ẨN TÔNG KỲ MÔN DIỄN KHÓA TÂM PHÁP CƯƠNG YẾU — SONG TƯƠNG KỸ PHÁP [MỘT]
ẨN TÔNG KỲ MÔN DIỄN KHÓA TÂM PHÁP CƯƠNG YẾU — SONG TƯƠNG KỸ PHÁP [MỘT]
Song Tương Kỹ Pháp
Kỳ Môn một thuật, đã thất truyền từ lâu. Dù nổi danh là bậc thần số trong Tam Thức, nhưng người tinh thông thuật này thực sự chỉ đếm trên đầu ngón tay. Bởi vì Độn Giáp chú trọng hàng đầu là khí vận Âm Dương, trong đó có liên quan đến sự sinh hóa của Nhị thập tứ khí, Thất thập nhị hầu, cùng công năng của tuế khí. Do đó, bố cục diễn bàn, dù là người tinh xảo nhất cũng khó phân biệt được sự lẫn lộn. Bởi vì suốt ngàn năm qua, các học giả Kỳ Môn mỗi người mỗi ý, xuyên tạc gán ghép, khiến người học không biết theo ai.
Trời đất là then chốt của Âm Dương. Âm Dương là huyền quan của sinh tử. Khí vận là thể và dụng của Âm Dương. Bát quái là ống bễ (tác quản) của Âm Dương. Kỳ nghi là kinh vĩ của Âm Dương. Can chi là sự biến hóa của Âm Dương. Vì vậy, lập mười can để làm kinh cho trời, nhằm thống lĩnh khí vận mà vận hành ở trên; lập mười hai chi để làm vĩ cho đất, nhằm tiếp nhận khí vận mà phân nhánh ở dưới. Đúng vậy! Không có can chi thì không thể phân biệt được sự biến hóa của Âm Dương, sự vận chuyển của khí vận, sự hưu cát của Bát môn, sự cảm chiêu của Tinh Thần, thể dụng của Cung quái, cát hung của Kỳ Nghi, tất cả đều nhờ sự tương tác của can chi để làm sáng tỏ! Vì vậy, cần có nhau để hoàn chỉnh thể, bổ trợ lẫn nhau để thần kỳ cái dụng. Nên phân ra thì đan xen, hợp lại thì xuyên suốt một mối. Tuy nhiên, phải làm sao cho Cửu cung, Tinh, Nghi, Kỳ, Môn không có một chút sai lộn, mới có thể hóa hung thành cát, nhận phúc vô cùng.
"Song Tương Kỹ Pháp" là đại pháp căn bản của môn Ẩn Tông Kỳ Môn thuộc phái Long Môn Toàn Chân Đạo, chia làm hai phần: "Nội Tương Kỹ Pháp" và "Ngoại Tương Kỹ Pháp". Chương này chủ yếu trình bày một phần nội dung của "Song Tương Kỹ Pháp". Còn toàn bộ nội dung thâm sâu của sự kết hợp giữa nội và ngoại song tương sẽ được soạn chuyên văn để trình bày chi tiết sau, hiện nay chỉ truyền nội bộ cho hội viên tu tập, tạm thời chưa công khai.
ẨN TÔNG KỲ MÔN DIỄN KHÓA TÂM PHÁP CƯƠNG YẾU — SONG TƯƠNG KỸ PHÁP [MỘT]
Các loại thần sử dụng để chiêm nghiệm trong Kỳ Môn đều dựa trên sinh khắc mà xác định, không thể cố chấp vào một lối để lấy dùng. Cát hung hoàn toàn ở chỗ thần minh, tồn tại ở người sử dụng. Phàm Cửu cung Lạc Thư là tượng số. Tượng của nó bao hàm tám phương và trung tâm. Số của nó bắt đầu từ 1 và kết thúc ở 9, xoay vần khúc chiết, phân ra thì là 9x9, xâu chuỗi lại thì là một. Trong đó có điều lý, biến hóa tinh vi vô cùng. Dùng nó thì ra vào có cửa, tiến lui có phép. Ngước lên có thể biết văn thiên (thiên văn), cúi xuống có thể xét địa lý, ở giữa có thể biết nhân sự.
Tạo ra thức Đại Giáp Toàn Khuê Ngũ bàn, phép tượng ngũ uẩn, tượng trời, tượng người, tượng đất, tượng thần, tượng quỷ. Bố trí Cửu tinh, mở đóng Bát môn, phân bố Bát quái để trấn tám phương. Lập Trung cung để kiến Hoàng cực, dời chuyển Phù Sứ để độn Kỳ Nghi và Bát môn, do đó thành pháp 18 cục của Kỳ Môn.
Cơ bản: Trong Cửu cung của bàn gốc (địa bàn), địa bàn chủ về vận, chủ về tĩnh, là thể. Thần bàn chủ về thời, chủ về động, là dụng. Tĩnh thì dấu hiệu cát hung chưa hiện hình, động thì cơ biến cát hung đã bày ra. Tuy nhiên, cái lý của vận động thời tiết (động tĩnh thời vận) chẳng ngoài số sinh thành của quái khí. Thuận thì bắt đầu từ 1 đến 9, nghịch thì bắt đầu từ 9 đến 1, đó là số bất dịch. Nếu luận về quái, thì có Khảm, Khôn, Chấn, Tốn, Càn, Đoài, Cấn, Ly. Nếu luận về môn, thì có Hưu, Tử, Thương, Đỗ, Khai, Kinh, Sinh, Cảnh. Mà lấy sao luận, thì có Bồng, Nhuế, Xung, Phụ, Cầm, Tâm, Trụ, Nhâm, Anh. Lấy độn luận, thì có Tam Kỳ Đinh, Bính, Ất và Lục Nghi Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Rõ ràng có sự định vị của Trung cung, đâu ra đấy có sự điều lý của cách bay bố.
Nếu thể và dụng đã khác, thì Âm Dương của Cửu tinh mất chức, hưu cát của Bát môn không còn chứng nghiệm. Trung Ngũ ký sinh ở cung Khôn Một có hai sao (Nhị Diệu - chỉ Thiên Nhuế và Thiên Cầm?), đó là trái đạo trời, mất lý đất. Nếu Trung Ngũ quyết định phải ký sinh ở Khôn mà không thể thay đổi, thì trong một cung có hai sao hai nghi, vậy cát hung sẽ theo đâu? Suy ra đến các cung khác cũng như vậy, lẫn lộn thì làm sao phù hợp với khắc ứng? Lại như Bát môn, người đời chỉ biết Hưu, Sinh, Thương, Đỗ, Cảnh, Tử, Kinh, Khai, nhưng không biết rằng tâm dễ biến, huyền quan thiết lập vị, nên theo quái khí mà bay qua Hưu, Tử, Thương, Đỗ, Khai, Kinh, Sinh, Cảnh. Lại như Cửu tinh, cũng biết từ Bồng, Nhâm, Xung, Phụ, Anh, Nhuế, Cầm, Trụ, Tâm, nhưng không biết rằng cũng nên theo quái khí mà bay qua Bồng, Nhuế, Xung, Phụ, Cầm, Tâm, Trụ, Nhâm, Anh. Bay bố như thế mới không làm mất đi thể dụng nhất bản, hoàn toàn hợp với thành thức của người xưa.
Bàn Đại Giáp Toàn Khuê của Ẩn Tông Kỳ Môn, với tư cách là mô hình số lý mô phỏng hệ thống không thời gian lập thể của vũ trụ, đã vô cùng khéo léo dung hợp một cách hữu cơ các yếu tố như tượng, số, thiên văn, địa lý, luật lịch, thần sát... với hệ thống thuật số Âm Dương Ngũ Hành, nhằm đạt đến thần công huyền diệu của sự mô phỏng cực độ. Các tầng bàn Trời, Đất, Người, Thần, Quỷ trong bàn Đại Giáp Toàn Khuê, các tổ hợp ký hiệu như Kỳ, Nghi, Môn, Tinh, Thần sát, Bát quái, Can chi... mỗi cái đều có nội hàm tượng số Âm Dương Ngũ Hành riêng, đồng thời cũng có quan hệ thuộc tính Ngũ Hành và quan hệ sinh khắc, hình hóa. Các loại thông tin trong bàn mô phỏng theo chiều dọc ngang đan xen thành lưới, liên kết thành chuỗi có trật tự, vô cùng phong phú và chi tiết. Do đó, có thể mô tả một cách nhanh chóng, chính xác, toàn vẹn nguyên nhân kết quả, trạng thái đầu cuối của vạn sự vạn vật trời, đất, người trong mỗi không thời gian vũ trụ.
