ẨN TÔNG KỲ MÔN DIỄN KHÓA TÂM PHÁP CƯƠNG YẾU - SONG TƯƠNG KỸ PHÁP [SÁU]

ẨN TÔNG KỲ MÔN DIỄN KHÓA TÂM PHÁP CƯƠNG YẾU - SONG TƯƠNG KỸ PHÁP [SÁU]

 

CỬU CHUYỂN KIM TỎA LIÊN HOÀN CHỈ YẾU
(Yếu chỉ của chín vòng then khóa vàng liên hoàn)

Việc diễn khóa chiêm đoán của Ẩn Tông Kỳ Môn phái Long Môn Toàn Chân, đại yếu dựa trên chín chỗ quyết đoán: Nhật, Thời, Phù, Sứ, Loại thần, Phù Nguyên, Tuế Quân, Mệnh phương, Thiên Tâm Huyền Quan. Phù Sứ phi độ và Thiên Tâm dịch vị là hình thức diễn khóa căn bản của bản phái, có thể nói tất cả thông tin chính của diễn khóa đều sinh ra từ đó.

Chuyển thứ nhất: Tra xét chi tiết sự vận hành của tam nguyên khí vận, tiết hầu tại quẻ cung nào, phân biệt Phù Nguyên chính, tiếp khí, siêu thần để xác định thời cục. Sư phụ dạy: "Việc hầu nguyên khí cục phải thực sự chân xác, thì kỳ nghi phù sứ mới không trái."

Chuyển thứ hai: Phù và Sứ theo thời mà bay qua, môn kỳ bay bố khắp Cửu cung, phân nạp Lục nghi độn giáp, thay đổi tinh thần, môn sát, rút hào đổi tượng để dò xét sinh khắc chế hóa, hỷ dụng thù nhằm quyết định chủ khách về thế lực hưng suy mạnh yếu.

Chuyển thứ ba: Di chuyển cung bố trí môn để xét đoán chìa khóa của việc "thâu quan đoạt xá", diễn cầm thiết tướng để tham bố cơ lỗ huyền quan của Thiên Tâm.

Chuyển thứ tứ: Xét đoán kích hình, hợp hại, nhập mộ, cô hư, âm dương bối hướng của kỳ tướng diễn cầm.

Chuyển thứ năm: Kiểm tra cách cục cung của tinh, môn, tướng, thần, sự đắc thất của thời lệnh, sự bức chế giữa môn và cung.

Chuyển thứ sáu: Suy xét sự tốt xấu, thân sơ của chủ khách khi hai nhà Phù Sứ dụng sự, để xác định khắc ứng.

Chuyển thứ bảy: Căn cứ vào sự phục tiềm, lưu trú của cung, tinh, môn, tướng, phân biệt rõ sự động di của chủ khách, kết hợp thời lệnh khí vận để nhận định cát hung họa phúc.

Chuyển thứ tám: Xem hai can Nhật, Thời cùng với Phù Sứ, và bản số tam hợp của tinh môn đối chiếu, cung ẩn độn, tra xét khắc ứng tốt xấu, phương vị xa gần, thời gian ứng kỳ, số mục ít nhiều.

Chuyển thứ chín: Tuân theo Thiên Tâm Hoàng Cực, nạp giáp cung âm, giáp đinh phi phục, đức hợp phúc tái, hư thực khai hợp, pháp bố Lục Mậu Thiên Cương, khu đinh triệu giáp để giải trừ ma quái hung họa, có thể phá vỡ lưới trời, thay đổi khắc ứng của tám phương, Thiên Môn Địa Hộ, dời đổi càn khôn để vận trù làm việc.

"Cửu Chuyển Kim Tỏa Liên Hoàn Chỉ Yếu" chủ yếu nội hàm lấy các pháp môn như: Thiên phù tiến thoái, di cung hoán vị, xuyên cung định tú, diễn cầm thiết tướng, tuần giáp truy tung, cửu chuyển quy nguyên... làm y chỉ; lấy các kỹ pháp như: chủ khách định tượng, thần sát gia lâm, phi cầu điếu tiềm, khí thế tù vượng, hình kích mộ bức, nội ngoại viễn cận, phi phù ám độn, trừu hào hoán tượng, môn hộ khai hợp, ngũ hành tụ tán, liên cung chiếu hợp, nạp âm hóa hình, hành vận lưu chuyển, kỳ tinh hội đấu, cát hung nghiệm đoán, ứng kỳ diễn số, phi cung đoạt xá... làm công dụng.

Quan sát đạo trời, chấp hành việc làm của trời, thế là đủ rồi. Trời phát sát cơ, rồng rắn nổi lên trên cạn; người phát sát cơ, trời đất đảo lộn; trời và người cùng phát, muôn biến nền định.

Vạn vật cõng âm mà bọc dương, xung khí để hòa.

Bởi lẽ, cái xung hòa khí trời đất, không gì hơn một âm một dương; cái thống nhiếp lý âm dương, không gì hơn tiết hầu và thời khí. Cho nên, Đông Chí thì một dương sinh, Hạ Chí thì một âm sinh. Dương sinh thì âm tiêu, vạn vật theo đó mà sinh sôi phát triển, đó là khí hậu của sự biết tới vậy! Bởi thế, Kỳ Môn dùng để thuận theo. Âm bắt đầu thì dương ngừng, vạn vật theo đó mà chết, mộ, đó là khí hậu của sự đi về vậy! Bởi thế, nhà Kỳ Môn dùng để nghịch phản. Thuận nghịch khác đường, các tinh, thần, môn, nghi theo sự đi lại của chúng mà bay bố, thì ý chỉ huyền vi của pháp bàn âm dương Kỳ Môn sẽ sáng tỏ vậy.