CẢM NGỘ VỀ ĐỊNH CỤC VÀ ĐOẠN CỤC KỲ MÔN

Ở phần trên "Cảm ngộ về định cục", lão hủ đã từng nói: "Nếu hỏi phương pháp định cục Kỳ Môn dùng cách nào tốt? Câu trả lời của lão hủ là: Phương pháp hợp với Đạo là tốt!". Nay nếu hỏi phương pháp đoạn cục Kỳ Môn dùng cách nào tốt? Câu trả lời của lão hủ vẫn là: Phương pháp hợp với Đạo là tốt! Có bằng hữu có thể nói: Hết từ rồi sao? Sao cứ "hợp đạo" mãi? Hì hì, đúng vậy! Cảm ngộ của lão hủ về định cục và đoạn cục Kỳ Môn chỉ gói gọn trong hai chữ — "hợp đạo".

II. CẢM NGỘ VỀ ĐOẠN CỤC

Các bằng hữu trong dịch học hỏi lão hủ nhiều nhất là "tư duy đoạn cục", thậm chí có người cho rằng tư duy đoạn cục của lão hủ có "huyền bí cao siêu" gì đó. Kỳ thực không phải vậy, lão hủ thực sự chỉ là kẻ phàm phu nơi thị tứ, đâu có "huyền bí cao siêu" nào! Chỉ là đúc kết kinh nghiệm của tiền bối cộng với những bài học xương máu của bản thân thành bốn câu nói, nay công khai để giải tỏa nghi hoặc cho bằng hữu. Bốn câu đó là:

"Vô vi dĩ thủ công tâm, chương trứ nhi hậu tế mật, tiểu tượng đương tòng đại tượng, hợp đạo tiện thị huyền cơ."
(Vô vi để giữ lòng công, rõ ràng nổi bật rồi mới tỉ mỉ, tượng nhỏ nên theo tượng lớn, hợp với Đạo ấy chính là huyền cơ.)

(1) Vô vi dĩ thủ công tâm (Vô vi để giữ lòng công).
Có lẽ không ai phủ nhận rằng, đoạn cục Kỳ Môn (đọc cục) là sự nhận thức của người diễn bố Kỳ Môn về bàn thức Kỳ Môn. Như vậy, điều đầu tiên cần giải quyết chính là tư tưởng, phương pháp nhận thức bàn thức Kỳ Môn của chúng ta. Chỉ có dưới sự chỉ đạo của tư tưởng, phương pháp đúng đắn để nhận thức bàn thức Kỳ Môn, chúng ta mới có thể đưa ra kết quả đoạn cục chính xác. Điều này dường như là lời cũ rích quen thuộc, chẳng có gì mới lạ. Nhưng xin đừng vội! Cũng chính vì nó chẳng mới lạ, nên mới dễ bị mọi người lãng quên. Thậm chí nhiều bậc đại sư khi bàn về phương pháp đoạn cục đọc cục cũng chẳng hề nhắc đến. Nhưng điều đó không có nghĩa là nó không quan trọng! Trái lại, nó chứng minh nó vô cùng quan trọng! Không chỉ nói đến người mới học Kỳ Môn nói chung, mà ngay cả một số bậc đại sư cũng thường mắc sai lầm trong đoạn cục vì không coi trọng vấn đề này.

Ví dụ, một vị đại sư đang có danh tiếng lớn hiện nay khi đoán một quẻ Kỳ Môn về việc đấu thầu cho đơn vị tư vấn của mình, "Nguyệt Can đại diện cho đối thủ cạnh tranh" và "Thời Can đại diện cho vật thể đấu thầu" cùng là Giáp Tý Mậu, từ Trung cung ký sinh vào cung Cấn số 8, lâm Bạch Hổ, sao bệnh (Thiên Nhuế), Đinh gia Tân "Chu Tước nhập ngục" và Mậu gia Tân "Thanh Long chiết túc", sao phản ngâm. Khi ông ta xem đối thủ cạnh tranh (Nguyệt Can Mậu), những điều này đều luận là hung, và đoán "trong cung có Đinh gia Tân, đối phương sẽ bỏ cuộc giữa chừng". Tức là bại trận, có thể nói cách đoán này là đúng! Nhưng khi ông ta đoán sau khi đơn vị tư vấn của mình trúng thầu có kiếm được tiền không, thì lại đoán vật thể đấu thầu (Thời Can Mậu) rơi vào cung Cấn số 8 được đất Trường Sinh (tốt), nói rõ chất lượng vật thể tốt, có thể kiếm tiền. Dĩ nhiên những thứ như Thanh Long chiết túc, Bạch Hổ, sao bệnh, sao phản ngâm... ông ta căn bản không thèm nhìn nữa. Dường như lúc này Mậu gia Tân (Thanh Long chiết túc) cũng chẳng gãy chân nữa, sao bệnh cũng hết bệnh, Bạch Hổ cũng chạy mất, Đinh gia Tân (Chu Tước nhập ngục) cũng chẳng vào ngục nữa... (Dụng thần đều là Giáp Tý Mậu, cung, cửa, thần, cách... hoàn toàn giống nhau, sao có thể đưa ra hai cách đoán hoàn toàn trái ngược như vậy?). Thực ra đại sư này cả đức lẫn tài đều rất tốt, lão hủ cũng rất kính trọng ông ấy! Nhưng khi đọc quẻ này, rõ ràng ông ấy đã mang yếu tố tình cảm vào, mắc phải sai lầm cố chấp chủ quan. Các bậc đại sư còn khó tránh khỏi điều này, huống chi là chúng ta? Lão hủ trong quá trình thực chiến phạm phải loại sai lầm này chẳng phải chỉ một, hai lần nữa! Những bài học xương máu đã khiến lão hủ cố gắng tìm kiếm phương thuốc chữa bệnh. Khi ôn lại cuốn Đạo Đức Kinh của Lão Tử, trong lòng bỗng nhiên sáng tỏ.

Lão Tử, bậc cha đẻ của triết học Trung Hoa, tổ sư của Đạo giáo, đã bày tỏ tư tưởng "Vô vi" trong Đạo Đức Kinh, đó chính là ngọn đèn chỉ đường để chúng ta nhận thức đúng đắn sự vật! Tư tưởng "Vô vi" của Lão Tử là cốt lõi của tư tưởng Đạo gia Trung Hoa, là một cảnh giới tinh thần, đồng thời cũng là một phương pháp tư duy. Nó hoàn toàn nhất trí với định hướng giá trị "Đạo pháp tự nhiên". Cảnh giới tinh thần "Vô vi" là sự thể hiện trực tiếp của định hướng giá trị "Đạo pháp tự nhiên". "Vô vi" của Lão Tử không phải là "vô sở tác vi" (không làm gì cả) như một số người hiểu, mà là "bất vọng vi" (không làm bậy), dạy chúng ta buông bỏ mọi thứ thuộc về chủ quan, không lấy chủ quan thay thế khách quan, phải tôn trọng khách quan, thuận theo quy luật tự nhiên của khách quan, không khiên cưỡng tạo tác. Như vậy chúng ta mới có thể tránh được sai lầm và đạt đến "vô vi nhi vô bất vi" (không làm mà không gì không làm được). Điều này trong công việc và cuộc sống hằng ngày của chúng ta là như vậy, khi đối diện với bàn thức Kỳ Môn cũng tuyệt đối không thể là ngoại lệ! Dùng tư tưởng "Vô vi" của Lão Tử làm phương pháp tư duy nhận thức bàn thức Kỳ Môn, mới có thể tránh được những yếu tố như tình cảm cá nhân, thích ghét, kinh nghiệm, công danh lợi lộc... làm nhiễu loạn tư tưởng của chúng ta, khiến tư tưởng của chúng ta tự nhiên "hợp đạo", mới có thể nhận thức và phán đoán chính xác đối với hình tượng khách quan là bàn thức Kỳ Môn. Bởi vậy, lão hủ lấy "Vô vi dĩ thủ công tâm" làm câu đầu tiên trong bốn câu tư duy đoạn cục, là "pháp môn" đầu tiên của đoạn cục Kỳ Môn! Bởi vì "Vô vi" của Lão Tử là đường hầm tư tưởng chính xác duy nhất dẫn chúng ta đến "Đạo pháp tự nhiên"!

(2) Chương trứ nhi hậu tế mật (Rõ ràng nổi bật rồi mới tỉ mỉ).
Một bằng hữu trẻ tuổi trong dịch học viết thư nói: "Khi tôi lập xong quẻ cục, đối diện với chín cung, bốn bàn và vài chục loại ký hiệu khác nhau, cảm giác như 'chuột muốn ăn trời', chẳng biết bắt đầu từ đâu. Cứ theo cách các bậc đại sư giảng 'ngang xem cái gì, dọc xem cái gì' mà xem, xem mãi, xem mãi, rốt cuộc tôi chẳng tìm thấy đâu là ngang, đâu là dọc nữa". Đúng vậy, sau khi chúng ta có phương pháp tư duy đúng đắn, điều cần giải quyết là làm thế nào để thâm nhập vào bàn thức Kỳ Môn phức tạp hỗn độn ấy. Trong Đại Học có câu danh ngôn: "Vật hữu bản mạt, sự hữu chung thủy, tri kỳ tiên hậu, tắc cận đạo hĩ" (Vật có gốc ngọn, việc có đầu cuối, biết cái trước cái sau, thì gần với đạo rồi). Các bậc thánh hiền xưa đã chỉ rõ cho chúng ta phương pháp ở đây. "Tiên hậu" ở đây là gì? Là thứ tự, là trình tự, là bước đi! Mà phương pháp để biết được "tiên hậu" này là phải làm sáng tỏ "bản mạt" và "chung thủy" của "vật" và "sự". Vậy "bản mạt" và "chung thủy" của Kỳ Môn Độn Giáp là thế nào? Kỳ Môn Độn Giáp ra đời từ vũ trụ quan của người Trung Quốc là sự thật không thể nghi ngờ. Vũ trụ quan và phương pháp luận của người Trung Quốc hay người phương Đông là nhận thức vấn đề một cách vĩ mô tổng thể (chỉnh thể), nói chính xác là nhận thức vĩ mô tổng thể trước, sau đó phân tích tỉ mỉ sâu sắc. Giống như chúng ta đi quan sát một khu rừng, nếu lao thẳng vào trong rừng, thì sẽ "chỉ thấy cây mà không thấy rừng". Bởi vậy, lão hủ nói với người bằng hữu trẻ tuổi viết thư đó: "Các bậc đại sư dẫn dụng câu thơ của Tô Đông Pha Đề Tây Lâm Bích 'Hoành khán thành lĩnh sách thành phong, viễn cận cao đê các bất đồng, bất thức Lư Sơn chân diện mục, chỉ duyên thân tại thử sơn trung' (Nhìn ngang thành dãy, nhìn dọc thành ngọn, xa gần cao thấp mỗi bề một khác, chẳng biết được bộ mặt thực của núi Lư, chỉ vì thân ở trong núi này) là không sai. Chỉ có điều chúng ta học phương pháp của Tô Đông Pha nhìn núi Lư, không nên theo đúng trình tự câu thơ của ông ấy, vừa vào đã nhìn ngang cái gì, nhìn dọc cái gì, mà nên làm ngược lại trình tự câu thơ, trước hết học cái lập trường và phương pháp nhìn vấn đề của ông ấy ở câu 'chẳng biết được bộ mặt thực của núi Lư, chỉ vì thân ở trong núi này'. Chỉ có lùi ra ngoài núi, quan sát vĩ mô, mới xuất hiện được hiệu quả thị giác tổng thể như 'nhìn ngang thành dãy, nhìn dọc thành ngọn, xa gần cao thấp mỗi bề một khác' của ông ấy". Nếu không có sự nhận thức vĩ mô tổng thể "trước", vừa bắt đầu đã đi vào quan sát vi mô cục bộ, thì chắc chắn sẽ thành "thấy voi mò mẫm", kết quả chắc chắn là "không biết được bộ mặt thực của núi Lư"!

Nhận thức vĩ mô tổng thể trong đọc cục là vô cùng quan trọng. Bởi vì đây là phương pháp duy nhất để đạt được "toàn cục tại hung" (nắm chắc toàn bộ cục diện trong lòng)! Điều cần nhấn mạnh ở đây là: "Tổng thể", "toàn cục" của Kỳ Môn không chỉ giới hạn trong các cung, cửa, sao, thần, cách... trên bàn thức Kỳ Môn, mà còn bao gồm các yếu tố cấu thành khác nhau của người, việc, vật mà chúng ta đang đoán. Dự đoán Kỳ Môn là sự kết hợp giữa các yếu tố cấu thành khác nhau của người, việc, vật trong hiện thực với bàn thức Kỳ Môn, để từ sự mô phỏng của bàn thức Kỳ Môn đọc ra cát hung của người, việc, vật, cũng như phương pháp và hướng cư tránh. Ở đây, bàn thức Kỳ Môn và các yếu tố cấu thành khác nhau của người, việc, vật là "âm dương lưỡng nghi" trong cùng một thái cực. Bàn thức Kỳ Môn là mô hình hư ảo, là tĩnh, là nội, thuộc Âm. Các yếu tố cấu thành khác nhau của người, việc, vật là thực thể tồn tại, là động, là ngoại, thuộc Dương. Hai thứ này tuyệt đối không thể thiên lệch bỏ qua! Rất nhiều người chỉ chú ý và nhấn mạnh việc phải "thuộc nằm lòng" bàn thức Kỳ Môn, nhưng lại lơ là việc tìm hiểu các yếu tố cấu thành của người, việc, vật. Như thế thì sẽ không tìm đúng "Dụng thần". Kết quả dựa vào "đoán mò", chẳng phải là "chó cắn rận — ăn may", thì ắt là "trâu chẳng ăn cỏ trâu — chẳng ăn nhập gì cả"! Nếu đoán những việc vặt vãnh chẳng đau chẳng ngứa thì không sao, nhưng nếu đoán những việc hệ trọng liên quan đến thân mạng, gia tài, thì sẽ gây rắc rối đấy!

Chỉ khi nắm rõ cặp "Âm dương lưỡng nghi" này trong lòng thì mới gọi là thực sự "toàn cục tại hung". Rất nhiều bậc đại sư rất chú trọng tích lũy tri thức về đời sống xã hội. Như ông Vương Phượng Lân nghiên cứu Kỳ Môn đoán bệnh, ông ấy không phải là người trong giới y, nhưng để tích lũy tri thức về mặt này, từng lâu ngày vào tận phòng bệnh giao lưu với bác sĩ và bệnh nhân, tìm hiểu về sự phát sinh và điều trị bệnh tật, cho nên khi ông ấy bàn về Kỳ Môn đoán bệnh, liên bác sĩ cũng thấy ông ấy như một bác sĩ thực thụ. Ông Đỗ Tân Hội là tổng giám đốc Liên Thông, đã kết hợp kinh nghiệm và tri thức quản lý doanh nghiệp tích lũy trong công việc với Kỳ Môn, thu hoạch được không ít các ca kinh điển về Kỳ Môn dự đoán chiến lược kinh doanh! Và đã viết nên tác phẩm vĩ đại Chu Dịch Dữ Thương Chiến. Phương Tây thường có nhiều "chuyên gia", phương Đông thường có nhiều "tạp gia", điều này là do vũ trụ quan khác nhau của Đông Tây quyết định! Kỳ Môn bao hàm muôn tượng, đặc điểm vũ trụ quan phương Đông này đòi hỏi người diễn bố Kỳ Môn nhất định phải là một "tạp gia", phải có cấu trúc tri thức phong phú, bằng không thì tầm nhìn "thủ loại tỷ tượng" (lấy loại so sánh với tượng) và "định dụng thần" của bạn sẽ chẳng thể rộng mở! Chúng ta học tập các bậc đại sư không chỉ học tri thức, kinh nghiệm, tư duy và kỹ thuật trong môn phái Kỳ Môn của họ, mà còn phải học "công phu ngoài môn phái" là chú trọng tích lũy tri thức về đời sống xã hội của họ! Chỉ có đối với hai loại "công phu" này, không nói là luyện giỏi, nhưng ít nhất có một sự hiểu biết cơ bản, mới thực sự làm được "âm dương hòa hợp, toàn cục tại hung", mới có thể chiến tất thắng. Đây chính là "quan niệm toàn cục về Kỳ Môn" của lão hủ.

 

Nói cách khác, "Quan niệm toàn cục về Kỳ Môn" này là sự chuẩn bị về tri thức và tư tưởng cần thiết trước khi đọc cục. Có sự chuẩn bị này, người diễn bố có thể bắt đầu đọc cục!

Bước đầu tiên để bắt tay vào đọc cục chính là "phân rõ chủ khách"! Đây là chìa khóa để nắm bắt "toàn cục" ở tầng cụ thể của việc đọc cục. Bởi vậy, Kỳ Môn Bí Tịch Đại Toàn khi bàn về nguyên tắc lấy dụng thần chủ khách đã nhấn mạnh: "Người khéo dùng Kỳ Môn, trước hết phân chủ khách, rồi sau đó mới rõ phương pháp chiêm".

Nếu như điều đã bàn ở trên là "Quan niệm toàn cục về Kỳ Môn" ở tầng thứ nhất, là nguyên tắc tổng thể của việc diễn bố Kỳ Môn. Thì nay bàn đến tầng thứ hai — "Quan niệm toàn cục khi đọc cục Kỳ Môn", là hành vi phân tích cụ thể, thuộc về ứng dụng Kỳ Môn. Dùng phương pháp mà các bậc thánh hiền xưa dạy "minh bản thủy" (rõ gốc ban đầu) để "tri tiên hậu" (biết trước sau), thì lúc này "bản thủy" là "bản thủy" của ứng dụng Kỳ Môn. Ứng dụng Kỳ Môn Độn Giáp "bản thủy" là thuật nhà binh, chính là đạo dùng binh. Về sau được ứng dụng rộng rãi trong các mặt khác nhau của đời sống xã hội, đó là sự phát triển của nó, là "mạt" (ngọn) vậy! Do đó, khi đối diện với bàn thức Kỳ Môn, chúng ta không thể quên "bản thủy" ứng dụng của nó — đạo dùng binh! Rõ được điều này, thì "tiên hậu" của nó cũng tự nhiên sáng tỏ!

"Đạo dùng binh" dĩ nhiên là "trước" phải rõ địch ta, nhà binh nếu "địch ta" còn chẳng làm rõ thì đánh trận thế nào? Tôn Tử·Mưu Công thiên nói: "Biết mình biết ta, trăm trận không nguy; không biết ta mà biết mình, một trận thắng một trận thua; không biết ta, không biết mình, mỗi trận ắt nguy". Tôn Tử ở đây khuyên người dùng binh không chỉ phải "rõ" (phân biệt) địch ta, mà còn phải "biết" địch ta! ("Địch ta", "mình ta" ở đây chính là "chủ khách" trong Kỳ Môn). Biết địch ta, thì đại cục đã nắm trong lòng! Nhà binh dùng binh mà không biết địch ta, "mỗi trận ắt nguy". Tương tự, Kỳ Môn đoạn cục không biết chủ khách, mỗi lần chiêm ắt thất bại! Có thể nói phàm là người diễn bố Kỳ Môn đều biết lẽ này. Nhưng tại sao vẫn xảy ra vấn đề? Đó là do nguyên nhân "quen mắt đến nỗi không thấy"! Ví dụ lão hủ đã nhắc đến vị đại sư kia, có thể nói ông ấy rất hiểu lẽ này, nhưng trong vụ đoán quẻ đấu thầu cho đơn vị tư vấn của mình, ông ấy đã lơ là vấn đề này.

Tính chất của cuộc "đấu thầu" đó là mua bán. Bên phát hành thầu tức chủ sở hữu vật đấu thầu là người bán hàng, là "chủ"; các đơn vị hoặc cá nhân tham gia đấu thầu đều là người mua, đều là "khách"; công ty đấu giá là bên trung gian.

  • Chủ sở hữu vật đấu thầu (Thái Tuế, Niên Can) Lục Canh rơi vào cung Chấn số 3.

  • Đơn vị tư vấn của đại sư (Nhật Can) Bính Kỳ rơi vào cung Đoài số 7 (một cặp chủ khách rất rõ ràng, trực quan).

  • Đối thủ cạnh tranh (Nguyệt Can) và vật đấu thầu (mỏ, Thời Can) cùng là Giáp Tý Mậu rơi vào Trung cung, ký sinh vào cung Cấn số 8.

  • Cơ quan chủ quản của vật đấu thầu (Cục Đất đai) là Trực Phù rơi vào cung Khôn số 2.

  • Công ty đấu giá (bên trung gian) là Lục Hợp rơi vào cung Khảm số 1.

Trận doanh này được hiển thị rất rõ ràng trên bàn thức.

Nhưng khi đại sư đoán cục, ông ấy căn bản không xem "chủ" là chủ sở hữu vật đấu thầu, cũng như mối quan hệ của nó. Hai mắt chỉ chú ý đến đối thủ cạnh tranh (Nguyệt Can Mậu), nhất mực so kè với đối thủ cạnh tranh, điều đó rất nguy hiểm! Lỡ đâu "đối thủ cạnh tranh" (Nguyệt Can) ấy là "chó săn" do "chủ" là chủ sở hữu vật đấu thầu bố trí thì sao? Hai mắt chết dí vào "đối thủ cạnh tranh" mà truy kích, chẳng phải là trúng kế "dẫn dụ địch vào sâu" của người ta ư?

Cục này lão hủ đọc mà thấy tim đập thình thịch. Đại sư đã không xác định đúng "chủ khách", đã lơ đi người bán, cái "chủ" ấy, là chủ sở hữu vật đấu thầu. Dĩ nhiên, cũng lơ đi bộ phận chức năng của "chủ" ấy là "Trực Phù" (Cục Đất đai). "Trực Phù" rơi vào cung Khôn số 2 thuộc Thổ. Dương ngũ cục, "Nguyệt Can" đại diện cho đối thủ cạnh tranh và "Thời Can" đại diện cho vật đấu thầu (mỏ), cùng là Giáp Tý Mậu rơi vào Trung cung, ký sinh vào cung Cấn số 8. Hãy chú ý những tình huống sau đây được thể hiện trên bàn thức:

  • Trực Phù (Cục Đất đai) cung Khôn số 2 — Trung cung (mối quan hệ với Giáp Tý Mậu đã nói ở trên) — Giáp Tý Mậu (vật đấu thầu (mỏ) và đối thủ cạnh tranh) cung Cấn số 8. Ba cung "Khôn, Trung, Cấn" nằm trên một đường thẳng, đều thuộc Thổ. Dĩ nhiên, vật đấu thầu (mỏ) Giáp Tý Mậu là hàng hóa của Trực Phù (Cục Đất đai), điều này không cần đọc cục cũng rõ. Vậy còn đối thủ cạnh tranh Giáp Tý Mậu này thì sao? ... Có thể hiểu theo một cách khác không? Rõ ràng họ là người một nhà mà! (Khôn là mẹ, Cấn là con trai út)

Lại xem Lục Hợp là công ty đấu giá rơi vào cung Khảm số 1, sinh cho Thái Tuế (Niên Can) Lục Canh rơi vào cung Chấn số 3 là chủ sở hữu vật đấu thầu, vở kịch này được diễn tròn rồi!

Kết quả, một vật đấu thầu (mỏ) có giá khởi điểm chỉ vài chục vạn, được đấu lên đến hơn năm trăm vạn, đơn vị tư vấn của đại sư đã trúng thầu! Hì hì, Nguyệt Can Giáp Tý Mậu (đối thủ cạnh tranh) và Lục Hợp (công ty đấu giá) có công lao đóng góp cho "chủ" là chủ sở hữu vật đấu thầu thật là to lớn!

Trên đây là "suy diễn đại tượng", hay gọi là "nắm bắt tổng thể". Tức là đặt các bên trận doanh của toàn bộ cuộc chiến "đấu thầu" vào các cung của bàn thức, xem xét mối quan hệ của chúng, để làm sáng tỏ cơ huyền trong đó. Đạo nhà binh có "binh bất yếm trá", nếu Kỳ Môn không dùng để xem xét đề phòng cái "trá" của nhà binh thì sao có thể gọi là "thuật nhà binh" được?

Vậy vật đấu thầu (mỏ) này có thể kiếm tiền không? Sau khi "suy diễn đại tượng", nay chúng ta "sau mới xét vi tế": Đại diện cho vật đấu thầu (mỏ) là Thời Can Giáp Tý Mậu rơi vào Trung cung, ký sinh vào cung Cấn số 8. Trong cung ấy lâm "Bạch Hổ, Thiên Nhuế (sao bệnh), Hưu Môn, Mậu gia Tân Thanh Long chiết túc, Đinh gia Tân Chu Tước nhập ngục (quan nhân thất vị), sao phản ngâm". Hì hì, còn tệ hơn thế nào được nữa? Rõ ràng đây là một mỏ có vấn đề nghiêm trọng (Bạch Hổ cộng sao bệnh), đang ngừng sản xuất (Thanh Long chiết túc, Chu Tước nhập ngục, Hưu Môn). Thế mà đại sư lại đoán "Mậu ở vào trường sinh vị, biểu thị chất lượng sản phẩm của mỏ này tốt". Làm sao có thể chỉ xem "Mậu ở trường sinh vị" mà không xét đến những sao hung, thần hung, cách hung còn lại? Vả lại, nguyệt lệnh là Dần, Mậu Thổ bị nguyệt lệnh Dần Mộc khắc. Tháng Dần khí lạnh đặc, Hỏa không thể thăng, Mậu Thổ mất sự sinh trợ của Hỏa nên thiếu ôn hòa, Thổ mất ôn hòa thì không có sinh khí. Bởi vậy, cái "vượng" của trường sinh vị này phải được chiết khấu! Có thể khẳng định chất lượng sản phẩm của mỏ này chẳng tốt đẹp gì! Thêm vào đó, Sinh Môn (lợi nhuận) rơi vào cung Chấn số 3 khắc cung Cấn số 8 nơi Giáp Tý Mậu (vốn đầu tư) rơi vào, đó là điềm lỗ vốn! (Ở đây chỉ bàn về tư duy đoạn cục, không phải đoạn cục, xin phép không bàn dài dòng). Bởi vậy lão hủ đã mạn phép bình về cục này: "Trúng thầu chính là trúng bẫy"! (Ở đây mới chỉ đọc trực tiếp trên bàn thức, theo lời giới thiệu của đại sư, trước đó có 7, 8 đơn vị đăng ký tham gia đấu thầu, tại sao đến lúc mở thầu chỉ còn một đối thủ cạnh tranh? Tại sao một công ty rất có thực lực nằm ngay bên cạnh vật đấu thầu, thà bỏ tiền mua phế liệu sau khi người trúng thầu khai thác để làm nguyên liệu sản xuất của mình còn hơn là tham gia đấu thầu? Chỉ đơn giản là "chê dự án nhỏ" thôi sao? Những thông tin bên ngoài bàn thức như thế này lão hủ còn chưa đưa vào phân tích ở trên, nhưng đối với người diễn bố Kỳ Môn thì không nên bỏ qua!)

Tổng hợp những điều đã trình bày ở trên, điểm thứ hai trong tư duy của lão hủ là "chương trứ nhi hậu tế mật" (rõ ràng nổi bật rồi mới tỉ mỉ), chính là "trước hết nhận thức vĩ mô đại cục, sau đó phân tích vi mô tỉ mỉ".

(3) Tiểu tượng đương tòng đại tượng (Tượng nhỏ nên theo tượng lớn).
Bốn yếu tố cơ bản của dự đoán Kinh Dịch là "tượng, số, lý, chiêm". Trong đó "tượng, số" là tài liệu cơ bản của "chiêm". "Lý" là nguyên tắc tư tưởng của "chiêm". "Tượng, số" là hình, "lý" là thần. Chỉ có "chiêm" đầy đủ cả "hình" lẫn "thần" mới là "chính quả". Chúng ta nhận thức người, việc, vật trước hết là thông qua các giác quan tiếp xúc với hình tượng của người, việc, vật. Bởi vậy, "tượng" là đầu mối của bốn yếu tố. Không có sự tồn tại của "tượng" thì số, lý, chiêm chẳng có cơ sở để bàn. Khi chúng ta đoán cục, điều đầu tiên tiếp xúc chính là vài chục loại "tượng" (ký hiệu) trên bàn thức Kỳ Môn. Một nguyên nhân quan trọng khiến lão hủ khi xưa mới học Kỳ Môn, đối diện với bàn thức mà chẳng tìm ra đâu là ngang dọc, chính là không thể lý rõ "chủ tòng" (chính phụ) của vài chục loại "tượng" (ký hiệu) như cung, cửa, sao, thần, kỳ, nghi... trong cục. Nhiều sách bàn rằng "Thần chủ nhất thiết", "lấy Thần làm chủ, còn lại theo đó". Dường như "Thần" nên là lớn nhất, còn lại đều phải theo "Thần". Nhưng trong các cổ kim đoán lệ, lại chẳng tìm ra một trường hợp nào "lấy Thần làm chủ còn lại theo đó" (không loại trừ khả năng lão hủ nông cạn), thực tế chứng minh đạo lý này không thông! Rõ ràng là có người đã ép "duy tâm luận" (thuyết chỉ có thần linh) vào Kỳ Môn Độn Giáp. Trong quá trình học tập và thực hành, lão hủ dần dần hiểu rằng, Kỳ Môn chỉ là một mô hình mô phỏng vũ trụ, trong đó vài chục loại "tượng" (ký hiệu) là "vạn vật loại tượng" trong vũ trụ, hoàn toàn chẳng liên quan gì đến thần thần quỷ quỷ! Vậy mối quan hệ của vài chục loại "tượng" (ký hiệu) này là thế nào? Nếu không lý ra được "chủ tòng" (chính phụ), thì sẽ là một mớ bòng bong. Gặp khó tìm thầy, thầy bảo: "Vua Vũ trị thủy mà được Lạc Thư, bèn theo đó định ra chín châu, ngoại trừ quốc ra, châu là lớn. Phong Hậu theo đó mà thành lập Kỳ Môn, bày chín cung. Cũng cùng đạo lý ấy, trong Kỳ Môn, ngoại trừ cục ra, cung là đại tượng, còn lại đều nhỏ, mỗi người tự ngộ lấy đi"! Thực sự là một câu nói vỡ lẽ ra chân tướng sự việc! "Cung là đại tượng, còn lại đều nhỏ", không nghe lời thầy, dù lật xem muôn quyển cũng chẳng thấy luận này! Trước đây chỉ coi "cung" là "Địa bàn", cùng với "Nhân bàn" là Cửa, "Thiên bàn" là Sao, "Đính bàn" (bàn trên cùng) là Thần, xem như ngang hàng, thì dĩ nhiên mất "chủ tòng" mà thành "mớ bòng bong" rồi!

Toàn bộ Kỳ Môn cục là một đại tượng tổng thể, là một đại vũ trụ. Mà cục chia chín cung, mỗi cung là một tiểu vũ trụ. Bất kể sao, thần, cửa, kỳ, nghi đều không thể rời khỏi "cung" mà tồn tại độc lập. Và một khi rơi vào cung liền phải chịu ảnh hưởng của cung đó. Ví dụ, đại tượng tổng thể chúng ta là người Trung Quốc; nếu bạn quê gốc Sơn Đông, nhưng nơi cư trú thường xuyên hiện tại là Hồ Nam, thì hiện nay trong thống kê dân số, bạn là người Hồ Nam, nhiều nhất là trong mục "quê quán" (giống "Nguyên Đán bàn" của Kỳ Môn) trên tờ khai lý lịch bạn ghi là Sơn Đông. Tất cả môi trường và điều kiện sinh sống như khí hậu thời tiết, phong tục tập quán, lịch sử văn hóa, chính sách pháp luật của Hồ Nam đều có tác dụng không thể coi nhẹ đối với tình trạng hiện tại của bạn. Đó là lý do tại sao sao, cửa, thần, kỳ, nghi trước hết phải xem trạng thái khi rơi vào cung. Dĩ nhiên, sao, cửa, thần, kỳ, nghi có thuộc tính ngũ hành riêng của chúng (điều này tương đương với "cá tính" của con người). Khi nó rơi vào một cung nào đó, thuộc tính ngũ hành vốn có của nó là không thay đổi, nếu "cá tính" này của nó sinh cho hoặc hợp với ngũ hành của cung mà nó rơi vào, thì như cá gặp nước. Ngược lại, sẽ xuất hiện một số mâu thuẫn, như "cung bách môn", "môn bách cung", "kỳ bị chế", "sao phản ngâm", v.v... Nhưng đây là xung đột giữa "cá tính" và "tính chung", là mâu thuẫn nội bộ. Cũng như người Sơn Đông định cư ở Hồ Nam, nay là người Hồ Nam, nhưng giọng nói, thói quen, tính khí... vẫn giữ nguyên đặc điểm của người Sơn Đông. Đặc điểm cá tính này có thể không hòa hợp với môi trường văn hóa, sinh thái của nơi cư trú mới, gây ra những khó chịu, va chạm. Nhưng trước lợi hại của "đại tượng" cung này với cung khác, thì cá tính của tiểu tượng phải phục tòng tính chung của đại tượng. Điển hình nhất là các Thiên Can là Kỳ, Nghi, khi xảy ra xung đột giữa cung và cung, sự sinh khắc của chúng được luận theo ngũ hành của cung mà chúng rơi vào, lúc này ngũ hành của bản thân chúng phải phục tòng cái đại tượng là "cung", đại diện cho cung mà xuất chiến. Ví dụ "Nhật Can" và "Thời Can" mà chúng ta thường dùng, trong cuộc chiến "Ngũ bất ngộ thời", là "cung của Thời Can" khắc "cung của Nhật Can", chứ không phải "Thời Can" khắc "Nhật Can". Vụ đơn vị tư vấn của vị đại sư kia trúng thầu, là "cung của Thời Can" đại diện cho vật đấu thầu (mỏ) sinh cho "cung của Nhật Can" đại diện cho đơn vị tư vấn của đại sư. Nhưng đại sư viết thành "Thời Can sinh Nhật Can, nói rõ có thể lấy được mỏ này". "Thời Can" của cục đó là Mậu, thuộc Thổ; "Nhật Can" là Bính, thuộc Hỏa. Nếu nói thành "Thời Can" sinh "Nhật Can", chẳng hóa ra "Thổ sinh Hỏa" à? Thực tế là Nhật Can Bính rơi vào cung Đoài số 7, ngũ hành của cung đó thuộc Kim; còn Thời Can Mậu rơi vào cung Cấn số 8, ngũ hành của cung đó thuộc Thổ, là "Thổ của cung Cấn" sinh "Kim của cung Đoài". Lúc này "cá tính" của hai can Nhật, Thời đã thu lại, phục tòng thuộc tính của đại tượng là "cung". Nói đến đây, cần đặc biệt nhắc rằng, một số sách cổ và sách của các bậc đại sư hiện đại viết "Nhật Can khắc Thời Can" hoặc "Thời Can sinh Nhật Can" là sai lầm, ít nhất là không chính quy. Bởi vì "Nhật Can" hay "Thời Can" với "cung của Nhật Can" hay "cung của Thời Can" là hai khái niệm khác nhau. Những chữ không nên lược bỏ thì không được lược bỏ, bằng không thì dễ gây lẫn lộn khái niệm! Chẳng khác gì sách lậu!

Sau khi hiểu được đạo lý "tiểu tượng đương tòng đại tượng", một số vấn đề kéo theo cũng được giải quyết dễ dàng. Ví dụ khi luận vượng suy, có sách và bậc đại sư nói: "Vượng suy của cung xem nguyệt lệnh; vượng suy của Kỳ Nghi (Thập Can) xem biểu 'sinh vượng tử tuyệt' của thập can". Sự phân chia cắt khúc như vậy, cộng với việc viết "cung Thời Can" hay "cung Nhật Can" thành "Thời Can" hay "Nhật Can", đã khiến người mới học không biết đâu mà lần! Biết được "tiểu tượng đương tòng đại tượng" rồi, thì hễ đại tượng "lấy cung để luận sinh khắc", chứ không phải lấy "cá tính" của can để luận sinh khắc, dĩ nhiên là phải lấy nguyệt lệnh để luận vượng suy. Khi trong cung xem "mâu thuẫn nội bộ", thì phải lấy "sinh vượng tử tuyệt của thập can" làm chính, kiêm xem nguyệt lệnh (bởi vì vấn đề trong cung cũng bao gồm bản thân cung). Ở đây chỉ lấy Kỳ, Nghi làm ví dụ, còn lại cũng tương tự.

(4) Hợp đạo tiện thị huyền cơ (Hợp với Đạo chính là huyền cơ).
Lão hủ xuyên suốt bài viết đều nói về "hợp đạo", thế nào là Đạo? "Một âm một dương gọi là Đạo", Kinh Dịch đã định âm một cách chắc chắn từ lâu! Lý thuyết Thái cực Âm Dương của Kinh Dịch là quy luật vũ trụ để phân tích sự biến hóa của vạn sự vạn vật trong vũ trụ. Nó cho rằng, biến hóa của vũ trụ đều là kết quả của sự tương tác giữa hai năng lượng lớn Âm và Dương, tức sự tương tác của hai năng lượng lớn Âm Dương trong vũ trụ sinh ra vận động tuần hoàn của các thiên thể, vận động của thiên thể sinh ra sự thay đổi tối sáng, lạnh nóng, từ đó sinh ra sự sống và vạn vật. Mối quan hệ của hai năng lượng Âm Dương thể hiện sự tương sinh và tương khắc; tương khắc thúc đẩy vũ trụ biến hóa phát triển; tương sinh duy trì sự cân bằng biến hóa của vũ trụ; trong quá trình biến hóa của không gian thời gian, hai năng lượng lớn phân bố năng lượng khác nhau trong các không gian lớn của vũ trụ (Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung), lần lượt dùng các ký hiệu Mộc, Hỏa, Kim, Thủy, Thổ để biểu đạt, dùng Thiên Can, Địa Chi để phản ánh vị trí không gian thời gian biến hóa của hai năng lượng lớn, cường độ năng lượng và thuộc tính của chúng. Vạn vật đã được sinh ra từ sự vận hóa âm dương của vũ trụ, ắt nhiên mang trong mình huyết thống cơ bản do mẫu thể ban cho.

Kỳ Môn Độn Giáp chính là dùng phương thức mô phỏng trên bàn thức, để khôi phục tình thế vận động thay thế âm dương của vũ trụ, vạch ra quy luật sinh hóa biến dịch của vạn vật, thông qua "huyết thống cơ bản do mẫu thể ban cho" để xem xét thành bại cát hung của vạn sự vạn vật, từ đó làm rõ sự cư tránh. Các ký hiệu (tượng) trên bàn thức mà chúng ta đoán cục (đọc cục) đối diện có nhiều đến đâu, phức tạp đến đâu, thì cũng đều nằm trong Âm Dương lưỡng nghi! Nắm bắt được Âm Dương lưỡng nghi chính là nắm bắt được cương của việc đoán cục (đọc cục)! Bất kể cung, cửa, sao, thần, kỳ, nghi, hay "chủ", "khách", "đại tượng", "tiểu tượng" v.v... tất cả đều nằm trong Âm Dương lưỡng nghi. Chú ý đến sự tiêu trưởng âm dương của chúng chính là tư duy quan trọng nhất của việc đoán cục (đọc cục)! Nói đến đây, lão hủ không tự lượng sức mình, xin mạn phép bàn sơ qua về "huyền cơ trung cung"!

"Huyền cơ trung cung" – câu nói này được nhiều sách nhắc đến, cũng có nhiều người từng nói. Nhưng rất ít sách và người nói ra được manh mối. Lão hủ thử bàn sơ qua, chỉ là ném viên gạch để mời ngọc mà thôi. Chúng ta hãy xem trước hình Bát quái Thái cực Cửu cung: (xin lỗi không thể tải hình lên) Hai mươi bốn tiết khí phân bố xung quanh theo mỗi cung thống ba tiết (khí), Bát quái phân bố vào tám cung theo bốn chính bốn góc, trung cung Thái cực là Âm Dương lưỡng nghi.

Dịch Nguyên nói: "Lưỡng nghi là trời đất. Trời lấy số một sinh ra Thủy, số ba sinh ra Mộc; Đất lấy số hai sinh ra Hỏa, số bốn sinh ra Kim. Thủy, Hỏa, Mộc, Kim có hình vẻ của chúng nhưng chưa có thực thể, đó gọi là Tượng. Căn cứ vào cái tượng ấy mà nói, cho nên bảo: Lưỡng nghi sinh ra Tứ tượng". Ở đây dùng số trời đất một, hai, ba, bốn để sinh ra thuộc tính ngũ hành của bốn chính Bắc, Nam, Đông, Tây là Thủy, Hỏa, Mộc, Kim. Vậy còn Thổ thì sao?

Đừng vội! Dịch Nguyên còn nói: "Năm là số trung của trời đất, tuy nó là số trời, nhưng thể của nó lại là Thổ, là số đất, bởi vậy, nó có tính chất 'pha trộn bốn hành để thành ngũ hành'". Được rồi, cái "Trung Thổ" này "pha trộn bốn hành để thành ngũ hành", liền làm cho Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ đều đủ cả! Cần lưu ý, ở đây còn chỉ ra đặc điểm của "Trung Ngũ Thổ" là kiêm cả "tính chất của trời và đất". Cái có thể kiêm cả lưỡng nghi trời đất, chỉ có trung cung Thái cực! Đó chẳng phải là trung ngũ cung là đất Thái cực, tính của nó là Thổ sao? Hà Đồ và Lạc Thư là khởi nguồn của Kinh Dịch, mà số trung cung của "Hà, Lạc" đều là năm, có thể thấy cái "Trung Ngũ" này là có vấn đề lớn!

Có người nói "Nguồn gốc của Kỳ Môn vốn từ Lạc Thư, không liên quan nhiều đến Hà Đồ". Về luận điểm này, lão hủ thực sự không dám đồng tình. Vì khuôn khổ có hạn, không bàn những điều khác, chỉ hỏi một câu: Kỳ Môn Cửu cung cộng dọc ngang đều bằng mười lăm, con số kỳ diệu "mười lăm" này là số gì? Đó là số âm dương ngũ hành của Hà Đồ! Số ngũ hành của Hà Đồ là Thủy một, Hỏa hai, Mộc ba, Kim bốn, Thổ năm, cũng gọi là số Tiểu Diễn. Một, ba, năm là số dương, tổng của chúng là chín, cho nên chín là số cực dương. Hai, bốn là số âm, tổng của chúng là sáu, cho nên sáu là số cực âm. Tổng số âm dương hợp lại thành số mười lăm, bởi vậy hóa thành Lạc Thư thì dọc ngang đều là số mười lăm, cho nên "mười lăm kỳ diệu" của Kỳ Môn Cửu cung chính là số âm dương ngũ hành của Hà Đồ vậy. Hà Đồ là Tiên Thiên, Lạc Thư là Hậu Thiên; Hà Đồ là thể, là Âm; Lạc Thư là dụng, là Dương. Hà Đồ và Lạc Thư đã là thể dụng lẫn nhau, thì Kỳ Môn há lại không liên quan đến Hà Đồ? Mà huyền cơ của trung cung Kỳ Môn lại ẩn chứa trong cái "thể" của Hà Đồ!

Số sinh thành vạn vật của Hà Đồ: Trời một sinh Thủy, Đất sáu thành nó; Đất hai sinh Hỏa, Trời bảy thành nó; Trời ba sinh Mộc, Đất tám thành nó; Đất bốn sinh Kim, Trời chín thành nó; Trời năm sinh Thổ, Đất mười thành nó. Ở đây một, hai, ba, bốn, năm là số sinh. Sáu, bảy, tám, chín, mười là số thành. "Sinh" là sự nảy mầm, bắt đầu của vạn sự vạn vật. "Thành" là sự hình thành, kết quả của vạn sự vạn vật. Xin lưu ý, ở đây cho chúng ta biết một bí mật: sau khi sự vật "nảy mầm, bắt đầu", gặp "năm" mới có thể "thành", không có "năm" thì không "thành". Ví dụ: "Trời một sinh Thủy, Đất sáu thành nó", cái "một" này là số sinh, gặp "năm" mới thành số thành là "sáu". "Đất hai sinh Hỏa, Trời bảy thành nó", số sinh "hai" cộng với "năm" mới thành số thành "bảy"... những cái khác cũng suy ra tương tự. Cho nên Dịch Nguyên nói: "Năm, là cái xung của sự sinh thành trời đất, là khởi đầu của biến hóa"! Ngoài ra, số lẻ là Dương, là Trời. Số chẵn là Âm, là Đất. Cơ chế sinh thành này còn cho chúng ta biết, sự vật bắt đầu từ Âm ắt thành Dương, bắt đầu từ Dương ắt thành Âm, tất cả đều do cái "Trung Ngũ" này vậy! Bởi vậy, "Trung Ngũ" là cơ hội biến hóa, cơ hội thành bại, cơ hội sinh tử! Người diễn bố Kỳ Môn nếu có thể ngộ ra được huyền cơ trong đó, lại biết vận dụng linh cơ một cách diệu dụng thì đối với đoạn cục thực sự có thể gọi là "kỳ diệu vô cùng"!

Nói đến đây, chẳng ngại lấy lại cục của vị đại sư đã nhắc đến ở trên làm ví dụ. Trước hết hãy ôn lại "ba cung một đường" đã bàn ở trên:

"Trực Phù (Cục Đất đai) cung Khôn số 2 — Trung Ngũ cung (mối quan hệ với Giáp Tý Mậu đã nói ở trên) — Giáp Tý Mậu (vật đấu thầu (mỏ) và đối thủ cạnh tranh) cung Cấn số 8. 'Khôn, Trung, Cấn' ba cung một đường, đều thuộc Thổ".

Được rồi, bây giờ chúng ta hãy làm một trò chơi:

Trung Ngũ cung là đất Thái cực trung ương, nên là lớn nhất (lão đại). Cung Khôn số 2 Trực Phù (Cục Đất đai) nên là lớn thứ hai (thứ đại). Cung Cấn số 8 Giáp Tý Mậu (vật đấu thầu và đối thủ cạnh tranh) là nhỏ nhất. Bắt giặc phải bắt vua trước, chúng ta hãy bắt trước số cung của lão đại "Trung Ngũ cung" — "năm"; sau đó bắt số cung của "cung Khôn số 2" lớn thứ hai — "hai"; cuối cùng bắt số cung của "cung Cấn số 8" nhỏ nhất — "tám". Nối ba số cung đã bắt được lại với nhau sẽ thành "năm hai tám". Có người có thể hỏi "số 'năm hai tám' này là số gì"? Hì hì, nói cho bạn biết, đó chính là con số "một tiếng búa cuối cùng" sau khi vật đấu thầu (mỏ) với giá khởi điểm vài chục vạn được đấu giá lên — năm trăm hai mươi tám vạn (nhân dân tệ), không hơn một xu, không kém một xu! Điều này có phải là ngẫu nhiên không?

"Huyền cơ trung cung" không chỉ dừng lại ở đây, trên đây chỉ là ví dụ. Tuy nhiên, cơ huyền có thế nào cũng không thể rời khỏi cương lĩnh tổng thể là "Âm Dương lưỡng nghi", bởi vì đó là "Đạo", "hợp đạo chính là huyền cơ"!

Được rồi, trò chơi kết thúc, bài viết của lão hủ cũng kết thúc ở đây. Hì hì, chơi Kỳ Môn thì nên coi như chơi trò chơi, đừng quá nghiêm túc!

 

(2) Chương trứ nhi hậu tế mật (Rõ ràng nổi bật rồi mới tỉ mỉ).

Một bằng hữu trẻ tuổi trong dịch học viết thư nói: "Khi tôi lập xong quẻ cục, đối diện với chín cung, bốn bàn và vài chục loại ký hiệu khác nhau, cảm giác như 'chuột muốn ăn trời', chẳng biết bắt đầu từ đâu. Cứ theo cách các bậc đại sư giảng 'ngang xem cái gì, dọc xem cái gì' mà xem, xem mãi, xem mãi, rốt cuộc tôi chẳng tìm thấy đâu là ngang, đâu là dọc nữa". Đúng vậy, sau khi chúng ta có phương pháp tư duy đúng đắn, điều cần giải quyết là làm thế nào để thâm nhập vào bàn thức Kỳ Môn phức tạp hỗn độn ấy. Trong Đại Học có câu danh ngôn: "Vật hữu bản mạt, sự hữu chung thủy, tri kỳ tiên hậu, tắc cận đạo hĩ" (Vật có gốc ngọn, việc có đầu cuối, biết cái trước cái sau, thì gần với đạo rồi). Các bậc thánh hiền xưa đã chỉ rõ cho chúng ta phương pháp ở đây. "Tiên hậu" ở đây là gì? Là thứ tự, là trình tự, là bước đi! Mà phương pháp để biết được "tiên hậu" này là phải làm sáng tỏ "bản mạt" và "chung thủy" của "vật" và "sự". Vậy "bản mạt" và "chung thủy" của Kỳ Môn Độn Giáp là thế nào? Kỳ Môn Độn Giáp ra đời từ vũ trụ quan của người Trung Quốc là sự thật không thể nghi ngờ. Vũ trụ quan và phương pháp luận của người Trung Quốc hay người phương Đông là nhận thức vấn đề một cách vĩ mô tổng thể (chỉnh thể), nói chính xác là nhận thức vĩ mô tổng thể trước, sau đó phân tích tỉ mỉ sâu sắc. Giống như chúng ta đi quan sát một khu rừng, nếu lao thẳng vào trong rừng, thì sẽ "chỉ thấy cây mà không thấy rừng". Bởi vậy, lão hủ nói với người bằng hữu trẻ tuổi viết thư đó: "Các bậc đại sư dẫn dụng câu thơ của Tô Đông Pha Đề Tây Lâm Bích 'Hoành khán thành lĩnh sách thành phong, viễn cận cao đê các bất đồng, bất thức Lư Sơn chân diện mục, chỉ duyên thân tại thử sơn trung' (Nhìn ngang thành dãy, nhìn dọc thành ngọn, xa gần cao thấp mỗi bề một khác, chẳng biết được bộ mặt thực của núi Lư, chỉ vì thân ở trong núi này) là không sai. Chỉ có điều chúng ta học phương pháp của Tô Đông Pha nhìn núi Lư, không nên theo đúng trình tự câu thơ của ông ấy, vừa vào đã nhìn ngang cái gì, nhìn dọc cái gì, mà nên làm ngược lại trình tự câu thơ, trước hết học cái lập trường và phương pháp nhìn vấn đề của ông ấy ở câu 'chẳng biết được bộ mặt thực của núi Lư, chỉ vì thân ở trong núi này'. Chỉ có lùi ra ngoài núi, quan sát vĩ mô, mới xuất hiện được hiệu quả thị giác tổng thể như 'nhìn ngang thành dãy, nhìn dọc thành ngọn, xa gần cao thấp mỗi bề một khác' của ông ấy". Nếu không có sự nhận thức vĩ mô tổng thể "trước", vừa bắt đầu đã đi vào quan sát vi mô cục bộ, thì chắc chắn sẽ thành "thấy voi mò mẫm", kết quả chắc chắn là "không biết được bộ mặt thực của núi Lư"!

Nhận thức vĩ mô tổng thể trong đọc cục là vô cùng quan trọng. Bởi vì đây là phương pháp duy nhất để đạt được "toàn cục tại hung" (nắm chắc toàn bộ cục diện trong lòng)! Điều cần nhấn mạnh ở đây là: "Tổng thể", "toàn cục" của Kỳ Môn không chỉ giới hạn trong các cung, cửa, sao, thần, cách... trên bàn thức Kỳ Môn, mà còn bao gồm các yếu tố cấu thành khác nhau của người, việc, vật mà chúng ta đang đoán. Dự đoán Kỳ Môn là sự kết hợp giữa các yếu tố cấu thành khác nhau của người, việc, vật trong hiện thực với bàn thức Kỳ Môn, để từ sự mô phỏng của bàn thức Kỳ Môn đọc ra cát hung của người, việc, vật, cũng như phương pháp và hướng cư tránh. Ở đây, bàn thức Kỳ Môn và các yếu tố cấu thành khác nhau của người, việc, vật là "âm dương lưỡng nghi" trong cùng một thái cực. Bàn thức Kỳ Môn là mô hình hư ảo, là tĩnh, là nội, thuộc Âm. Các yếu tố cấu thành khác nhau của người, việc, vật là thực thể tồn tại, là động, là ngoại, thuộc Dương. Hai thứ này tuyệt đối không thể thiên lệch bỏ qua! Rất nhiều người chỉ chú ý và nhấn mạnh việc phải "thuộc nằm lòng" bàn thức Kỳ Môn, nhưng lại lơ là việc tìm hiểu các yếu tố cấu thành của người, việc, vật. Như thế thì sẽ không tìm đúng "Dụng thần". Kết quả dựa vào "đoán mò", chẳng phải là "chó cắn rận — ăn may", thì ắt là "trâu chẳng ăn cỏ trâu — chẳng ăn nhập gì cả"! Nếu đoán những việc vặt vãnh chẳng đau chẳng ngứa thì không sao, nhưng nếu đoán những việc hệ trọng liên quan đến thân mạng, gia tài, thì sẽ gây rắc rối đấy!

Chỉ khi nắm rõ cặp "Âm dương lưỡng nghi" này trong lòng thì mới gọi là thực sự "toàn cục tại hung". Rất nhiều bậc đại sư rất chú trọng tích lũy tri thức về đời sống xã hội. Như ông Vương Phượng Lân nghiên cứu Kỳ Môn đoán bệnh, ông ấy không phải là người trong giới y, nhưng để tích lũy tri thức về mặt này, từng lâu ngày vào tận phòng bệnh giao lưu với bác sĩ và bệnh nhân, tìm hiểu về sự phát sinh và điều trị bệnh tật, cho nên khi ông ấy bàn về Kỳ Môn đoán bệnh, liên bác sĩ cũng thấy ông ấy như một bác sĩ thực thụ. Ông Đỗ Tân Hội là tổng giám đốc Liên Thông, đã kết hợp kinh nghiệm và tri thức quản lý doanh nghiệp tích lũy trong công việc với Kỳ Môn, thu hoạch được không ít các ca kinh điển về Kỳ Môn dự đoán chiến lược kinh doanh! Và đã viết nên tác phẩm vĩ đại Chu Dịch Dữ Thương Chiến. Phương Tây thường có nhiều "chuyên gia", phương Đông thường có nhiều "tạp gia", điều này là do vũ trụ quan khác nhau của Đông Tây quyết định! Kỳ Môn bao hàm muôn tượng, đặc điểm vũ trụ quan phương Đông này đòi hỏi người diễn bố Kỳ Môn nhất định phải là một "tạp gia", phải có cấu trúc tri thức phong phú, bằng không thì tầm nhìn "thủ loại tỷ tượng" (lấy loại so sánh với tượng) và "định dụng thần" của bạn sẽ chẳng thể rộng mở! Chúng ta học tập các bậc đại sư không chỉ học tri thức, kinh nghiệm, tư duy và kỹ thuật trong môn phái Kỳ Môn của họ, mà còn phải học "công phu ngoài môn phái" là chú trọng tích lũy tri thức về đời sống xã hội của họ! Chỉ có đối với hai loại "công phu" này, không nói là luyện giỏi, nhưng ít nhất có một sự hiểu biết cơ bản, mới thực sự làm được "âm dương hòa hợp, toàn cục tại hung", mới có thể chiến tất thắng. Đây chính là "quan niệm toàn cục về Kỳ Môn" của lão hủ.

Nói cách khác, "Quan niệm toàn cục về Kỳ Môn" này là sự chuẩn bị về tri thức và tư tưởng cần thiết trước khi đọc cục. Có sự chuẩn bị này, người diễn bố có thể bắt đầu đọc cục!

Bước đầu tiên để bắt tay vào đọc cục chính là "phân rõ chủ khách"! Đây là chìa khóa để nắm bắt "toàn cục" ở tầng cụ thể của việc đọc cục. Bởi vậy, Kỳ Môn Bí Tịch Đại Toàn khi bàn về nguyên tắc lấy dụng thần chủ khách đã nhấn mạnh: "Người khéo dùng Kỳ Môn, trước hết phân chủ khách, rồi sau đó mới rõ phương pháp chiêm".

Nếu như điều đã bàn ở trên là "Quan niệm toàn cục về Kỳ Môn" ở tầng thứ nhất, là nguyên tắc tổng thể của việc diễn bố Kỳ Môn. Thì nay bàn đến tầng thứ hai — "Quan niệm toàn cục khi đọc cục Kỳ Môn", là hành vi phân tích cụ thể, thuộc về ứng dụng Kỳ Môn. Dùng phương pháp mà các bậc thánh hiền xưa dạy "minh bản thủy" (rõ gốc ban đầu) để "tri tiên hậu" (biết trước sau), thì lúc này "bản thủy" là "bản thủy" của ứng dụng Kỳ Môn. Ứng dụng Kỳ Môn Độn Giáp "bản thủy" là thuật nhà binh, chính là đạo dùng binh. Về sau được ứng dụng rộng rãi trong các mặt khác nhau của đời sống xã hội, đó là sự phát triển của nó, là "mạt" (ngọn) vậy! Do đó, khi đối diện với bàn thức Kỳ Môn, chúng ta không thể quên "bản thủy" ứng dụng của nó — đạo dùng binh! Rõ được điều này, thì "tiên hậu" của nó cũng tự nhiên sáng tỏ!

"Đạo dùng binh" dĩ nhiên là "trước" phải rõ địch ta, nhà binh nếu "địch ta" còn chẳng làm rõ thì đánh trận thế nào? Tôn Tử·Mưu Công thiên nói: "Biết mình biết ta, trăm trận không nguy; không biết ta mà biết mình, một trận thắng một trận thua; không biết ta, không biết mình, mỗi trận ắt nguy". Tôn Tử ở đây khuyên người dùng binh không chỉ phải "rõ" (phân biệt) địch ta, mà còn phải "biết" địch ta! ("Địch ta", "mình ta" ở đây chính là "chủ khách" trong Kỳ Môn). Biết địch ta, thì đại cục đã nắm trong lòng! Nhà binh dùng binh mà không biết địch ta, "mỗi trận ắt nguy". Tương tự, Kỳ Môn đoạn cục không biết chủ khách, mỗi lần chiêm ắt thất bại! Có thể nói phàm là người diễn bố Kỳ Môn đều biết lẽ này. Nhưng tại sao vẫn xảy ra vấn đề? Đó là do nguyên nhân "quen mắt đến nỗi không thấy"! Ví dụ lão hủ đã nhắc đến vị đại sư kia, có thể nói ông ấy rất hiểu lẽ này, nhưng trong vụ đoán quẻ đấu thầu cho đơn vị tư vấn của mình, ông ấy đã lơ là vấn đề này.

Tính chất của cuộc "đấu thầu" đó là mua bán. Bên phát hành thầu tức chủ sở hữu vật đấu thầu là người bán hàng, là "chủ"; các đơn vị hoặc cá nhân tham gia đấu thầu đều là người mua, đều là "khách"; công ty đấu giá là bên trung gian.

  • Chủ sở hữu vật đấu thầu (Thái Tuế, Niên Can) Lục Canh rơi vào cung Chấn số 3.

  • Đơn vị tư vấn của đại sư (Nhật Can) Bính Kỳ rơi vào cung Đoài số 7 (một cặp chủ khách rất rõ ràng, trực quan).

  • Đối thủ cạnh tranh (Nguyệt Can) và vật đấu thầu (mỏ, Thời Can) cùng là Giáp Tý Mậu rơi vào Trung cung, ký sinh vào cung Cấn số 8.

  • Cơ quan chủ quản của vật đấu thầu (Cục Đất đai) là Trực Phù rơi vào cung Khôn số 2.

  • Công ty đấu giá (bên trung gian) là Lục Hợp rơi vào cung Khảm số 1.

Trận doanh này được hiển thị rất rõ ràng trên bàn thức.

Nhưng khi đại sư đoán cục, ông ấy căn bản không xem "chủ" là chủ sở hữu vật đấu thầu, cũng như mối quan hệ của nó. Hai mắt chỉ chú ý đến đối thủ cạnh tranh (Nguyệt Can Mậu), nhất mực so kè với đối thủ cạnh tranh, điều đó rất nguy hiểm! Lỡ đâu "đối thủ cạnh tranh" (Nguyệt Can) ấy là "chó săn" do "chủ" là chủ sở hữu vật đấu thầu bố trí thì sao? Hai mắt chết dí vào "đối thủ cạnh tranh" mà truy kích, chẳng phải là trúng kế "dẫn dụ địch vào sâu" của người ta ư?

Cục này lão hủ đọc mà thấy tim đập thình thịch. Đại sư đã không xác định đúng "chủ khách", đã lơ đi người bán, cái "chủ" ấy, là chủ sở hữu vật đấu thầu. Dĩ nhiên, cũng lơ đi bộ phận chức năng của "chủ" ấy là "Trực Phù" (Cục Đất đai). "Trực Phù" rơi vào cung Khôn số 2 thuộc Thổ. Dương ngũ cục, "Nguyệt Can" đại diện cho đối thủ cạnh tranh và "Thời Can" đại diện cho vật đấu thầu (mỏ), cùng là Giáp Tý Mậu rơi vào Trung cung, ký sinh vào cung Cấn số 8. Hãy chú ý những tình huống sau đây được thể hiện trên bàn thức:

  • Trực Phù (Cục Đất đai) cung Khôn số 2 — Trung cung (mối quan hệ với Giáp Tý Mậu đã nói ở trên) — Giáp Tý Mậu (vật đấu thầu (mỏ) và đối thủ cạnh tranh) cung Cấn số 8. Ba cung "Khôn, Trung, Cấn" nằm trên một đường thẳng, đều thuộc Thổ. Dĩ nhiên, vật đấu thầu (mỏ) Giáp Tý Mậu là hàng hóa của Trực Phù (Cục Đất đai), điều này không cần đọc cục cũng rõ. Vậy còn đối thủ cạnh tranh Giáp Tý Mậu này thì sao? ... Có thể hiểu theo một cách khác không? Rõ ràng họ là người một nhà mà! (Khôn là mẹ, Cấn là con trai út)

Lại xem Lục Hợp là công ty đấu giá rơi vào cung Khảm số 1, sinh cho Thái Tuế (Niên Can) Lục Canh rơi vào cung Chấn số 3 là chủ sở hữu vật đấu thầu, vở kịch này được diễn tròn rồi!

 

Kết quả, một vật đấu thầu (mỏ) có giá khởi điểm chỉ vài chục vạn, được đấu lên đến hơn năm trăm vạn, đơn vị tư vấn của đại sư đã trúng thầu! Hì hì, Nguyệt Can Giáp Tý Mậu (đối thủ cạnh tranh) và Lục Hợp (công ty đấu giá) có công lao đóng góp cho "chủ" là chủ sở hữu vật đấu thầu thật là to lớn!

Trên đây là "suy diễn đại tượng", hay gọi là "nắm bắt tổng thể". Tức là đặt các bên trận doanh của toàn bộ cuộc chiến "đấu thầu" vào các cung của bàn thức, xem xét mối quan hệ của chúng, để làm sáng tỏ cơ huyền trong đó. Đạo nhà binh có "binh bất yếm trá", nếu Kỳ Môn không dùng để xem xét đề phòng cái "trá" của nhà binh thì sao có thể gọi là "thuật nhà binh" được?

Vậy vật đấu thầu (mỏ) này có thể kiếm tiền không? Sau khi "suy diễn đại tượng", nay chúng ta "sau mới xét vi tế": Đại diện cho vật đấu thầu (mỏ) là Thời Can Giáp Tý Mậu rơi vào Trung cung, ký sinh vào cung Cấn số 8. Trong cung ấy lâm "Bạch Hổ, Thiên Nhuế (sao bệnh), Hưu Môn, Mậu gia Tân Thanh Long chiết túc, Đinh gia Tân Chu Tước nhập ngục (quan nhân thất vị), sao phản ngâm". Hì hì, còn tệ hơn thế nào được nữa? Rõ ràng đây là một mỏ có vấn đề nghiêm trọng (Bạch Hổ cộng sao bệnh), đang ngừng sản xuất (Thanh Long chiết túc, Chu Tước nhập ngục, Hưu Môn). Thế mà đại sư lại đoán "Mậu ở vào trường sinh vị, biểu thị chất lượng sản phẩm của mỏ này tốt". Làm sao có thể chỉ xem "Mậu ở trường sinh vị" mà không xét đến những sao hung, thần hung, cách hung còn lại? Vả lại, nguyệt lệnh là Dần, Mậu Thổ bị nguyệt lệnh Dần Mộc khắc. Tháng Dần khí lạnh đặc, Hỏa không thể thăng, Mậu Thổ mất sự sinh trợ của Hỏa nên thiếu ôn hòa, Thổ mất ôn hòa thì không có sinh khí. Bởi vậy, cái "vượng" của trường sinh vị này phải được chiết khấu! Có thể khẳng định chất lượng sản phẩm của mỏ này chẳng tốt đẹp gì! Thêm vào đó, Sinh Môn (lợi nhuận) rơi vào cung Chấn số 3 khắc cung Cấn số 8 nơi Giáp Tý Mậu (vốn đầu tư) rơi vào, đó là điềm lỗ vốn! (Ở đây chỉ bàn về tư duy đoạn cục, không phải đoạn cục, xin phép không bàn dài dòng). Bởi vậy lão hủ đã mạn phép bình về cục này: "Trúng thầu chính là trúng bẫy"! (Ở đây mới chỉ đọc trực tiếp trên bàn thức, theo lời giới thiệu của đại sư, trước đó có 7, 8 đơn vị đăng ký tham gia đấu thầu, tại sao đến lúc mở thầu chỉ còn một đối thủ cạnh tranh? Tại sao một công ty rất có thực lực nằm ngay bên cạnh vật đấu thầu, thà bỏ tiền mua phế liệu sau khi người trúng thầu khai thác để làm nguyên liệu sản xuất của mình còn hơn là tham gia đấu thầu? Chỉ đơn giản là "chê dự án nhỏ" thôi sao? Những thông tin bên ngoài bàn thức như thế này lão hủ còn chưa đưa vào phân tích ở trên, nhưng đối với người diễn bố Kỳ Môn thì không nên bỏ qua!)

Tổng hợp những điều đã trình bày ở trên, điểm thứ hai trong tư duy của lão hủ là "chương trứ nhi hậu tế mật" (rõ ràng nổi bật rồi mới tỉ mỉ), chính là "trước hết nhận thức vĩ mô đại cục, sau đó phân tích vi mô tỉ mỉ".

(3) Tiểu tượng đương tòng đại tượng (Tượng nhỏ nên theo tượng lớn).
Bốn yếu tố cơ bản của dự đoán Kinh Dịch là "tượng, số, lý, chiêm". Trong đó "tượng, số" là tài liệu cơ bản của "chiêm". "Lý" là nguyên tắc tư tưởng của "chiêm". "Tượng, số" là hình, "lý" là thần. Chỉ có "chiêm" đầy đủ cả "hình" lẫn "thần" mới là "chính quả". Chúng ta nhận thức người, việc, vật trước hết là thông qua các giác quan tiếp xúc với hình tượng của người, việc, vật. Bởi vậy, "tượng" là đầu mối của bốn yếu tố. Không có sự tồn tại của "tượng" thì số, lý, chiêm chẳng có cơ sở để bàn. Khi chúng ta đoán cục, điều đầu tiên tiếp xúc chính là vài chục loại "tượng" (ký hiệu) trên bàn thức Kỳ Môn. Một nguyên nhân quan trọng khiến lão hủ khi xưa mới học Kỳ Môn, đối diện với bàn thức mà chẳng tìm ra đâu là ngang dọc, chính là không thể lý rõ "chủ tòng" (chính phụ) của vài chục loại "tượng" (ký hiệu) như cung, cửa, sao, thần, kỳ, nghi... trong cục. Nhiều sách bàn rằng "Thần chủ nhất thiết", "lấy Thần làm chủ, còn lại theo đó". Dường như "Thần" nên là lớn nhất, còn lại đều phải theo "Thần". Nhưng trong các cổ kim đoán lệ, lại chẳng tìm ra một trường hợp nào "lấy Thần làm chủ còn lại theo đó" (không loại trừ khả năng lão hủ nông cạn), thực tế chứng minh đạo lý này không thông! Rõ ràng là có người đã ép "duy tâm luận" (thuyết chỉ có thần linh) vào Kỳ Môn Độn Giáp. Trong quá trình học tập và thực hành, lão hủ dần dần hiểu rằng, Kỳ Môn chỉ là một mô hình mô phỏng vũ trụ, trong đó vài chục loại "tượng" (ký hiệu) là "vạn vật loại tượng" trong vũ trụ, hoàn toàn chẳng liên quan gì đến thần thần quỷ quỷ! Vậy mối quan hệ của vài chục loại "tượng" (ký hiệu) này là thế nào? Nếu không lý ra được "chủ tòng" (chính phụ), thì sẽ là một mớ bòng bong. Gặp khó tìm thầy, thầy bảo: "Vua Vũ trị thủy mà được Lạc Thư, bèn theo đó định ra chín châu, ngoại trừ quốc ra, châu là lớn. Phong Hậu theo đó mà thành lập Kỳ Môn, bày chín cung. Cũng cùng đạo lý ấy, trong Kỳ Môn, ngoại trừ cục ra, cung là đại tượng, còn lại đều nhỏ, mỗi người tự ngộ lấy đi"! Thực sự là một câu nói vỡ lẽ ra chân tướng sự việc! "Cung là đại tượng, còn lại đều nhỏ", không nghe lời thầy, dù lật xem muôn quyển cũng chẳng thấy luận này! Trước đây chỉ coi "cung" là "Địa bàn", cùng với "Nhân bàn" là Cửa, "Thiên bàn" là Sao, "Đính bàn" (bàn trên cùng) là Thần, xem như ngang hàng, thì dĩ nhiên mất "chủ tòng" mà thành "mớ bòng bong" rồi!

Toàn bộ Kỳ Môn cục là một đại tượng tổng thể, là một đại vũ trụ. Mà cục chia chín cung, mỗi cung là một tiểu vũ trụ. Bất kể sao, thần, cửa, kỳ, nghi đều không thể rời khỏi "cung" mà tồn tại độc lập. Và một khi rơi vào cung liền phải chịu ảnh hưởng của cung đó. Ví dụ, đại tượng tổng thể chúng ta là người Trung Quốc; nếu bạn quê gốc Sơn Đông, nhưng nơi cư trú thường xuyên hiện tại là Hồ Nam, thì hiện nay trong thống kê dân số, bạn là người Hồ Nam, nhiều nhất là trong mục "quê quán" (giống "Nguyên Đán bàn" của Kỳ Môn) trên tờ khai lý lịch bạn ghi là Sơn Đông. Tất cả môi trường và điều kiện sinh sống như khí hậu thời tiết, phong tục tập quán, lịch sử văn hóa, chính sách pháp luật của Hồ Nam đều có tác dụng không thể coi nhẹ đối với tình trạng hiện tại của bạn. Đó là lý do tại sao sao, cửa, thần, kỳ, nghi trước hết phải xem trạng thái khi rơi vào cung. Dĩ nhiên, sao, cửa, thần, kỳ, nghi có thuộc tính ngũ hành riêng của chúng (điều này tương đương với "cá tính" của con người). Khi nó rơi vào một cung nào đó, thuộc tính ngũ hành vốn có của nó là không thay đổi, nếu "cá tính" này của nó sinh cho hoặc hợp với ngũ hành của cung mà nó rơi vào, thì như cá gặp nước. Ngược lại, sẽ xuất hiện một số mâu thuẫn, như "cung bách môn", "môn bách cung", "kỳ bị chế", "sao phản ngâm", v.v... Nhưng đây là xung đột giữa "cá tính" và "tính chung", là mâu thuẫn nội bộ. Cũng như người Sơn Đông định cư ở Hồ Nam, nay là người Hồ Nam, nhưng giọng nói, thói quen, tính khí... vẫn giữ nguyên đặc điểm của người Sơn Đông. Đặc điểm cá tính này có thể không hòa hợp với môi trường văn hóa, sinh thái của nơi cư trú mới, gây ra những khó chịu, va chạm. Nhưng trước lợi hại của "đại tượng" cung này với cung khác, thì cá tính của tiểu tượng phải phục tòng tính chung của đại tượng. Điển hình nhất là các Thiên Can là Kỳ, Nghi, khi xảy ra xung đột giữa cung và cung, sự sinh khắc của chúng được luận theo ngũ hành của cung mà chúng rơi vào, lúc này ngũ hành của bản thân chúng phải phục tòng cái đại tượng là "cung", đại diện cho cung mà xuất chiến. Ví dụ "Nhật Can" và "Thời Can" mà chúng ta thường dùng, trong cuộc chiến "Ngũ bất ngộ thời", là "cung của Thời Can" khắc "cung của Nhật Can", chứ không phải "Thời Can" khắc "Nhật Can". Vụ đơn vị tư vấn của vị đại sư kia trúng thầu, là "cung của Thời Can" đại diện cho vật đấu thầu (mỏ) sinh cho "cung của Nhật Can" đại diện cho đơn vị tư vấn của đại sư. Nhưng đại sư viết thành "Thời Can sinh Nhật Can, nói rõ có thể lấy được mỏ này". "Thời Can" của cục đó là Mậu, thuộc Thổ; "Nhật Can" là Bính, thuộc Hỏa. Nếu nói thành "Thời Can" sinh "Nhật Can", chẳng hóa ra "Thổ sinh Hỏa" à? Thực tế là Nhật Can Bính rơi vào cung Đoài số 7, ngũ hành của cung đó thuộc Kim; còn Thời Can Mậu rơi vào cung Cấn số 8, ngũ hành của cung đó thuộc Thổ, là "Thổ của cung Cấn" sinh "Kim của cung Đoài". Lúc này "cá tính" của hai can Nhật, Thời đã thu lại, phục tòng thuộc tính của đại tượng là "cung". Nói đến đây, cần đặc biệt nhắc rằng, một số sách cổ và sách của các bậc đại sư hiện đại viết "Nhật Can khắc Thời Can" hoặc "Thời Can sinh Nhật Can" là sai lầm, ít nhất là không chính quy. Bởi vì "Nhật Can" hay "Thời Can" với "cung của Nhật Can" hay "cung của Thời Can" là hai khái niệm khác nhau. Những chữ không nên lược bỏ thì không được lược bỏ, bằng không thì dễ gây lẫn lộn khái niệm! Chẳng khác gì sách lậu!

Sau khi hiểu được đạo lý "tiểu tượng đương tòng đại tượng", một số vấn đề kéo theo cũng được giải quyết dễ dàng. Ví dụ khi luận vượng suy, có sách và bậc đại sư nói: "Vượng suy của cung xem nguyệt lệnh; vượng suy của Kỳ Nghi (Thập Can) xem biểu 'sinh vượng tử tuyệt' của thập can". Sự phân chia cắt khúc như vậy, cộng với việc viết "cung Thời Can" hay "cung Nhật Can" thành "Thời Can" hay "Nhật Can", đã khiến người mới học không biết đâu mà lần! Biết được "tiểu tượng đương tòng đại tượng" rồi, thì hễ đại tượng "lấy cung để luận sinh khắc", chứ không phải lấy "cá tính" của can để luận sinh khắc, dĩ nhiên là phải lấy nguyệt lệnh để luận vượng suy. Khi trong cung xem "mâu thuẫn nội bộ", thì phải lấy "sinh vượng tử tuyệt của thập can" làm chính, kiêm xem nguyệt lệnh (bởi vì vấn đề trong cung cũng bao gồm bản thân cung). Ở đây chỉ lấy Kỳ, Nghi làm ví dụ, còn lại cũng tương tự.

(4) Hợp đạo tiện thị huyền cơ (Hợp với Đạo chính là huyền cơ).
Lão hủ xuyên suốt bài viết đều nói về "hợp đạo", thế nào là Đạo? "Một âm một dương gọi là Đạo", Kinh Dịch đã định âm một cách chắc chắn từ lâu! Lý thuyết Thái cực Âm Dương của Kinh Dịch là quy luật vũ trụ để phân tích sự biến hóa của vạn sự vạn vật trong vũ trụ. Nó cho rằng, biến hóa của vũ trụ đều là kết quả của sự tương tác giữa hai năng lượng lớn Âm và Dương, tức sự tương tác của hai năng lượng lớn Âm Dương trong vũ trụ sinh ra vận động tuần hoàn của các thiên thể, vận động của thiên thể sinh ra sự thay đổi tối sáng, lạnh nóng, từ đó sinh ra sự sống và vạn vật. Mối quan hệ của hai năng lượng Âm Dương thể hiện sự tương sinh và tương khắc; tương khắc thúc đẩy vũ trụ biến hóa phát triển; tương sinh duy trì sự cân bằng biến hóa của vũ trụ; trong quá trình biến hóa của không gian thời gian, hai năng lượng lớn phân bố năng lượng khác nhau trong các không gian lớn của vũ trụ (Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung), lần lượt dùng các ký hiệu Mộc, Hỏa, Kim, Thủy, Thổ để biểu đạt, dùng Thiên Can, Địa Chi để phản ánh vị trí không gian thời gian biến hóa của hai năng lượng lớn, cường độ năng lượng và thuộc tính của chúng. Vạn vật đã được sinh ra từ sự vận hóa âm dương của vũ trụ, ắt nhiên mang trong mình huyết thống cơ bản do mẫu thể ban cho.

Kỳ Môn Độn Giáp chính là dùng phương thức mô phỏng trên bàn thức, để khôi phục tình thế vận động thay thế âm dương của vũ trụ, vạch ra quy luật sinh hóa biến dịch của vạn vật, thông qua "huyết thống cơ bản do mẫu thể ban cho" để xem xét thành bại cát hung của vạn sự vạn vật, từ đó làm rõ sự cư tránh. Các ký hiệu (tượng) trên bàn thức mà chúng ta đoán cục (đọc cục) đối diện có nhiều đến đâu, phức tạp đến đâu, thì cũng đều nằm trong Âm Dương lưỡng nghi! Nắm bắt được Âm Dương lưỡng nghi chính là nắm bắt được cương của việc đoán cục (đọc cục)! Bất kể cung, cửa, sao, thần, kỳ, nghi, hay "chủ", "khách", "đại tượng", "tiểu tượng" v.v... tất cả đều nằm trong Âm Dương lưỡng nghi. Chú ý đến sự tiêu trưởng âm dương của chúng chính là tư duy quan trọng nhất của việc đoán cục (đọc cục)! Nói đến đây, lão hủ không tự lượng sức mình, xin mạn phép bàn sơ qua về "huyền cơ trung cung"!

"Huyền cơ trung cung" – câu nói này được nhiều sách nhắc đến, cũng có nhiều người từng nói. Nhưng rất ít sách và người nói ra được manh mối. Lão hủ thử bàn sơ qua, chỉ là ném viên gạch để mời ngọc mà thôi. Chúng ta hãy xem trước hình Bát quái Thái cực Cửu cung: (xin lỗi không thể tải hình lên) Hai mươi bốn tiết khí phân bố xung quanh theo mỗi cung thống ba tiết (khí), Bát quái phân bố vào tám cung theo bốn chính bốn góc, trung cung Thái cực là Âm Dương lưỡng nghi.

Dịch Nguyên nói: "Lưỡng nghi là trời đất. Trời lấy số một sinh ra Thủy, số ba sinh ra Mộc; Đất lấy số hai sinh ra Hỏa, số bốn sinh ra Kim. Thủy, Hỏa, Mộc, Kim có hình vẻ của chúng nhưng chưa có thực thể, đó gọi là Tượng. Căn cứ vào cái tượng ấy mà nói, cho nên bảo: Lưỡng nghi sinh ra Tứ tượng". Ở đây dùng số trời đất một, hai, ba, bốn để sinh ra thuộc tính ngũ hành của bốn chính Bắc, Nam, Đông, Tây là Thủy, Hỏa, Mộc, Kim. Vậy còn Thổ thì sao?

Đừng vội! Dịch Nguyên còn nói: "Năm là số trung của trời đất, tuy nó là số trời, nhưng thể của nó lại là Thổ, là số đất, bởi vậy, nó có tính chất 'pha trộn bốn hành để thành ngũ hành'". Được rồi, cái "Trung Thổ" này "pha trộn bốn hành để thành ngũ hành", liền làm cho Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ đều đủ cả! Cần lưu ý, ở đây còn chỉ ra đặc điểm của "Trung Ngũ Thổ" là kiêm cả "tính chất của trời và đất". Cái có thể kiêm cả lưỡng nghi trời đất, chỉ có trung cung Thái cực! Đó chẳng phải là trung ngũ cung là đất Thái cực, tính của nó là Thổ sao? Hà Đồ và Lạc Thư là khởi nguồn của Kinh Dịch, mà số trung cung của "Hà, Lạc" đều là năm, có thể thấy cái "Trung Ngũ" này là có vấn đề lớn!

Có người nói "Nguồn gốc của Kỳ Môn vốn từ Lạc Thư, không liên quan nhiều đến Hà Đồ". Về luận điểm này, lão hủ thực sự không dám đồng tình. Vì khuôn khổ có hạn, không bàn những điều khác, chỉ hỏi một câu: Kỳ Môn Cửu cung cộng dọc ngang đều bằng mười lăm, con số kỳ diệu "mười lăm" này là số gì? Đó là số âm dương ngũ hành của Hà Đồ! Số ngũ hành của Hà Đồ là Thủy một, Hỏa hai, Mộc ba, Kim bốn, Thổ năm, cũng gọi là số Tiểu Diễn. Một, ba, năm là số dương, tổng của chúng là chín, cho nên chín là số cực dương. Hai, bốn là số âm, tổng của chúng là sáu, cho nên sáu là số cực âm. Tổng số âm dương hợp lại thành số mười lăm, bởi vậy hóa thành Lạc Thư thì dọc ngang đều là số mười lăm, cho nên "mười lăm kỳ diệu" của Kỳ Môn Cửu cung chính là số âm dương ngũ hành của Hà Đồ vậy. Hà Đồ là Tiên Thiên, Lạc Thư là Hậu Thiên; Hà Đồ là thể, là Âm; Lạc Thư là dụng, là Dương. Hà Đồ và Lạc Thư đã là thể dụng lẫn nhau, thì Kỳ Môn há lại không liên quan đến Hà Đồ? Mà huyền cơ của trung cung Kỳ Môn lại ẩn chứa trong cái "thể" của Hà Đồ!

Số sinh thành vạn vật của Hà Đồ: Trời một sinh Thủy, Đất sáu thành nó; Đất hai sinh Hỏa, Trời bảy thành nó; Trời ba sinh Mộc, Đất tám thành nó; Đất bốn sinh Kim, Trời chín thành nó; Trời năm sinh Thổ, Đất mười thành nó. Ở đây một, hai, ba, bốn, năm là số sinh. Sáu, bảy, tám, chín, mười là số thành. "Sinh" là sự nảy mầm, bắt đầu của vạn sự vạn vật. "Thành" là sự hình thành, kết quả của vạn sự vạn vật. Xin lưu ý, ở đây cho chúng ta biết một bí mật: sau khi sự vật "nảy mầm, bắt đầu", gặp "năm" mới có thể "thành", không có "năm" thì không "thành". Ví dụ: "Trời một sinh Thủy, Đất sáu thành nó", cái "một" này là số sinh, gặp "năm" mới thành số thành là "sáu". "Đất hai sinh Hỏa, Trời bảy thành nó", số sinh "hai" cộng với "năm" mới thành số thành "bảy"... những cái khác cũng suy ra tương tự. Cho nên Dịch Nguyên nói: "Năm, là cái xung của sự sinh thành trời đất, là khởi đầu của biến hóa"! Ngoài ra, số lẻ là Dương, là Trời. Số chẵn là Âm, là Đất. Cơ chế sinh thành này còn cho chúng ta biết, sự vật bắt đầu từ Âm ắt thành Dương, bắt đầu từ Dương ắt thành Âm, tất cả đều do cái "Trung Ngũ" này vậy! Bởi vậy, "Trung Ngũ" là cơ hội biến hóa, cơ hội thành bại, cơ hội sinh tử! Người diễn bố Kỳ Môn nếu có thể ngộ ra được huyền cơ trong đó, lại biết vận dụng linh cơ một cách diệu dụng thì đối với đoạn cục thực sự có thể gọi là "kỳ diệu vô cùng"!

Nói đến đây, chẳng ngại lấy lại cục của vị đại sư đã nhắc đến ở trên làm ví dụ. Trước hết hãy ôn lại "ba cung một đường" đã bàn ở trên:

"Trực Phù (Cục Đất đai) cung Khôn số 2 — Trung Ngũ cung (mối quan hệ với Giáp Tý Mậu đã nói ở trên) — Giáp Tý Mậu (vật đấu thầu (mỏ) và đối thủ cạnh tranh) cung Cấn số 8. 'Khôn, Trung, Cấn' ba cung một đường, đều thuộc Thổ".

Được rồi, bây giờ chúng ta hãy làm một trò chơi:

Trung Ngũ cung là đất Thái cực trung ương, nên là lớn nhất (lão đại). Cung Khôn số 2 Trực Phù (Cục Đất đai) nên là lớn thứ hai (thứ đại). Cung Cấn số 8 Giáp Tý Mậu (vật đấu thầu và đối thủ cạnh tranh) là nhỏ nhất. Bắt giặc phải bắt vua trước, chúng ta hãy bắt trước số cung của lão đại "Trung Ngũ cung" — "năm"; sau đó bắt số cung của "cung Khôn số 2" lớn thứ hai — "hai"; cuối cùng bắt số cung của "cung Cấn số 8" nhỏ nhất — "tám". Nối ba số cung đã bắt được lại với nhau sẽ thành "năm hai tám". Có người có thể hỏi "số 'năm hai tám' này là số gì"? Hì hì, nói cho bạn biết, đó chính là con số "một tiếng búa cuối cùng" sau khi vật đấu thầu (mỏ) với giá khởi điểm vài chục vạn được đấu giá lên — năm trăm hai mươi tám vạn (nhân dân tệ), không hơn một xu, không kém một xu! Điều này có phải là ngẫu nhiên không?

"Huyền cơ trung cung" không chỉ dừng lại ở đây, trên đây chỉ là ví dụ. Tuy nhiên, cơ huyền có thế nào cũng không thể rời khỏi cương lĩnh tổng thể là "Âm Dương lưỡng nghi", bởi vì đó là "Đạo", "hợp đạo chính là huyền cơ"!

Được rồi, trò chơi kết thúc, bài viết của lão hủ cũng kết thúc ở đây. Hì hì, chơi Kỳ Môn thì nên coi như chơi trò chơi, đừng quá nghiêm túc!

--- (Hết toàn bộ bài viết) ---