướng soái, được quý nhân phù trợ, công chính, hòa bình, một mảnh chính khí.
Việc nên – việc kiêng: Thiên Cầm viễn hành thiên đắc lợi, tọa cổ hành thương giai xưng ý. Đầu yết quý nhân câu ích hoài, tu tạo mai táng đô phong dụ. Thiên Cầm đại biểu Trung cung, là nơi của Nguyên soái Trực phù trong Độn Giáp. Là pháp sư, là thợ khéo. Nên đi xa, làm ăn buôn bán, an táng, xây dựng, yết kiến quý nhân. Thiên Cầm Tinh lâm cung, mọi việc đều tốt, bốn mùa đều cát.
Hình thái: (Thường được mô tả thông qua tượng Thổ: mặt vuông chữ điền, thân hình vạm vỡ, khí chất uy nghiêm, trung hậu)
Bộ phận cơ thể: Tỳ, vị, cơ bắp, xương sống, lưng.
Động vật: (Thổ chủ các loài trên cạn) trâu, ngựa, chó, heo, các loài thú.
Nhân vật: Nguyên soái, quan lại, người quản lý, người có uy tín, người trung hậu, người làm nghề cổ vật, đồ gốm sứ, nhà khảo cổ, thợ xây, thợ làm gạch ngói.
Thực vật: Cây lương thực (lúa, ngô, khoai), cây có củ (củ cải, khoai lang), cây bụi.
Địa lý: Đất trung tâm, quảng trường, sân vận động, cung điện, trung tâm hành chính, cao nguyên, trung du, vùng đất cao ráo.
Đồ vật tĩnh: Đồ cổ, gốm sứ, đồ sứ, bảo vật, hàng tạp hóa, bách hóa, than đá, khoáng sản, di vật, bảo tàng, hồ sơ lưu trữ, đồ xây dựng.
THIÊN CẦM TINH GẶP MƯỜI HAI THỜI THẦN
Thiên Cầm viễn hành thiên đắc lợi, tọa cổ hành thương giai xưng ý. Đầu yết quý nhân câu ích hoài, tu tạo mai táng đô phong dụ.
Giờ Tý: Chủ có phụ nữ mang thai đến, người mặc áo tía đến làm ứng nghiệm. Sau cảm ứng, 50 ngày có người văn nhân đưa đồ, trong ba năm nhờ võ công mà được thăng quan, 20 năm sau tài lộc thóc lúa dồi dào, nhân khẩu ngàn người, tài vận thịnh vượng.
Giờ Sửu: Chủ có người phụ nữ có hiếu cầm đồ thiếc đến, trẻ con vỗ tay, thổi sáo, đánh trống, la hét làm ứng nghiệm. Sau cảm ứng, nhờ đánh bạc, trò chơi mà được tiền, hoặc mở kho tìm được tiền, trong ba năm được tiền của kẻ trộm cướp, phát đạt trở nên giàu có.
Giờ Dần: Chủ gà gáy chó sủa, người đạo sĩ đội nón lá cọ đến làm ứng nghiệm. Sau cảm ứng, được điền khế của người thuộc âm Vũ, nhân khẩu phát vượng.
Giờ Mão: Chủ có gió nhẹ từ phía Đông nổi lên, chim chóc kêu khắp nơi, phụ nữ mang thai đến làm ứng nghiệm. Sau cảm ứng, trong vòng nửa năm được tài lộc bất ngờ, phát gia.
Giờ Thìn: Chủ có người thuộc tầng lớp “cửu lưu” tranh cãi, phía Tây có quạ kêu làm ứng nghiệm. Sau cảm ứng, 60 ngày có tăng ni và người cô độc đưa đồ đến.
Giờ Tỵ: Chủ có quạ cổ trắng bay thành đàn đến, và pháp sư đánh nhau, quý nhân cưỡi ngựa đi qua làm ứng nghiệm. Sau cảm ứng, trong vòng 70 ngày, phụ nữ sinh quý tử, kết hôn, ruộng vườn rất thịnh vượng.
Giờ Ngọ: Chủ có nữ nhân mặc áo trắng đến, chó ngậm hoa, gà rừng đánh nhau, mưa gió đến làm ứng nghiệm. Sau cảm ứng, có người tự đến, nhờ đánh bạc, việc tư mà được tiền, gà đen sinh gà con trắng, ruộng vườn phát vượng.
Giờ Mùi: Chủ có ông già, người què chân gánh hoa đi qua, hoặc người mặc áo xanh đem đồ đến làm ứng nghiệm. Sau cảm ứng, trong 60 ngày nhận được người thuộc âm Vũ và đồ sắt, phát vượng.
Giờ Thân: Chủ chim bay trên trời kêu, pháp sư cầm đồ giấy đến làm ứng nghiệm. Sau cảm ứng, trong 100 ngày nữ nhân nhặt được ngọc trai, ngọc bích về, trong một năm sinh quý tử, phát gia.
Giờ Dậu: Chủ phía Tây có lửa cháy, nhà cửa huyên náo, tiếng trống ồn ào làm ứng nghiệm. Sau cảm ứng, trong một năm sinh quý tử, phát vượng.
Giờ Tuất: Chủ phía Tây Nam có tiếng chuông trống, trẻ con mặc áo xanh mang giỏ đến làm ứng nghiệm. Sau cảm ứng, trong 60 ngày chuột bạch đến, được tài sản của người góa phụ, hưng vượng.
Giờ Hợi: Chủ có phụ nữ phía Đông Nam cười vang, nổi gió lớn, cây đổ nhà sập, người la hét làm ứng nghiệm. Sau cảm ứng, trong 100 ngày nhận được đồ của thợ rèn và sản nghiệp của tăng ni, đạo sĩ.
