KỲ MÔN ĐỘN GIÁP – MỐI QUAN HỆ ẢNH HƯỞNG TƯƠNG ỨNG GIỮA NĂM ĐẠI DỤNG THẦN

KỲ MÔN ĐỘN GIÁP – MỐI QUAN HỆ ẢNH HƯỞNG TƯƠNG ỨNG GIỮA NĂM ĐẠI DỤNG THẦN

Chúng ta phân tích mối quan hệ tương hỗ giữa CungThầnTinhMôn. Trong Kỳ Môn Độn Giáp, có chín cungtám thầntám môn, nhưng chín sao. Tất cả các ký hiệu trong Kỳ Môn Độn Giáp đều lấy Địa bàn làm cơ sở. Trên chín cung, chín cung và bát quái cùng nhau tạo thành Địa bàn; Thiên bàn Cửu tinh xoay quanh Địa bàn một vòng; Thần bàn Bát thần và Nhân bàn Bát môn cũng tương tự.

Thiên bàn, Nhân bàn, Thần bàn đều lấy Địa bàn làm cơ sở, chúng có sự ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Đối với những sự việc khác nhau, trọng điểm cũng không giống nhau.


1. ẢNH HƯỞNG CỦA CUNG ĐỐI VỚI THẦN

  1. Cung đối với Thần giống như cấp trên đối với cấp dưới.

  2. Cung có thể chế ước tác dụng của Thần, cũng có thể giúp Thần phát huy tác dụng.

  3. Sự khai hợp của Cung quyết định mức độ ảnh hưởng đối với Thần.

  4. Tính linh hoạt của Cung dựa vào Thần để phát huy.

  5. Sự chế ước của Cung đối với Thần thường trái ngược với sự phát triển hiện tại của sự việc.

  6. Cường độ lực lượng của Cung đối với Thần, đồng thời cũng thể hiện cường độ lực lượng chủ thể của sự việc.

  7. Cung có tác dụng dẫn hướng đối với Thần. Tức là điểm phát huy tính thần, thường do Cung làm dẫn hướng.

  8. Cung có tác dụng điều khiển đối với Thần. Sự thay đổi của Cung ảnh hưởng đến tác dụng của Thần.

  9. Cung có tác dụng kéo dài đối với Thần. Khi Thần không xuất hiện trong sự việc, Cung vẫn điều khiển Thần đó cho đến cuối tuần (tuần vĩ).


2. ẢNH HƯỞNG CỦA THẦN ĐỐI VỚI CUNG

  1. Khi tương khắc, Thần có tác dụng cầm chân đối với Cung. Tác dụng lực của Thần gây trở ngại cho Cung, làm hao tổn lực của Cung.

  2. Khi tương sinh, Thần có tác dụng phụ trợ và thúc đẩy đối với Cung.

  3. Thần có tác dụng ảnh hưởng đến sự ổn định của hoàn cảnh bên ngoài. Do tính đột biến của Thần, làm cho tình huống bên ngoài phát sinh biến hóa.

  4. Thần có tác dụng xúc tiến đối với Cung. Khi khí của Cung không đủ, Thần sinh Cung, Thần có thể giúp Cung nâng cao khí, chấn chỉnh trường.

  5. Thần có quyền lựa chọn đối với việc phát huy lực của Cung. Khi Cung sinh Thần, Cung lại ở trạng thái vượng tướng, ảnh hưởng lực của Cung có một điểm cao nhất, và điểm này do Thần quyết định.

  6. Thần có tác dụng phân chia khu vực đối với Cung. Khi Thần và Cung không hợp, Thần chia Cung thành nhiều khu vực, chọn khu vực thích hợp để phát huy tác dụng.

  7. Thần có tác dụng phân giải đối với lực của Cung. Khi Thần và Cung không hợp, tính phá hoại mạnh, làm phân tán cường độ của Cung, khiến sự phát triển của sự việc trở nên chậm trễ, đình trệ, nhiều gian truân.

  8. Thần có tác dụng xúc tác đối với sự biến hóa theo mùa của Cung. Khi Thần và Cung tương sinh, Thần có thể giúp Cung đưa lực lượng phát huy sớm hơn hoặc duy trì lâu hơn.

  9. Mối quan hệ giữa Thần và Cung phản ánh tính lặp lại, tính đa dạng, tính thay đổi của sự việc.


3. ẢNH HƯỞNG TƯƠNG HỖ GIỮA CỬU TINH VÀ CỬU CUNG

(I) Ảnh hưởng của Sao đối với Cung

  1. Sao đối với Cung là mối quan hệ nhất thể nhất dụng (một thể thống nhất, một công năng sử dụng).

  2. Cửu tinh có thể điều động các nhân tố tích cực của Cửu cung, khiến cục diện thay đổi về bản chất.

  3. Trong cùng thời không, do cung độ khác nhau mà cát hung, quan hệ sinh khắc của Cửu tinh được kích hoạt, đồng thời kích hoạt mâu thuẫn của nhiều tầng không gian. Tăng cường tính co giãn của không gian quán tính sự việc, phản ánh tính mâu thuẫn đa trọng của nguyên nhân sự việc, tính đa dạng khi sự việc phát sinh.

  4. Cửu tinh có tác dụng tụ năng nhanh chóng đối với điểm tụ phát công năng đặc định của Cửu cung. Từ đó khiến sự việc xuất hiện hiện tượng đột phát, khó phòng bị.

(II) Ảnh hưởng của Cung đối với Sao

  1. Cung cung cấp một trường sở cho việc phát huy của Sao.

  2. Cửu cung đối với việc điều chỉnh không ngừng của Cửu tinh trong thời không có lợi, đóng vai trò như một không gian xúc tác.

  3. Cửu cung sinh Cửu tinh có tác dụng phụ trợ thuận lợi cho sự phát triển của sự việc.

  4. Cửu cung đối với sự khống chế thần của Cửu tinh có tác dụng tiếp nhận, bồi dưỡng, kéo dài.


4. ẢNH HƯỞNG TƯƠNG HỖ GIỮA BÁT MÔN VÀ CỬU CUNG

  1. Cửu cung có thể cung cấp cho Bát môn những cơ vận khác nhau. Ví dụ: cung hung môn hung thì không nên động; cung cát môn cát thì không hẹn sẽ gặp (có thể động, điều chỉnh theo phương vị cát).

  2. Cửu cung có thể cách thức hóa (định dạng lại) cái hung trong Bát môn. Có thể tiết kiệm thời gian, thích hợp để tìm ngay ra biện pháp và không gian tránh hung. Ví dụ: cung cát mà môn hung, thì lợi cho trước không lợi cho sau, lợi cho tôn quý không lợi cho ấu thơ, lợi cho quân tử không lợi cho tiểu nhân.

  3. Cửu cung có thể kích hoạt tính vi điều chỉnh của Bát môn. Ví dụ: sao cát, cung hung, môn hung, lúc này dễ chọn cung tránh nạn, tĩnh thì khiêm nhường nhún nhường, tránh đối đầu trực diện.

  4. Cửu cung cung cấp một không gian tự xử lý có lợi cho Bát môn. Ví dụ: cung cát, sao cát, môn hung, thì biểu thị quý nhân giáng tội, thiên khiển, bi ai khó tránh khỏi, lúc này nên theo đặc tính của môn mà thành tâm ứng đối. Ví dụ: Giá Phù tinh ở cung Ngũ lại gặp Tử Môn, nên phân tích tự thân, thay lòng đổi dạ, ăn năn hối cải, hoặc mang gai tạ tội.

  5. Bát môn cung cấp nhiều hình thức biểu hiện và phương thức giải quyết mâu thuẫn đối với cát hung họa phúc của Cung và Sao. Ví dụ: cung cát, thần hung, sao cát, môn là Đỗ Môn. Thì có ba hình thức:

    • (1) Một trong các bên chủ động nhận lỗi hòa giải, tuy sẽ gặp mặt mà lòng không hợp, nhưng có thể chuyển nguy thành an.

    • (2) Phòng vi trục tiệm, nên dùng kế 36 chạy là thượng sách, sao cát cung cát tìm Hưu Môn.

    • (3) Đôi bên cố chấp không nhường, người và của đều bị tổn thương.


5. ẢNH HƯỞNG CỦA BÁT MÔN ĐỐI VỚI CỬU TINH VÀ CUNG

Bát môn có tác dụng lựa chọn ngẫu nhiên, tham khảo, cải biến đối với Cửu tinh.

  • Ví dụ: môn hung (Thương Môn), cung hung, sao cát. Đại thể biểu thị trong hung không hung, trong cát không cát.

    • Nếu thần cát, thì dễ bị thương ngoài da mà không tổn thương bên trong, thích hợp để đàm phán đưa ra điều kiện.

    • Nếu thần hung, thì dễ tổn thương về lý (cái lý không có lý), thích hợp để diễn thuyết, mở buổi tranh luận.

Bát môn có độc đáo riêng trong việc điều chỉnh trạng thái Cung tức thời để nắm bắt vận thế.

  • Ví dụ: thần cát, môn cát, cung hung, tức Cảnh Môn, Thái Âm, ở Khảm.

    • Nếu cung động có tài, nhưng Cảnh Môn ở cung hung này không di động, thì tài riêng ở Cảnh Môn có thể hiểu là quan sát chờ thời, động hay không động mà vẫn có được.

    • Tuy rằng thân động cũng có thể được tài, nhưng thân động thì hung động.

Các bài liên quan: