BÀN GỌN VỀ HOẠT DỤNG KỲ MÔN – TƯ DUY VÀ Ý TƯỞNG ĐOÁN QUẺ
BÀN GỌN VỀ HOẠT DỤNG KỲ MÔN – TƯ DUY VÀ Ý TƯỞNG ĐOÁN QUẺ
Giải thích về "cung người ngồi" (Toạ cung thích nghĩa): Đó là phương pháp dựa vào cung mà người đến đang ngồi để tiến hành dự đoán. Đây là điểm mạnh của dự đoán Kỳ Môn. Nếu không phải dự đoán cho người khác đến, mà tự mình dự đoán, có thể chỉ định một cung bất kỳ, lấy cung đó để suy đoán. Đây là phương pháp quan trọng của Kỳ Môn thống tông. Người xưa dùng phép "vọng khí" (xem khí trời) trong binh pháp cũng chính là phương pháp này. Ví dụ: sáng sớm nhìn bốn phương, thấy phía Đông có mây khí lớn bốc lên, thì lấy cung Chấn để đoán; như vậy việc địch đến, đi, số nhiều ít, phương hướng... chỉ một suy đoán là biết. Hoặc có thể đặt doanh trại giả để đợi địch, hoặc nửa đường đón đánh – tất cả tùy vào cơ biến của người cầm quân. Những điều này có thể nói là các phương pháp đoán quẻ, nhưng thực chất chỉ là các tư duy và ý tưởng đoán quẻ. Phương pháp đoán cơ bản có thể gói gọn trong mười sáu chữ: "Thể dụng, chủ khách, âm dương, nghịch thuận, bỉ thử, tiên hậu, phi phục, thượng hạ" (Thể – Dụng, Chủ – Khách, Âm – Dương, Nghịch – Thuận, Bỉ – Thử, Tiên – Hậu, Phi – Phục, Thượng – Hạ).
1. Phép Thể – Dụng: Lấy địa bàn của cung người ngồi làm Thể, lấy Bát môn làm Dụng. Dụng sinh Thể thì cát, Dụng khắc Thể thì hung. Thể sinh Dụng thì có mất mát. Thể khắc Dụng thì gian nan nhưng có được. Thể – Dụng tỷ hòa, không có phản phục ngâm thì là cát (ví dụ: Khai + Đoài, Đỗ + Chấn...). Nếu có phản ngâm hoặc phục ngâm thì luận theo động tĩnh: phục ngâm lợi cho tĩnh, phản ngâm lợi cho động.
2. Phép Chủ – Khách: Lấy cung người ngồi làm Dụng, lấy Địa bàn làm Chủ, Thiên bàn làm Khách. Căn cứ vào sinh khắc vượng suy để luận lợi cho Chủ hay lợi cho Khách. Đây là phương pháp dự đoán năng động. Lợi cho Khách thì làm Khách, lợi cho Chủ thì làm Chủ. Khái niệm Chủ – Khách là một phạm trù quan trọng trong quân sự cổ đại Trung Hoa, cũng là phạm trù trong triết học truyền thống Trung Hoa.
3. Phép Âm – Dương: Đây là phương pháp cương lĩnh của dự đoán, xuyên suốt mọi khía cạnh. Nhưng theo nghĩa hẹp, ở đây chỉ riêng âm dương của Cửu tinh ở cung người ngồi, âm dương của Bát môn, và âm dương của Thập can; ngoài ra còn có phương pháp lấy cung dương, cung âm để phân nội ngoại, xa gần... tất cả đều là ứng dụng của âm dương. Ví dụ: đoán người đến, lấy sao dương là nam, sao âm là nữ; Bát môn là phương hướng họ đến; cung rơi là tuổi tác của người đến, v.v.
4. Phép Nghịch – Thuận: Tức là âm độn và dương độn, cách bố cục nghịch chiều hay thuận chiều áp dụng cho các dự đoán đặc biệt. Ví dụ: đoán người đi xa (hành nhân), người xưa lấy thời can làm Dụng thần; nếu cung trước thời can (tiền nhất cung) có Thiên Bồng thì trên đường có trộm cướp. Cung "phía trước" này khác nhau giữa âm độn và dương độn, phải theo nguyên tắc dương thuận, âm nghịch mà xác định. Phương pháp này khi hiện đại hóa, có thể suy rộng ra, lấy nhật can hoặc một Dụng thần nào đó làm đối tượng. Quỹ đạo vận động của nó cũng khác nhau theo âm dương nhị độn. Dân gian có một phép "khiêu cung" (nhảy cung) mà cung nhảy thuận nghịch cũng tùy theo âm dương nhị độn. Phép này rất đáng được khai thác.
5. Phép Bỉ – Thử: Là bàn về kỳ nghi của Thiên bàn và Địa bàn. Can ở Thiên bàn là mình, giống như hào Thế trong lục hào dự đoán; can ở Địa bàn là đối phương, giống như hào Ứng. Dùng sinh khắc của hai can để đoán ai thắng ai thua, hoặc tình huống và quan hệ giữa hai bên. Ở đây chỉ nêu một cái khung, khi vận dụng cụ thể thì có thể đại diện cho rất nhiều sự việc.
6. Phép Tiên – Hậu: Sao là Tiên, môn là Hậu, Địa bàn lại là Hậu hơn – giống như tam truyền (ba lần truyền) nối tiếp nhau. Lại có thể: can ở Thiên bàn là bắt đầu, can ở Địa bàn là kết thúc – như vậy lại biến Bỉ – Thử thành Thủy – Chung (đầu – cuối); mười can tùy cơ mà hoạt dụng.
7. Phép Phi – Phục: Thực ra chỉ Bát Trá thần bàn (bàn thần). Thần bàn có hai: loại đi theo Thiên bàn Giá trị Phù gọi là Dương thần; loại đi theo Địa bàn Giá trị Phù gọi là Âm thần. Khi đoán quẻ nên dùng cả Âm và Dương thần. Hiện nay, Trương Chí Xuân v.v. chủ trương dùng Thiên bàn Bát thần; Lưu Quảng Bân chủ trương dùng Địa bàn Bát thần. Chúng tôi chủ trương dùng đồng thời cả hai: một biểu hiện bên ngoài, một ẩn khuất bên trong; một bay, một núp; tương hỗ sử dụng cho nhau.
8. Phép Thượng – Hạ: Phương pháp này thực chất đưa ra một khuôn mẫu đoán quẻ. Xét về mặt nguyên lý, bao gồm cả tám pháp, mười sáu chữ đã nói ở trên chỉ là các phạm trù. Dùng những phạm trù này để chỉ đạo và phân tích thời cuộc, nhờ đó nắm bắt cục thế, tùy thế mà hành động. Với phép Thượng – Hạ: ví dụ lấy can Thiên bàn làm trên, can Địa bàn làm dưới; khi đoán màu sắc quần áo của người, thì áo trên và quần dưới sẽ rõ. Lại nữa: cung 9 là cao, cung 1 là thấp – đây là cao thấp của cung vị. Phong thủy Kim Tỏa Ngọc Quan chính là dựa vào cao thấp của Cửu cung mà nâng đỡ hoặc đè nén, để tự tạo thành một hệ phái riêng. Lại nữa: cung Ly là trên cùng, cao nhất; cung Tốn, Khôn thứ hai; cung Chấn, Đoài thứ hai; cung Cấn, Càn thứ hai; cung Khảm thấp nhất. Đó là một phương pháp cao thấp khác, khi dùng cần linh hoạt biến hóa. Ví dụ: đoán thửa ruộng, được Tử môn làm Dụng thần ở cung Ly, thì biết ruộng vườn nhà đó ắt ở nơi cao. Những việc khác cũng phóng theo đó.
Về phân biệt trong dự đoán, có thuyết cho rằng:
Mã tinh (Dịch mã) xét theo giờ (địa chi của giờ).
Đào hoa xét theo nhật can.
Mộc dục (tắm) xét theo thiên can lâm cung.
Các bài liên quan:
