Danh tác Kỳ Môn Độn Giáp: Đại Ất Kim Kính Thức Kinh
Danh tác Kỳ Môn Độn Giáp: Đại Ất Kim Kính Thức Kinh
(Thái Ất Kim Kính Thức Kinh)
Giới thiệu chung
Sách do Vương Hy Minh đời Đường soạn. Vương Hy Minh, người đời Khai Nguyên nhà Đường, làm quan nội cung phụng dưỡng với nghề thuật số, từng phục vụ trong Hàn Lâm viện. "Đại Ất Kim Kính Thức Kinh" do Hy Minh phụng mệnh biên soạn, được ghi chép trong "Tân Đường Thư - Nghệ Văn Chí". Tuy nhiên, trong sách có tính đến năm Cảnh Hựu đầu đời Tống, chứng tỏ đã được người đời sau bổ sung thêm.
Cuốn sách này thuộc về phái Thái Ất trong bảy nhà thuật số, là dòng di truyền của kinh vĩ (sách thiên văn, lịch số thời cổ). Sách mô phỏng theo Dịch lịch, lấy Thái Cực sinh Nhị Mục, Nhị Mục sinh Tứ Phụ. Lại có Kế Thần, hợp với Đại Ất thành Bát Tướng. Trong đó lấy năm, tháng, ngày, giờ làm cương, lấy Bát Tướng làm vĩ, suy diễn các hiện tượng Yểm, Thôi, Vi, Kích, Quan, Cách... để xem xét tai phúc trong ngoài; lại suy Tứ Thần lâm tại khu vực nào để xem xét hạn hán, binh lửa, dịch bệnh; lại suy Tam Cơ, Ngũ Phúc, Đại Tiểu Du, Nhị Hạn, Đại Vận để xem xét trị loạn xưa nay. Vì lời lẽ hư vọng, chứng cứ nhiều sai lầm nên đã bị Lưu Hâm, Hoàng Tông Hy... phản bác. Sách này hiện chỉ còn trong "Tứ Khố Toàn Thư", nay dựa theo bản này mà hiệu đính.
Lời tựa "Thái Ất Kim Kính Thức Kinh"
Thái Ất là vị thần của Trời Đất, dưới cai quản Cửu Cung, giữa xây dựng Hoàng Cực. Kính thuận theo thì phép tắc được sắp xếp, lười bỏ ba chính thì năm thường sai lệch. Hoàng Đế nhờ hối lỗi mà được lành, nên thành bậc thánh trong Ngũ Đế; Đại Vũ răn theo điều ngược dữ mà diễn ra văn tự Cửu Trù. Hán Cao Tổ chịu mệnh, Trương Lương giấu lục ghi dao vàng; Ngô chủ tranh quyền, Lưu Huyên diễn điềm lành cờ lửa. Thần dùng vào chỗ lặng thinh, hóa ở nơi vô vi. Đóng cửa mà họa phúc tự hiện, lau gương mà tóc tơ đều rõ. Nếu không phải bậc tinh thông vi diệu, cầm then khóa ở buổi hỗn nguyên, thì sao có thể biết được?
Yêu mến phát từ thượng nguyên, cho đến nay, mấy ngàn năm có một bậc thánh, mấy trăm năm có một bậc hiền. Được góc nhìn đẹp như rồng lên, dòm khóa ngọc mà tưởng ngăn cách. Lượn sóng một mình, ra biển cả chẳng về, xét nguồn cùng cội, tựa vực thẳm Mạnh Môn. Về phần kế thần xem vật, trời sao xét việc gian, số đặt tướng một ba, khí đối tuyệt bốn sáu, đơn côi khắc chế, mười tinh bế môn. Giao hòa so với tám tiết xem hạn hán, chín châu nói cát hung, năm tướng định chủ khách, cũng như thắng bại trong binh đao. Khâu Minh nhận kinh làm truyện, thấy không bằng Công Dương; Tử Hạ theo thánh tựa kinh, lại khác Mao, Lỗ. Học rồi thường ôn luyện, công kích dị đoan; khóa miệng người khác, chưa quên cái dốt của mình. Dùng trống đo biển, dùng ống ngó trời; ngoài cái thấy, lòng ngu cho là hết. Hoặc chỉ bày thực lục, hoặc đặt tên đẹp. Chính hai cục, có phân âm dương; sửa lục nhâm, kèm cái sai của thời kế. Hoài Nam phân dã, tuy rộng học mà nghe nhiều; Hoàng Đạo nhật triền, ganh có nghi thì bỏ. Nguồn thì rộng, cành lá sum xuê. Áo lông cùng thói dâng cỏ, ngọc đá đánh chim khách núi Côn Sơn. Dù ức lần cũng đúng, thời tự cho là hơn Trọng Ni, nhưng mưu chẳng tốt, lại đổ lỗi cho Quý Thị. Vương Đại Thực bèn bỏ thói hư, việc nước phần nhiều tự hổ thẹn.
Kính mong Bệ hạ Hoàng đế Khai Nguyên, bậc sáng suốt xét điều ngờ, thánh trí làm khuôn mẫu, soi sao để chỉnh bảy mối, chế lễ nhạc để hòa trăm việc, rõ uy thần của Thái Ất, việc phong Thái Sơn, vời xem muôn thuở danh ngôn. Bảo rằng thần may nhờ trời đất che chở, cõi rộng đượm vươn, tham dự việc ban thưởng vàng ngựa, xem sách quý trong đài các. Thấy cuốn "Thức Kinh" này, có chỗ sai ý chỉ. Bèn trên khảo thiên tượng, giữa xét tính toán, dưới thống nhân sự, ngang xuyên tuế thời, khảo điềm trước theo phù của Thần Nữ, trải qua kỷ theo bút lông Thương Hiệt, số cuối của Giáp Ất, vòng lặp của cung nguyên, hai toán cơ ngẫu, tám môn thắng bại, cùng với lỗi phép tắc của người, sai mất của trận đồ thủy hỏa, luận về lễ nhạc chẳng hưng, văn cuồng giản của Chu Vũ, hoặc nghĩa thông thì theo dòng, hoặc lý lạc thì bỏ, đều khảo theo kinh, lấy một xâu chuỗi. Êm đẹp như hoa lan, trong như ngọc chấn. Thơ với Huệ Liên, bèn được câu hay; bút nhạc Quảng, liền thành văn hay. Muôn khác đều cùng về một mối, riêng thấy quên lời mà đã nghiệm. So theo nguyên kỷ, lại tinh theo ngày giờ. Thay mưu trước khi thuật, tổng kết giữa trời người. Hứng cái diệu của xem lướt, động hợp như thần, cũng là việc lớn của muôn đời.
Sách gồm mười quyển, đặt tên là "Thái Ất Kim Kính Thức Kinh". Nếu chép sau Khổng Minh dùng hiền, thì Tử Phòng lên đường, Phong Hậu vào phòng, Tống Côn, Nhạc Sản, Lý Thuần Phong thuộc, có thể ngồi dưới mái hiên, như bảo lời anh quá. Sẽ đợi người sau sáng suốt.
Chú thích của Tinh Quang: "Bổ chính Tứ Khố Toàn Thư Tổng Mục Đề Yếu" ghi: "Thái Ất Kim Kính Thức Kinh" mười quyển, lấy năm, tháng, ngày, giờ làm cương, Bát Tướng làm vĩ, Tam Cơ, Ngũ Phúc, Thập Tinh v.v. làm kinh, cũng giống như lịch vậy. Phép của nó dùng Bát Tướng để suy các loại Yểm, Thôi, Tù, Kích, Quan, Cách... xem tai phúc trong ngoài, lại suy Tứ Thần lâm ở phân dã để xem hạn hán, binh lửa, mất mùa, dịch bệnh; lại suy Tam Cơ, Ngũ Phúc, Đại Tiểu Du, Nhị Hạn (ứng với quẻ dịch) Đại Vận để xem xét trị loạn xưa nay.
Du Chính Tiết trong "Quý Tị Loại Toản" - "Thập sử ký dụng cái thiên luận" nói: "Hồn thiên có nghĩa 'Cơ'... vạn vật gốc rễ cơ, Từ Quảng bản viết 'Hoành', vậy hoành không phải là cơ không nghi ngờ. Quân cơ, thần cơ, dân cơ trong mười vị thần của Đại Nhất, Thẩm Quát trong 'Mộng Khê Bút Đàm' nói là chữ 'Cơ', vì kiêng húy đời Đường nên đổi thành 'Kỳ'... Năm Hi Ninh, quan Thái sử muốn sửa nhưng chưa thể. 'Vân Lộ Mạn Sao' cũng nói mười vị thần là quân cơ, dân cơ. Đường Minh Hoàng kiêng húy nên đổi thành 'Kỳ', nay vẫn chưa đổi, sở thấy trong 'Thái Ất Đào Kim Ca' của Khâu Tuấn đã sửa thành 'Cơ', nhưng vẫn chưa nghĩ kỹ." Lại trong "Cửu Cung Kỷ Niên Luận" nói: "Thái Ất Kim Kính Thức Kinh" nói: Mười vị thần Thái Nhất, Ngũ Phúc, Quân Kỳ, Đại Du, Tiểu Du, Thiên Nhất, Địa Nhất, Tứ Thần, Thần Kỳ, Dân Kỳ, Trực Phù, đều là tôn thần của trời, đi qua năm cung, năm lần chuyển thì hết một vòng. "Mộng Khê Bút Đàm" thì nói: Tiểu Du là Thái Nhất, Tứ Thần là Thập Thần, Trực Phù là Cửu Khí, ba năm chuyển một lần." Lại nói: "Kỳ nên là Cơ. Xét phép của nó: Quân cơ, thần cơ, dân cơ đi 12 lần trời, một lần đi 12 cung, hoặc đi bát quái, hoặc đi 16 thần, không thể nói chung là đi 5 cung, 5 lần chuyển là hết vòng." Dưới đó bàn luận chi tiết các phép: có phép một tháng chuyển một lần, một năm chuyển một lần, ba năm chuyển một lần, 45 năm chuyển một lần, không ghi lại.
Đời Nguyên, Hiểu Sơn Lão Nhân trong lời tựa "Thái Ất Thống Tông Bảo Giám" có viết: "Thái Ất, lý ẩn trong số, số hiện ngoài lý, chủ quản Tam Nguyên, phân bố bốn phương." Từ đó mà xem, Thái Ất chủ dùng "số" để hiển bày lý lẽ, tức là diễn số, lý lẽ hiện rõ trong sự lưu hành của Thái Ất. Và vị thần "Thái Ất" cũng giống như các thuật số khác, là điểm khởi đầu của sự suy tính, như người dẫn đầu, thống lĩnh 16 vị thần, để biết việc mưa nắng, hạn hán, binh lửa, đói kém. Thế nào là 16 vị thần? Lấy 12 lần trên trời phối với 12 địa chi dưới đất, lấy bốn mùa trên trời phối với bốn góc đất, thông là 16.
Nội dung "Kim Kính Thức Kinh"
Quyển 1: Phép suy Thượng nguyên tích niên
Từ thượng nguyên đến nay, năm đời xa xôi, phép kỷ sai khác. Dù đặt lời rườm, đủ mà không dùng. Nay từ Thượng nguyên Giáp Tý đến năm Giáp Tý đời Khai Nguyên thứ 12 nhà Đường, cộng trước được 40.800 (bốn vạn không trăm tám mươi) số tính. Thần (tác giả tự xưng) cho rằng Tống Côn đặt nguyên, như trẻ con chơi. Cầu tìm năm kỷ của người, dưới không được ngày giờ, trên không được ngày Đông Chí. Tự hơn ba trăm năm, người học sao nhiều, đến Lý Thuần Phong, cũng chỉ bắt chước sai mà thôi. Thần nay sửa riêng lịch pháp Tứ phân, lấy niên hiệu Giáp Tý làm nguyên, cùng với Thái Ất đồng nguyên. Đem ra dùng đủ, được thượng nguyên Giáp Tý Đông Chí; kéo xuống dưới, đều khoảng cách năm tính Thái Ất hành cung. Tiến không trái với Tứ phân, lùi không mất nguyên kỷ. Từ thượng nguyên thời Hỗn Độn năm Giáp Tý, đến nay đời Đường Khai Nguyên năm thứ 12 năm Giáp Tý, tích được 1.937.281 (một trăm chín mươi ba vạn bảy nghìn hai trăm tám mươi mốt) số tính. Xét cổ, mỗi năm giảm một số; xét tương lai, mỗi năm thêm một số.
Phép suy Thái Tuế sở tại
Đặt số tích niên từ Thượng nguyên Giáp Tý, lấy 360 (ba trăm sáu mươi) khử đi; không hết, lấy 60 khử đi; lại không hết, lấy Giáp Tý làm đầu (toán ngoại), tức là năm Thái Tuế ở cung nào.
Phép suy vào Lục Kỷ Tam Nguyên (ba không?)
Đặt số tích niên từ thượng nguyên đến năm cần tìm, lấy Chu Kỷ pháp 360 khử đi; không hết, lấy Kỷ pháp 60 khử đi, số được là số kỷ; không hết, là số năm vào kỷ.
Phép tích Thái Ất sở tại
Đặt số tích niên thượng nguyên, lấy Chu Kỷ pháp 360 khử đi; không hết, lấy Nguyên pháp 72 khử đi; lại không hết, lấy Thái Ất Tiểu Chu pháp 24 khử đi; lại không hết, lấy 3 rút gọn, được số cung; số còn lại không đầy, là số năm vào cung kể từ khi vào cung. Số cung ấy khởi từ cung 1, đi thuận qua 8 cung (không qua cung 5 Trung), toán ngoại, tức được vị trí Thái Ất ở cung nào và số năm đã vào cung.
Phép suy Thiên Mục sở tại
Đặt số tích niên, lấy Chu Kỷ pháp khử đi; không hết, lấy Nguyên pháp 72 khử đi; không hết, lấy Thiên Mục Chu pháp 18 khử đi; số còn lại không đầy, khởi từ Vũ Đức, đi thuận qua 16 thần, gặp Vũ Đức, Đại Vũ thì lưu lại một số (trùng), toán ngoại, tức là vị trí Thiên Mục.
Phép suy Kế Thần sở tại
Đặt số tích niên, lấy Kỷ pháp 60 khử đi; không hết, khởi từ cung Dần, đi ngược 12 địa chi, toán ngoại, tức là vị trí Kế Thần.
Phép suy Thái Tuế chi hợp thần
Ví dụ Thái Tuế ở Tý, hợp thần ở Sửu, đi ngược 12 chi, 12 năm một vòng trời.
Phép lập tháng theo Lục Kỷ
Kỷ thứ nhất: Nhị Giáp trọng thần (Giáp Tý, Giáp Ngọ). Tháng 11 lập Giáp Tý, Thái Ất ở cung 1, Vũ Đức làm Thiên Mục, Kế Thần ở Dần, hợp thần ở Sửu.
Kỷ thứ hai: Nhị Kỷ mạnh thần (Kỷ Tỵ, Kỷ Hợi). Tháng 11 lập Giáp Tý, Thái Ất ở cung 6, Địa Chủ làm Thiên Mục, Kế Thần, hợp thần như trên.
Kỷ thứ ba: Nhị Giáp quý thần (Giáp Thìn, Giáp Tuất). Tháng 11 lập Giáp Tý, Thái Ất ở cung 1, Đại Linh làm Thiên Mục, Kế Thần, hợp thần như trên.
Kỷ thứ tư: Nhị Kỷ trọng thần (Kỷ Mão, Kỷ Dậu). Tháng 11 lập Giáp Tý, Thái Ất ở cung 6, Vũ Đức làm Thiên Mục, Kế Thần, hợp thần như trên.
Kỷ thứ năm: Nhị Giáp mạnh thần (Giáp Thân, Giáp Dần). Tháng 11 lập Giáp Tý, Thái Ất ở cung 1, Địa Chủ làm Thiên Mục, Kế Thần, hợp thần như trên.
Kỷ thứ sáu: Nhị Kỷ quý thần (Kỷ Sửu, Kỷ Mùi). Tháng 11 lập Giáp Tý, Thái Ất ở cung 6, Đại Linh làm Thiên Mục, Kế Thần, hợp thần như trên.
Tổng cộng 36 kỷ. Ba mươi năm có 360 tháng, bởi vậy Giáp Tý, Giáp Ngọ cùng lập, Thái Ất, Thiên Mục, Kế Thần, Hợp Thần dùng phép thức như phép tính năm, xem nghiệm và suy xét, ý nghĩa cũng tương đương. Thần nay vì Lý Thuần Phong định giờ, tính 5 ngày 60 giờ. Phép cho rằng tháng, tính 5 năm 60 tháng, 30 năm có 360 tháng. Nếu có tháng nhuận, chỉ lấy giờ khắc của tiết khí từng tháng làm chuẩn.
Phép suy sai số tháng của Thái Ất
Chương tuế: 657
Chương nguyệt: 8726
Nhuận sai: 20 giây 27
Chu Kỷ pháp: 360
Giây pháp: 200
Phép tích nguyệt
Đặt số tích niên, lấy năm cần tìm nhân với Chương nguyệt. Chia cho Chương tuế, được tích nguyệt; số dư là nhuận dư. Nếu có tháng dư, theo số mà thêm vào.
Phép tìm tháng nhuận
Đặt nhuận dư, mỗi tháng thêm nhuận sai và giây, đủ pháp thì cộng vào nhuận dư, hoặc 630 giây trở lên, nếu không có trung khí thì xem xét.
Phép suy Thái Ất nguyệt kế sở tại
Đặt tích nguyệt, lấy Chu Kỷ pháp 360 khử đi; không hết, lấy Nguyên pháp 72 khử đi; lại không hết, lấy Thái Ất Tiểu Chu pháp 24 khử đi; không hết, lấy 3 rút gọn, được số cung; số còn lại không đầy, là số tháng vào cung. Khởi từ cung 1, đi thuận 8 cung, không qua cung 5 Trung, toán ngoại, tức là vị trí Thái Ất trong nguyệt kế.
Phép suy Thiên Mục sở tại (tiếp theo)
Đặt vào nguyệt kỷ, lấy Thiên Mục Chu pháp 18 khử đi; số còn lại không đầy, khởi từ Vũ Đức, đi thuận qua 16 thần, gặp Âm Đức, Đại Vũ thì lưu lại một số (trùng), toán ngoài, tức là vị trí Thiên Mục vậy.
Phép suy Kế Thần sở tại
Đặt tích nguyệt, lấy Kỷ pháp khử đi; số không đầy, lấy Chu pháp 12 khử đi; không hết, khởi từ Dần, đi ngược 12 địa chi, toán ngoài, tức là vị trí Kế Thần vậy.
Phép suy sai số Nhật kế
Nhật pháp: 49
Nguyệt pháp: 2447
Sóc sách: 29
Tiểu dư: 26
Kỷ pháp: 60
Phép tích nguyệt sóc
Đặt tích nguyệt, lấy Nguyệt pháp nhân với nó, chia cho Nhật pháp, được tích nhật; số không hết là Tiểu dư. Lấy Kỷ pháp chia tích nhật, số không đầy là nguyệt dư. Khởi từ Giáp Tý, toán ngoài, tức được ngày sóc và Tiểu dư của tháng 11 (Chính Nguyệt) theo lịch thiên chính trong năm cần tìm. Nếu còn có số dư ngày, theo số mà thêm vào. Để tìm tháng tiếp theo, mỗi tháng thêm 29 ngày, Tiểu dư 36, mỗi phép cộng theo đó mà tìm. Đối với ngày Huyện, ngày Vọng (trăng non, trăng tròn), tính như Đại Lịch, không phải điều cần thiết ở đây.
Thần (Vương Hy Minh) xét rằng: Năm Giáp Thân thứ 3 đời Lương Vũ Đế (504 SCN), vua Lương Vũ Đế gọi Thái sử Ngu Lý, Nhạc Mậu nói: "Hôm nay Thái Ất ở cung 8, Hòa Đức làm Thiên Mục, Văn Xương tướng ở ngoại cung, áp bách nhẹ, không có gì đáng sợ." Rút lui, vua nói với mọi người: "Ngoại cung áp bách, là do người ngoài áp bách. Bốn mươi năm sau, vào năm Thìn Tỵ, sẽ giống như năm Đại Hanh của Tề Hoàn Công." Thần đem Nhật kế Thái Ất mà cầu, tích đến ngày mồng 8 tháng 6 năm Giáp Thân thứ 3 đời Lương Vũ Đế, phàm được 707.501.061 ngày. Lấy Chu Kỷ pháp 360 chia, được 1.965.280; dư 261, lấy Tiểu Kỷ pháp 60 chia, được 4; dư 21, tức là vào Kỷ thứ 5.
Phép suy Kế Thần trong thời kế Âm, Dương nhị độn
Đặt thời thực, mỗi lần lấy 12 khử đi, số dư; dương độn khởi từ Dần, đi ngược 12 địa chi; âm độn khởi từ Thân, đi ngược 12 địa chi, mỗi một thời (một canh giờ) dời một số, toán ngoài, tức là vị trí Kế Thần của Âm độn và Dương độn vậy.
Phép suy Thái Ất Đương thời pháp
Tính độ số của ngày sau Đông Chí và Hạ Chí, cộng với vị trí của giờ, đặt vào địa chi của giờ. Rõ Thái Ất, Thiên Mục loại thời kế chung pháp, lập Thiên Ất trong Ngũ Tướng thức, sáng tối trị thần.
Ngày Giáp: sáng trị Tiểu Cát, tối trị Đại Cát; ngày Mậu, Canh thì ngược lại.
Ngày Kỷ: sáng trị Thần Hậu, tối trị Truyền Tống; ngày Ất thì ngược lại.
Ngày Đinh: sáng trị Đăng Minh, tối trị Tòng Khuê; ngày Bính thì ngược lại.
Ngày Quý: sáng trị Thái Ất, tối trị Thái Xung; ngày Nhâm thì ngược lại.
Ngày Tân (Lục Tân): sáng trị Công Tào, tối trị Thắng Quang.
Không xét đến hai chi Quỷ (Tuất), Cương (Thìn). Tuất là Thiên Ngục, Thìn là Thiên Đình, không phải chỗ quý nhân ở. Chỗ lão tướng ở, dùng để suy cát hung dựa vào việc trao giết.
Thiên Ất (quý thần Thổ): chủ quý nhân, tiếp dẫn, thăng tiến, vương tướng: cát; tù tử: hung.
Trước nhất Đằng Xà (Hỏa): chủ kinh hoàng, chiến đấu: hung.
Trước nhị Chu Tước (Hỏa): chủ văn thư, khẩu thiệt, y vật: hung.
Trước tam Lục Hợp (Mộc): chủ phàm việc hòa hợp, hôn nhân: cát.
Trước tứ Câu Trần (Thổ): chủ câu lưu, chiến đấu: hung.
Trước ngũ Thanh Long (Mộc): chủ thiên quan, tiền tài, hôn nhân: cát.
Sau nhất Thiên Hậu (Thủy): chủ tế nặc, phụ nữ dâm loạn.
Sau nhị Thái Âm (Kim): chủ âm nhân cầm việc: cát.
Sau tam Huyền Vũ (Thủy): chủ đạo tặc, mất mát tài vật: hung.
Sau tứ Thái Thường (Thổ): chủ tài vật, kim ngọc, tửu thực: cát.
Sau ngũ Bạch Hổ (Kim): chủ tử vong, khóc lóc, binh khí, đường sá: hung.
Sau lục Thiên Không (Thổ): chủ vạn vật khi dối, nô tì lừa gạt: hung.
Thần Hy Minh cho rằng: thuật số lập thời kế và Ngũ Tướng cũng chưa thể quyết định được cát hung của Đại tướng và Tiểu tướng, lại thêm ngày độ cộng với giờ. Nhờ bước lục nhâm thức, biết được sự thành bại của Thiên Ất. Các chủ tướng, khách tướng nào ở dưới các vị thần tốt này thì cát; nếu ở dưới thần xấu thì hung; nếu cửa đủ, tướng phát mà gặp thần tốt thì đại cát; nếu cửa đỗ bế tắc gặp thần xấu thì trước cát sau hung; nếu cửa đỗ bế tắc gặp thần tốt thì cố thủ đại lợi.
Ví dụ: Ngày mồng 5 tháng 10 (âm lịch), giờ Mậu Dần, vào tiết Lập Đông, thuộc Lục Âm độn ngày, vào cục thứ 27, thuộc nguyên Nhâm Tý của Kỷ thứ 6. Thái Ất ở cung 9, Đại Vũ làm Thiên Mục, giờ Ngọ làm Kế Thần, Kỷ làm Hợp Thần. Chủ toán được 29, Chủ đại tướng ở cung 9, Chủ tham tướng ở cung 7. Lấy Kế Thần đặt vào cung Hòa Đức, dưới Thiên Mục lâm Cao Tùng Mão, khách toán được Đơn 4, khách đại tướng ở cung 4, khách tham tướng ở cung 2. Nhờ bước Thiên Ất thức, Lập Đông ngày 6, mặt trời ở tâm tú, cộng với giờ Dần, ngày Canh, Thiên Ất sáng trị Đại Cát. Thái Ất ở dưới Thanh Long, Chủ đại tướng ở dưới Thanh Long, Chủ tham tướng ở dưới Thái Thường, khách đại tướng ở dưới Lục Hợp, khách tham tướng ở dưới Thiên Định. Nhìn vào đó, cát hung của các tướng đã định rõ. Dù có sai khác nhỏ, chưa thể lấy gần mà được.
Phép suy Thái Ất Huyền Mệnh
Thiên tử (Vua) huyền mệnh ở Thiên Ất.
Hoàng hậu huyền mệnh ở Thiên Hậu.
Công hầu huyền mệnh ở Thái Thường.
Tướng quân huyền mệnh ở Câu Trần.
Cửu mục (quan chín châu) huyền mệnh ở Đằng Xà.
Thường thị (hoạn quan) huyền mệnh ở Thiên Không.
Nhị thạch (quan hai nghìn thạch) huyền mệnh ở Thanh Long.
Đại phu, lại sĩ huyền mệnh ở Chu Tước.
Thứ nhân huyền mệnh ở hành niên.
Phép suy Thái Công khảo thời
Có Thái Ất bên trái Thiên Nhật. Ví dụ Thái Ất ở cung 1, Thiên Mục lâm cung 3, là bên phải Thái Ất, bên trái Thiên Mục, âm dương hòa thuận, trên dưới không có Yểm, Kích, Biên, Tù, Quan, Cách, Đối, và không tương bốn khẩu, Quách cố, Đỗ, lại không Đề Hiếp, Thái Ất không ở chỗ thuần tuyệt, thần tướng độc lập, cát đạo thanh hư. Cát đạo là ba môn Khai, Hưu, Sinh; thanh hư là cửa không có thần ác hung. Thì ba môn đủ, năm tướng phát, lợi để xuất binh, lại hợp với huyền mệnh, vương tướng hiếp hòa. Ví dụ Thiên tử huyền mệnh ở Thiên Ất, lâm tại quê vượng tướng, trên dưới tương sinh, nên gọi là hợp. Ất trực sử, trước ba năm, sau bốn hai, hợp thì đại cát.
Phép dụng Bát Môn
Trương Lương nói: Dương độn, Đông Chí, ngày Giáp Tý, nửa đêm, giờ Giáp Tý trở đi, Khai Môn làm trực sử; ngày Bính, giờ Ngọ, giờ Giáp Ngọ trở đi, Sinh Môn làm trực sử; ngày Kỷ, nửa đêm, giờ Giáp Tý trở đi, Kinh Môn làm trực sử; ngày Tân, giờ Ngọ, giờ Giáp Ngọ trở đi, Hưu Môn làm trực sử, 30 giờ dời môn. Âm độn, Hạ Chí, ngày Giáp Tý nửa đêm giờ Giáp Tý trở đi, Đỗ Môn làm trực sử; ngày Bính, giờ Ngọ, giờ Giáp Ngọ trở đi, Tử Môn làm trực sử; ngày Kỷ, nửa đêm, giờ Giáp Tý trở đi, Thương Môn làm trực sử; ngày Tân, giờ Ngọ, giờ Giáp Ngọ trở đi, Cảnh Môn làm trực sử, 30 giờ dời môn một lần. Thường lấy trực môn đặt vào Thái Ất, và chủ đại tướng, khách đại tướng theo số mà đi. Thái Ất ba giờ dời một lần, đại tướng một giờ dời một lần. Thần Hy Minh nay: Thái Ất khi mới đến Đông Chí, Hạ Chí, môn thì theo số mà khởi, hết giờ thì dời, không câu nệ vào các ngày Giáp, Bính, Kỷ, Tân nữa. Dương độn có bốn môn: Khai, Sinh, Kinh, Hưu; Âm độn có bốn môn: Đỗ, Tử, Thương, Cảnh.
Phép suy môn trực khi Đông Chí cộng giờ
Thần Hy Minh nay đặt thiên chính thời thực, lấy 240 khử đi; không hết, lấy 120 khử đi; không hết, lấy 30 rút gọn, được số môn. Khởi từ Khai Môn, theo thứ tự mà đi, tức được môn trực khi Đông Chí cộng giờ vậy.
Phép suy lịch trực môn khi Hạ Chí cộng giờ
Đặt Hạ Chí thời thực, lấy 120 khử đi, số không hết, lấy 30 rút gọn, được số môn. ... (có chỗ khuyết) ... mà đi, tức được môn trực khi Hạ Chí cộng giờ vậy.
Phép suy Bát Môn chiếm tuế kế
Lý Thuần Phong nói: Thường lấy Khai Môn đặt vào Thái Ất, tức là bát môn của Thái Ất. Lại lấy Khai Môn đặt vào chủ đại tướng, tức là bát môn của chủ đại tướng. Lại lấy Khai Môn đặt vào khách đại tướng, tức là bát môn của khách đại tướng. Lại lấy Khai Môn đặt vào Định Kế đại tướng, tức là bát môn của Định Kế đại tướng. Vốn là Thái Công khảo tuế kế định bát môn, lập ngũ tướng. Lại nói: Bát môn của khách và chủ hợp với ba môn Khai, Hưu, Sinh của Thái Ất thì đại lợi. Thái Ất, Thiên Mục ở dưới ba môn chủ, khách thì bế tắc không thông. Nay nói: Bát môn của khách, chủ hợp với ba môn Khai, Hưu, Sinh của Thái Ất thì đại lợi. Thần nay lập riêng thuật mới, đặt số tích niên từ Thượng nguyên Giáp Tý đến năm cần tìm, cầu tuế kế bát môn, lấy Đại Du Kỷ pháp 720 khử đi; không hết, lấy Tam phân Kỷ pháp 240 khử đi; dư lấy 30 rút gọn, được số trực môn; không hết, tức là năm vào cửa trực. Khởi từ Khai Môn, theo thứ tự Hưu, Sinh môn, đi sang trái qua 8 môn, hết vòng lại tiếp. Ví dụ: nay năm Khai Nguyên thứ 12 (đời Đường) năm Giáp Tý, tức Khai Môn làm trực sử, đến năm thứ 31 (năm Giáp Ngọ) tức Hưu Môn làm trực sử, những trường hợp khác đều theo đó.
Thái Ất Kim Kính Thức Kinh, Quyển 2
Phép suy Thái Ất sở tại
Truyện rằng: Thái Ất là thần của Trời Đất, chủ sai khiến 16 vị thần, biết các nước về mưa gió, hạn hán, binh lửa, đói kém, dịch bệnh, tai họa. Thường xem xét, đi thuận 8 cung, không vào cung 5 Trung, ba năm dời một cung.
Năm thứ nhất trị Trời: điều hòa nhật, nguyệt, tinh thần, khiến cho thất diệu không sai độ, để sáng tỏ thiên đạo. Nơi lâm đến, nhờ thiên đạo mà đi, thì được xét nghiệm trị Trời.
Năm thứ hai trị Đất: điều hòa bốn khí, tám gió, khiến cho mưa gió không sai thời tiết, để sáng tỏ địa đạo. Nơi lâm đến, không làm việc thổ mộc, sai khiến dân chúng, làm hại mùa màng, thì được xét nghiệm trị Đất.
Năm thứ ba trị Dân: khiến cho vua tôi, cha con, già trẻ không mất trật tự, để sáng tỏ nhân đạo. Nơi lâm đến, tiến dùng trung lương, xem xét kiện tụng, thương xót cô quả, thì được xét nghiệm trị Dân.
Cổ nhân dùng Thái Ất để xem xét trị thiên hạ. Nếu nước vô đạo, vua thất lễ, cậy can qua mà xâm phạm bừa bãi, thì sẽ có binh tai, hạn hán, đói kém, lưu vong để thi hành sự phạt. Nếu giữ đạo yên dân, ngừng binh cấm bạo, thì ngũ vĩ không sai độ, bốn dân không mất nghiệp. Cho nên Kinh nói: Nước mà Thái Ất lâm đến, có đạo thì hưng thịnh, vô đạo thì tai ương. Nhạc Sản nói: Có thể làm cho nhật nguyệt không sáng, ngũ vĩ sao chổi hiện, núi lở sông cạn, nước cuộn đê vỡ.
Phép suy Ngũ Tướng sở chủ
Ngũ Tướng là: Giám tướng của Thái Ất, cùng với Thượng hạ nhị mục, chủ khách đại tiểu tướng.
Giám tướng: tinh Thái Tuế phương Đông, chịu chính khí của Mộc đức, vượng vào ba tháng mùa Xuân.
Thượng mục: tinh Huỳnh Hoặc phương Nam, chịu chính khí của Hỏa đức, ở trên trời là Dương, hiệu là Thức Kích tướng, thuộc về khách, vượng vào ba tháng mùa Hè.
Hạ mục: tinh Trấn Tinh ở Trung cung, chịu chính khí của Thổ đức, ở dưới đất là Âm, hiệu là Văn Xương tướng, thuộc về chủ, vượng vào bốn mùa (cuối mỗi mùa).
Khách đại tướng: tinh Thần Tinh phương Bắc, chịu chính khí của Thủy đức, chủ binh cách, vượng vào ba tháng mùa Đông.
Chủ đại tướng: tinh Thái Bạch phương Tây, chịu chính khí của Kim đức, chủ chiến đấu, vượng vào ba tháng mùa Thu.
Lại Ngũ Tướng mỗi vị ứng với năm phương, theo bốn mùa đều có thể vượng và suy. Kinh nói: Hai trận chủ và khách đối nhau, bên nào thừa sinh khí thì thắng, bên nào thừa tử khí thì bại. Ví dụ tháng 8 đánh phương Đông, lấy Thái Thốc làm Thức Kích tướng, thừa sinh khí, đại thắng. Nếu Cao Tùng làm Thức Kích tướng, thừa tử khí, đại bại. Các trường hợp khác theo đó. Tuế kế (kế năm) là sứ của Tuế tinh, nói về việc kế năm, tháng, ngày, giờ. Bởi vậy thánh nhân bắt chước mà lập pháp chế cục. Thái Ất là vua, hai mục phò tá, năm tướng định chủ khách, tám môn phân thắng bại, vận trầm cơ giữa khuôn phép, trù hoạch trong màn trướng, ấy là đạo quan trọng của bậc vương tá.
Phép suy Cửu Cung
Xưa, Toại Nhân Thị ngửa xem Bắc Đẩu để định phương. Bao Hi Thị nhân đó vẽ bát quái. Đế Huyên chịu mệnh, sai Đại Nạo tạo ra Giáp Tý, Dung Thành tạo ra lịch số. Ý chỉ của bát quái, cửu cung bắt đầu hưng thịnh từ đó. Nghĩa của Cửu Cung dựa vào linh quy, lấy 2, 4 làm vai, 6, 8 làm chân, trái 3 phải 7, đội 9 đạp 1, đó là đạo thường bất biến. Hoàng Đế lại sai Phong Hậu làm Thái Ất thức, chín cung đều sai một vị. Từ trước đời Tấn, không rõ nguyên do suy diễn. Quách Y trong "Diệu Linh Kinh" nói: Đất thiếu góc Đông Nam, số cung nhiều chẳng qua 9, cho nên sai 9 để lấp vào. Nhạc Sản nói: Thái Ất gửi lý để sáng tỏ nhân sự, vua sau nhờ đó mà thống nhất thiên hạ, cho nên sai một cung để đến càn vị. Vương Hy Minh nói: Thái Ất thống suất nhân sự, để biết đạo tương lai. Bởi vậy thánh nhân đặc biệt sai một cung, để sáng tỏ nghĩa tiên tri.
Cung 1 ở Càn, chủ Ký Châu, Tinh Châu. Nếu Văn Xương tướng bị Quan Tù, ắt có tượng bức hiếp vua cha.
Cung 2 ở Ly, chủ Kinh Châu. Nếu Thái Ất lâm vào, vua giết đại thần, tướng tướng.
Cung 3 ở Cấn, chủ Thanh Châu. Nếu Thức Kích lâm vào, sủng thiếp vào trung cung, binh khởi.
Cung 4 ở Chấn, chủ Từ Châu. Nếu Thức Kích lâm vào, chủ Tây Nhung (người phương Tây) đến xâm lấn.
Cung 6 ở Đoài, chủ Ung Châu. Nếu khách đại tướng lâm vào, Nam Sở đến xâm lấn.
Cung 7 ở Khôn, chủ Lương, Ích Châu. Nếu chủ đại tướng lâm vào, hai châu Lương, Ích binh khởi.
Cung 8 ở Khảm, chủ Duyện Châu. Nếu Thái Ất lâm vào, bề tôi lừa vua.
Cung 9 ở Tốn, chủ Dương Châu. Nếu khách đại tướng lâm vào, hai châu U, Ký đến xâm lấn.
Trương Lương trong Kinh nói: 8, 3, 4, 9 là dương; 2, 7, 6, 1 là âm. Cung 1 là thuần dương, cung 9 là thuần âm. Tháng 5 một âm sinh, đến tháng Tuất là đơn dương, tháng Hợi là tuyệt âm; Tuất, Hợi ở đất cung 1, nên gọi là thuần dương. Tháng 11 một dương sinh, đến tháng Thìn là đơn âm, tháng Tỵ là thuần dương; Thìn, Tỵ ở đất cung 9, nên gọi là tuyệt âm. Phàm 6, 4 là tuyệt khí. Hai cung Ngọ (2), Tý (8) là vị trí Đông Chí, Hạ Chí, là đất giao dịch âm dương, nên gọi là tuyệt khí. Phàm đến chỗ dương tuyệt, khí với việc đều hung.
Phép suy Bát Môn sở chủ
Huyền Nữ nói: Trời có tám cửa, để thông tám gió. Đất có tám phương, để ứng với cương kỷ của bát quái, bốn mùa, chủ về vạn vật.
Khai Môn thẳng Càn, vị Tây Bắc, chủ mở mang thông đạt.
Hưu Môn thẳng Khảm, vị chính Bắc, chủ nghỉ ngơi an cư.
Sinh Môn thẳng Cấn, vị Đông Bắc, chủ sinh sôi vạn vật.
Thương Môn thẳng Chấn, vị chính Đông, chủ tật bệnh, tai ương.
Đỗ Môn thẳng Tốn, vị Đông Nam, chủ bế tắc không thông.
Cảnh Môn thẳng Ly, vị chính Nam, chủ quái vật, mất mát, kinh hoàng bỏ chạy.
Tử Môn thẳng Khôn, vị Tây Nam, chủ tử tang, chôn cất.
Kinh Môn thẳng Đoài, vị chính Tây, chủ kinh hoàng bỏ chạy.
Ba môn Khai, Hưu, Sinh là đại cát, Cảnh Môn là tiểu cát, Kinh Môn là tiểu hung, Tử, Thương, Đỗ là đại hung. Tám cửa, tám tiết, mỗi môn chủ vượng 45 ngày. Thông vượng, dùng để chiến thắng thì cát; không vượng thì hung.
Phép suy 16 vị thần sở chủ
“Nhĩ Nhã” nói: Bốn mùa hòa hợp gọi là Ngọc Chúc. “Luật Lịch Chí” nói: Thái Cực vận ba cung, năm sao trên trời, nguyên khí chuyển ba, năm lưu hành dưới đất.
Thần Tý (Chuột): gọi là Địa Chủ. Xây dựng vào tháng Tý, dương khí sơ phát, vạn vật âm sinh, nên gọi là Địa Chủ.
Thần Sửu (Trâu): gọi là Dương Đức. Xây dựng tháng Sửu, nhị dương dụng sự, bố dục vạn vật, nên gọi là Dương Đức.
Thần Cấn (cung Cấn): gọi là Hòa Đức. Đông Xuân sắp giao, âm dương khí hợp, các vật mới sinh, nên gọi là Hòa Đức.
Thần Dần (Hổ): gọi là Lữ Thân. Xây dựng tháng Dần, dương khí đại thân, cây cỏ nảy mầm, nên gọi là Lữ Thân.
Thần Mão (Mèo): gọi là Cao Tùng. Xây dựng tháng Mão, vạn vật đều ra, tự đất mọc lên, nên gọi là Cao Tùng.
Thần Thìn (Rồng): gọi là Thái Dương. Xây dựng tháng Thìn, sấm ra khỏi chấn thế, dương khí đại thịnh, nên gọi là Thái Dương.
Thần Tốn (cung Tốn): gọi là Thái Linh. Xuân Hạ sắp giao, nóng nực sắp đến, dương khí gay gắt, nên gọi là Thái Linh.
Thần Tỵ (Rắn): gọi là Thái Thần. Xây dựng tháng Tỵ, thiếu âm dụng sự, âm dương khó lường, nên gọi là Thái Thần.
Thần Ngọ (Ngựa): gọi là Đại Uy. Xây dựng tháng Ngọ, dương phụ âm sinh, hình bạo bắt đầu hành, nên gọi là Đại Uy.
Thần Mùi (Dê): gọi là Thiên Đạo. Xây dựng tháng Mùi, hỏa năng sinh thổ, thổ vượng ở Mùi, nên gọi là Thiên Đạo.
Thần Khôn (cung Khôn): gọi là Đại Vũ. Hạ Thu sắp giao, âm khí thi hành lệnh, giết hại vạn vật, nên gọi là Đại Vũ.
Thần Thân (Khỉ): gọi là Vũ Đức. Xây dựng tháng Thân, vạn vật muốn chết, mạch mùa đông sắp sinh, nên gọi là Vũ Đức.
Thần Dậu (Gà): gọi là Thái Thốc. Xây dựng tháng Dậu, vạn vật đều thành, có phẩm vật lớn, nên gọi là Thái Thốc.
Thần Tuất (Chó): gọi là Âm Chủ. Xây dựng tháng Tuất, dương khí không dài, âm khí dụng sự, nên gọi là Âm Chủ.
Thần Càn (cung Càn): gọi là Âm Đức. Thu Đông sắp giao, âm trước sinh dương, có tình lớn, nên gọi là Âm Đức.
Thần Hợi (Lợn): gọi là Đại Nghĩa. Xây dựng tháng Hợi, vạn vật mang cáu bẩn, các dương muốn hết, nên gọi là Đại Nghĩa.
Phép suy Thái Ất thức nghi
Hoàng Đế chịu mệnh, rồng ngựa cõng đồ ra sông, nhân thể cái tượng đó mà chế ra Thái Ất thức, thể có ba tầng: trên xanh phép Trời, dưới vàng phép Đất, giữa tượng Người, tức là ba tài Thiên, Địa, Nhân đều đầy đủ. Trời có 12 thần, Đất có 12 lần, bốn duy, tám môn, chín cung, mười hai thần, đều có hình tượng.
Kinh nói: Nghi thức vận hành có tám:
Thứ nhất xem xét Thái Tuế ở đâu, để muốn tìm Kế Thần, nên trước hết xem xét kỹ.
Thứ hai xem xét Thái Ất ở cung nào, để lập Giám tướng.
Thứ ba xem xét thần nào là Thiên Mục, để đặt các thần Văn Xương, Thức Kích.
Thứ tư xem xét thần nào là Kế Thần, để biết kế của chủ khách.
Thứ năm xem xét thần nào là Thức Kích, lấy Kế Thần đặt vào cung Hòa Đức, tìm cung Văn Xương lâm đến, lấy Cấn làm cửa quỷ phương, tìm cát hung u minh, cho nên đặt Hòa Đức mà tính.
Thứ sáu xem hai mục Trời Đất ở đâu, tìm số toán của chủ khách.
Thứ bảy xem xét kỹ số toán, để định cung của chủ, khách đại tướng.
Thứ tám bàn về việc đặt số toán của chủ khách: nếu được 10, đặt 1; nếu được 24, bỏ 20, đặt 4; số còn lại đều theo lệ mà suy. Mỗi thứ xem cung của Thiên Mục ở đâu để hành toán. Nếu Thiên Mục ở chính cung, thì theo bản số. Nếu Thiên Mục ở gián thần, thì thêm một số mà hành toán, dừng lại khi đến cung Thái Ất. Ví dụ: Thái Ất ở cung 9, Đại Nghĩa làm Thiên Mục, sau Đại Nghĩa một toán, Địa Chủ tám toán, Hòa Đức ba toán, Cao Tùng bốn toán, tính được 16. Những trường hợp khác theo đó.
Phép suy Thái Ất dụng thức bất đồng pháp
Lễ thiết lập tôn ty, Dịch bày quý tiện. Bề tôi làm đạo vua thì chính sách trái, con làm đạo cha thì nghĩa sai lệch, cho nên đạo dùng thức, việc mỗi khác nhau. "Hồng Phạm" nói: Hồng là lớn, Phạm là phép. Nói về thể chế của Trời Đất. Vua xét (tương đương) với năm: việc vua liên quan đến năm, tổng quản các lại, như năm bao gồm bốn mùa. Khanh sĩ (quan đại thần) tương đương với tháng: mỗi vị khanh sĩ có việc riêng mình quản lý, như tháng có sự khác biệt. Sư Doãn (quan chức) tương đương với ngày: tượng chính quan của lại, phân chia cai quản chức vụ, như năm có ngày. Năm, tháng, ngày, giờ không thay đổi, mỗi thứ thuận theo lẽ thường của nó, cho nên nhà vua dùng tuế kế (kế năm), khanh sĩ dùng nguyệt kế (kế tháng), sư doãn dùng nhật kế (kế ngày), bởi vậy giờ (thời) thông suốt cả trên dưới, thì trên từ thiên tử, dưới đến kẻ sĩ, giờ dùng chung vậy.
Phép suy Âm độn hòa và bất hòa
Trương Lương trong Kinh nói: Âm dương hòa và bất hòa là nói Thái Ất và thượng, hạ nhị mục căn cứ vào số toán để phối hợp. Hạ mục lập ở chính cung là dương; lập ở gián thần là âm. Lập ở dương, toán được số lẻ là trùng dương; lập ở âm, toán được số chẵn là trùng âm, thì bất hòa. Thượng mục lâm ở cung dương, toán được trùng dương là trùng lâm chính nhị cung, toán được số lẻ. Lâm ở cung âm, toán được âm là trùng âm, là lâm ở gián thần, toán được số chẵn. Nếu ở dương, toán được số chẵn; ở âm, toán được số lẻ là âm dương hòa, hòa thì cát. Các số 11, 13, 17, 19, 31, 33, 37, 39 là dương số. Mục lâm là trùng dương, toán trung âm dương. Nếu toán được 22, 24, 26, 28 là âm, đều bất hòa. Thái Ất ở cung dương, toán được số lẻ là số trùng dương, các cung 8, 3, 4, 9 là dương cung. Thái Ất ở cung âm, toán được số chẵn là số trùng âm, các cung 2, 7, 6, 1 là âm cung, đều bất hòa. Nếu Thái Ất ở cung âm, dương kỳ, toán được số chẵn là âm dương hòa.
Vương Hy Minh nói: 3, 9, Dần, Thìn là thuần dương; 2, 8, Tỵ, Sửu là tạp dương; 26, Mùi, Hợi là thuần âm; 7, 1, Tuất, Thân là tạp âm; 33, 39 là trùng dương; 22, 26 là trùng âm; 24, 28 là tạp âm; 13, 19, 21, 37 là tạp dương. Đều theo thứ tự mà hung, nhất là những trường hợp nặng. Thái Ất, Thiên Mục ở vị âm, toán được thuần âm; ở vị dương, toán được thuần dương là trong ngoài có mưu kế, bên nào thuần thì thắng. Thái Ất, Thiên Mục ở vị âm, toán được trùng dương là trong có mưu kế. Nếu toán được 14, 18, 33 là thượng hòa; 23, 29, 32 là thứ hòa; 12, 16, 27, 34, 38 là hạ hòa. Nếu Thái Ất, Thiên Mục lập ở vị âm dương, mà toán dương nhiều thì lợi làm khách; toán âm nhiều thì lợi làm chủ. Càng cần xem xét độ sâu cạn, để sáng tỏ thắng bại.
Phép suy Thái Ất thức nghi
Hoàng Đế chịu mệnh, rồng ngựa cõng đồ xuất hiện ở sông, nhân thể cái tượng đó mà chế ra Thái Ất thức, thể có ba tầng: trên xanh phép Trời, dưới vàng phép Đất, giữa tượng Người, tức là ba tài Thiên, Địa, Nhân đều đầy đủ. Trời có 12 địa chi, Đất có 12 lần (cung), bốn duy, tám môn, chín cung, mười hai thần, đều có hình tượng. Kinh nói: Nghi thức vận hành có tám:
Thứ nhất xem xét Thái Tuế ở đâu, để muốn tìm Kế Thần, nên trước hết xem xét kỹ.
Thứ hai xem xét Thái Ất ở cung nào, để lập Giám tướng.
Thứ ba xem xét thần nào là Thiên Mục, để đặt các thần Văn Xương, Thức Kích.
Thứ tư xem xét thần nào là Kế Thần, để biết kế của chủ khách.
Thứ năm xem xét thần nào là Thức Kích, lấy Kế Thần đặt vào cung Hòa Đức, tìm cung Văn Xương lâm đến, lấy Cấn làm cửa quỷ phương, tìm cát hung u minh, cho nên đặt Hòa Đức mà tính.
Thứ sáu xem hai mục Trời Đất ở đâu, tìm số toán của chủ khách.
Thứ bảy xem xét kỹ số toán, để định cung của chủ, khách đại tướng.
Thứ tám bàn về việc đặt số toán của chủ khách: nếu được 10, đặt 1; nếu được 24, bỏ 20, đặt 4; số còn lại đều theo lệ mà suy. Mỗi thứ xem cung của Thiên Mục ở đâu để hành toán. Nếu Thiên Mục ở chính cung, thì theo bản số. Nếu Thiên Mục ở gián thần, thì thêm một số mà hành toán, dừng lại khi đến cung Thái Ất. Ví dụ: Thái Ất ở cung 9, Đại Nghĩa làm Thiên Mục, sau Đại Nghĩa một toán, Địa Chủ tám toán, Hòa Đức ba toán, Cao Tùng bốn toán, tính được 16. Những trường hợp khác theo đó.
Phép suy niên kỷ của đế vương
Thần Hy Minh tính từ năm thứ 37 đời Chu Lệ Vương, năm Giáp Tý, làm Thượng nguyên, đến năm Giáp Tý thứ 12 đời Đường Khai Nguyên, tổng cộng được 1561 năm.
Năm Giáp Tý thứ 37 đời Chu Lệ Vương: vào Kỷ thứ nhất.
Năm Giáp Tý thứ 5 đời Chu U Vương: vào Kỷ thứ hai.
Năm Giáp Tý thứ 21 đời Chu Huệ Vương: vào Kỷ thứ ba.
Năm Giáp Tý thứ 3 đời Chu Hoàn Vương: vào Kỷ thứ tư.
Năm Giáp Tý thứ 10 đời Chu Định Vương: vào Kỷ thứ năm.
Năm Giáp Tý thứ 8 đời Chu Cảnh Vương: vào Kỷ thứ sáu.
Năm Giáp Tý thứ 43 đời Chu Kính Vương: vào Kỷ thứ nhất.
Năm Giáp Tý thứ 9 đời Chu Uy Liệt Vương: vào Kỷ thứ hai.
Năm Giáp Tý thứ 12 đời Chu Hiển Vương: vào Kỷ thứ ba.
Năm Giáp Tý thứ 18 đời Chu Noản Vương: vào Kỷ thứ tư.
Năm Giáp Tý thứ 10 đời Tần Thủy Hoàng: vào Kỷ thứ năm.
Năm Giáp Tý thứ 3 đời Hán Văn Đế: vào Kỷ thứ sáu.
Năm Giáp Tý thứ 6 đời Hán Vũ Đế, niên hiệu Nguyên Thú: vào Kỷ thứ nhất.
Năm Giáp Tý thứ 1 đời Hán Tuyên Đế, niên hiệu Ngũ Phượng: vào Kỷ thứ hai.
Năm Giáp Tý thứ 4 đời Hán Bình Đế, niên hiệu Nguyên Thủy: vào Kỷ thứ ba.
Năm Giáp Tý thứ 7 đời Hán Minh Đế, niên hiệu Vĩnh Bình: vào Kỷ thứ tư.
Năm Giáp Tý thứ 3 đời Hán An Đế, niên hiệu Diên Quang: vào Kỷ thứ năm.
Năm Giáp Tý thứ 1 đời Hán Linh Đế, niên hiệu Trung Bình: vào Kỷ thứ sáu.
Năm Giáp Tý thứ 5 đời Ngụy Tề Vương, niên hiệu Chính Thủy: vào Kỷ thứ nhất.
Năm Giáp Tý thứ 1 đời Tấn Huệ Đế, niên hiệu Vĩnh Hưng: vào Kỷ thứ hai.
Năm Giáp Tý thứ 2 đời Tấn Ai Đế, niên hiệu Hưng Ninh: vào Kỷ thứ ba.
Năm Giáp Tý thứ 1 đời Hậu Ngụy Thái Vũ: vào Kỷ thứ tư.
Năm Giáp Tý thứ 8 đời Hậu Ngụy, niên hiệu Thái Hòa: vào Kỷ thứ năm.
Năm Giáp Tý thứ 10 đời Tây Ngụy Thái Vũ Văn Thống: vào Kỷ thứ sáu.
Năm Giáp Tý thứ 4 đời Tùy Văn Đế, niên hiệu Nhân Thọ: vào Kỷ thứ nhất.
Năm Giáp Tý thứ 4 đời Đường Cao Tổ, niên hiệu Long Sóc: vào Kỷ thứ hai.
Năm Giáp Tý thứ 12 đời Đường Khai Nguyên: vào Kỷ thứ ba.
《Thái Ất Kim Kính Thức Kinh》, Quyển 3
Phép suy Yểm (掩) pháp
Kinh nói: Thức Kích tướng lâm cung Thái Ất, gọi là Yểm. Tuế kế gặp điều này, vương cương mất trật tự, bề tôi lấn át vua yếu, nên tu đức để cầu trừ. Ý nghĩa của Yểm là tập kích, sát phạt. Nếu Yểm Thái Ất ở đất dương tuyệt thì vua gặp hung; ở đất âm tuyệt thì bề tôi bị giết. Yểm chủ đại tướng, chủ nhân toán hòa thì cát; không hòa thì hung. Tham kích của thì thắng.
Phép suy Kích (擊) pháp
Kinh nói: Cung mà Thái Ất ở, khách mục ở trước Thái Ất một cung là tiền kích; ở sau Thái Ất một cung là hậu kích; ở trước Thái Ất một cung là ngoại cung kích; ở sau Thái Ất một cung là nội cung kích. Sở gọi là Kích, là bề tôi lấn vua, kẻ dưới lấn người trên, sự tiếm vượt. Tuế kế gặp điều này, là ý nghĩa tướng quân và tể tướng đánh nhau.
Phép suy Bách (迫) pháp
Kinh nói: Trước là ngoại bách, sau là nội bách. Đối với thượng, hạ nhị mục, chủ, khách, đại, tiểu bốn tướng, ở bên trái hoặc phải Thái Ất gọi là Bách. Vương Hy Minh nói: Thượng mục không có Bách. Nếu hạ mục ở trước Thái Ất một cung, là ngoại thần bách; ở sau một cung, là nội thần bách; ở trước Thái Ất một cung, là ngoại cung bách; ở sau một cung, là nội cung bách. Cung bách, tai họa nhẹ và chậm; thần bách, tai họa gấp và dữ. Tuế kế gặp Bách, người cầm đầu phải thận trọng.
Phép suy Tù (囚) pháp
Kinh nói: Tù là ý nghĩa soán ngục, giết hại. Nếu Văn Xương tướng cùng với chủ, khách, đại, tiểu bốn tướng đều ở cùng cung với Thái Ất, tổng danh gọi là Tù. Nếu ở đất dương khí, tuyệt khí, đại hung; nếu ở đất tuyệt dương, tuyệt âm, tự bại, bề tôi bị giết. Nếu các tướng cùng cung với Thái Ất, hoặc gần đại tướng, mưu kế ở trong cùng loại; gần tham tướng, mưu kế ở nội bộ. Toán hòa thì lợi; toán không hòa thì mưu không thành.
Phép suy Quan (關) pháp
Kinh nói: Khách, chủ, đại, tiểu tướng mục ở các cung tề tựu (cùng cung) gọi là Quan. Vương Hy Minh nói: Nghĩa của Quan, chỉ là việc tướng quân và tể tướng sợ hãi kiêng kỵ nhau, không liên quan đến vua. Chủ, khách, đại, tiểu tướng cùng cung, số (toán) bằng nhau, đều gọi là ngày Quan.
Phép suy Cách (格) pháp
Kinh nói: Khách mục, đại, tiểu tướng đối cung với Thái Ất gọi là Cách, nói về chính sự trên dưới ngăn cách. Nếu ở đất dương tuyệt, lại gặp tuế kế là Cách, không lợi. Có việc sở cách giả, Cách là ý nghĩa thay đổi. Nếu Cách Thái Ất, là kẻ cướp khinh nhờn vua. Chủ, khách toán không hòa, ắt bại.
Phép suy Đối (對) pháp
Kinh nói: Hạ mục Văn Xương tướng xung với Thái Ất mà tương đương, gọi là Đối. Nếu hạ mục tương đối (xung) nhau, đều là đại thần mang lòng hai dạ, vua đuổi lương tướng, hung gian sinh, bề tôi dưới lừa dối trên.
Phép suy Tứ Quách Cố (四郭固) pháp
Kinh nói: Tứ Quách Cố là: Văn Xương tướng bị tù, đến cung Thái Ất, đại tướng, tham tướng lại tương quan. Hoặc khách mục lâm vào, hoặc khách, đại, tiểu tướng tương quan, đều gọi là Tứ Quách Cố. Chủ nhân thắng, Cố nghĩa là cậy vào sự vững chắc, không lợi cho việc khởi sự trước, như bốn bức tường vững chắc. Tuế kế gặp điều này, chủ về họa soán phế, nên tu đức để cầu trừ.
Phép suy Quách Đỗ (郭杜) pháp
Kinh nói: Tứ Quách Đỗ là: khi khách tham tướng với Văn Xương tướng, và chủ đại tướng với khách đại tướng hợp lại kiêm thêm các hiện tượng Yểm, Bách, Quan, Cách, Đề Hiếp, mà xuất binh thì bế tắc không thông, và mưu tính các việc khác đều không thành. Tuế kế lượng xét, không có tai họa lớn.
Phép suy Chấp Đề (執提) pháp
Kinh nói: Chấp Đề là khi Khai, Sinh hai môn hợp xung, đều không lợi. Tên gọi là Chấp Đề, đối xung là Đề Cách. Tuế kế gặp điều này, không thể cử sự. Sở gọi Khai, Sinh nhị môn hợp xung: ví dụ Khai Môn làm trực sự, không thể hợp xung với Khai Môn; Sinh Môn làm trực sự, không thể hợp xung với Sinh Môn, đại hung. Ngũ Tử Tư nói: Ba môn đều không thể xung với Thái Ất.
Lý Thuần Phong nói: Khách, chủ lưỡng tướng hoặc một tướng mà cùng với Thái Ất, kẹp khách, chủ mục hoặc đại, tiểu tướng ở chính cung, gọi là Đề Hiếp. Nếu khách, chủ nhị mục lâm ở gián thần, khách, chủ nhị tướng chầu Thái Ất, kẹp nhị mục ở gián thần, gọi là Hiếp Bế. Chủ nhân tuy thấy Đề Hiếp nhưng ở nội cung, vẫn có thể chiến. Từ cung 1 đến 4 là nội cung. Nếu tù tử ở dương tuyệt khí, tuy ở ngoại cung cũng hung. Khách tuy có Đề Hiếp nhưng ở ngoại cung, vẫn có thể chiến. Từ cung 9 đến 6 là ngoại cung. Nếu ở tù tử và đất dương tuyệt, tuy ở nội cung cũng hung. Tuế kế gặp Đề Hiếp, hung. Khách, chủ có nội, ngoại bách, không lợi cho việc khởi sự trước.
Trương Lương nói: Khách mục, đại tướng, tham tướng kẹp chủ mục, thì khách thắng; kẹp Thái Ất, trước thắng sau bại. Chủ kế mục bị tù, bách Thái Ất, thì khách thắng.
Phép suy chủ khách tương quan
Người xưa nói Thái Ất chủ khách tương quan, lấy hổ rừng, giao vực làm ví dụ. Ý là thế không thể hai tồn tại, vật không thể song hành. Đại khái khi gặp địch, việc bất đắc dĩ, nên xem khách quan được chủ nhân, thì khách thắng; chủ nhân quan được khách, thì chủ thắng. Đều dùng nhật kế nạp âm để quyết định. Sở gọi Quan (đóng, then chốt), là lấy đạo chế ngự của ngũ hành. Ví dụ Cao Tùng làm địa mục, là thần Mộc; Thái Thốc làm thiên mục, là thần Kim. Kim chế Mộc, đây là khách quan được chủ nhân, khách thắng. Ví dụ Âm Chủ làm địa mục, là thần Thổ; Địa Chủ làm thiên mục, là thần Thủy. Thổ chế Thủy, đây là chủ nhân quan được khách, chủ thắng.
Phép suy chủ khách
Kinh nói: Chủ, khách là lý lẽ trước sau, nghĩa động tĩnh. Cổ pháp nói: Dàn trận ngoài đồng trống, trước khi động là khách, sau ứng là chủ. Nếu thế an cư, trước khi động là chủ, sau ứng là khách. Nếu được ba môn đầy đủ, năm tướng phát, âm dương hòa, thì xuất quân đi đâu ắt thắng, trước thắng sau bại. Nếu ba môn không đủ, năm tướng không phát, âm dương không hòa, thì không lợi cho việc cử binh, nên cố thủ, cát. Muốn biết chủ, khách xuất nhập, phía đông lấy Âm Đức, phía nam lấy Hòa Đức, phía tây lấy Đại Hiển, phía bắc lấy Đại Vũ, làm thần khởi phát, để định thần quy về của chủ, khách khởi phát. Khách muốn biết chủ, xem số toán của nó; chủ muốn biết khách, cũng xem số toán của nó.
Kinh nói: Xuất quân ắt ra kỳ môn, chiếm đất dùng cả hai. Cổ pháp: Người cầm đầu cần ra khỏi nơi chiếm đất, và đặt quân các nơi, toán 12, 22, 32, năm tướng phát ba môn đủ, mới có thể xuất binh chiếm đất, chọn nơi tiện lợi để xuất quân. Cho nên nói: Chiếm đất, dùng cả hai kỳ môn, là ra ba cửa cát Khai, Hưu, Sinh.
Toán được 1: xuất quân hợp với hướng Tây Bắc, chiến lợi hướng Đông Nam, tựa nơi khe sâu ẩn náu, dùng trận vuông, cờ trắng.
Toán được 2: xuất quân hợp hướng chính Nam, chiến lợi hướng chính Bắc, đường tà hướng Tây Nam, tựa núi, nơi có ánh sáng rực rỡ, dùng trận nghiêng, cờ xanh.
Toán được 4: xuất quân hợp hướng chính Đông, chiến lợi hướng chính Tây, tựa rừng cây, bờ cong, dùng trận nhọn, cờ đỏ.
Toán được 5: xuất quân hợp hướng chính Bắc, chiến lợi hướng chính Nam, tựa đất đắp, dựa thành ấp, rừng núi, dùng trận cong, cờ đen. Nếu không, đào hào sâu, lũy cao mà cố thủ, cát.
Toán được 6: xuất quân hợp hướng chính Tây, chiến lợi hướng chính Đông, tựa đầm nước, hào ở gò đất, dùng trận vuông, cờ trắng.
Toán được 9: xuất quân hợp hướng Đông Nam, chiến lợi hướng Tây Bắc, tựa núi cao, gò đống, đất đắp, dùng trận nhọn, cờ đỏ.
Nay thì Thái Ất là nơi binh khởi, trận theo đất, xem phương mà chế biến, đều tính gọi là thần, đó là đạo thần kỳ của dụng binh.
Kinh nói: Đặt trận, trận cong là Thủy, trận nhọn là Hỏa, trận thẳng là Mộc, trận vuông là Kim, trận tròn là Thổ, đều lấy chủ, khách đặt trận; tiếp theo lấy ngũ hành tương khắc để lấy thắng bại. Không biết phép đặt trận, đều lấy địa hình mà đặt. Nếu địa hình sau cao trước thấp, thì dùng trận nhọn, lợi cho tiến chiến, để phá tan quân địch; trước cao sau thấp, không tiện tiến thoái, lợi cho đánh gần, nên dùng trận thẳng để giữ, làm mỏi sức địch; nếu đất lồi lõi, không tiện cho chiến đấu, nên dùng trận tròn, lợi để cố thủ; nếu đất cao bằng phẳng, nên dùng trận vuông, lợi để bốn hướng đón địch; nếu thế trái phải cao, thì nên dùng trận cong để nuốt địch. Nếu thuận theo hướng đó thì cát; nếu đất ngược dốc, thì hung. Nay thì Thái Ất là nơi binh khởi, trận theo đất, hai bên tùy biến, vận biến gọi là thần, đó là phép dụng binh.
Phép suy tùy địa chế biến
Nói: Người giỏi dụng binh lâm chiến cần dùng gấp có ba điều: một là lính được huấn luyện thuần thục; hai là tùy theo địa hình; ba là khéo dùng binh khí. Hào năm trượng, nước ở hào, rừng núi đá đống, sông suối gò đống, cỏ cây um tùm, đó là đất của bộ binh, xe và kỵ binh không bằng một phần ba; đất bằng, gò đồi thoải, đồng bằng quảng dã, đó là đất của xe và kỵ binh, bộ binh mười không bằng một; hai trận gần nhau, đất bằng cỏ mọc có thể tiến có thể lùi, đó là đất của trường thành (thương dài), kiếm và khiên ba không bằng một; lau sậy tre trúc, cỏ cây rậm rạp, cành lá xen nhau, đó là đất của mâu và chùy, cung nỏ ba không bằng một; xa nhau, núi khe sâu, ngửng cao trông xuống, đó là đất của cung nỏ, binh đoản trăm không bằng một; lính không chọn luyện, tốt không quen phục, ở không yên, động không trơn, tránh nạn không kịp, bắn xạ sau giải, sai với chỉ huy, đó là lỗi của lính lười, trăm không bằng một. Binh khí không lợi, như không có; bắn không trúng, như không có giáp, đó là lỗi của tướng không quen binh, mười không bằng một. Binh pháp nói: Khí giới không lợi, thì đem quân mình cho địch; quân không dùng được, thì đem tướng mình cho địch; tướng không biết binh, thì đem vua mình cho địch; vua không chọn tướng, thì đem nước mình cho địch. Bốn điều đó là yếu lĩnh của binh. Cho nên đạo dụng binh của Thái Ất là khắc địch ở tương lai, chế thắng ở chưa rõ, lâm địch xem biến, ở chỗ tướng. Nên nói: Xuất binh nên theo kỳ môn, lâm địch tùy hình chế biến, đó là yếu lĩnh.
Phép suy Thái Ất tại Thiên ngoại Địa nội
Cổ pháp nói: Thái Ất ở các cung 8, 3, 4 là địa nội cung, trợ giúp chủ nhân; Thái Ất ở các cung 9, 2, 7, 6 là thiên ngoại cung, trợ giúp khách. Nếu trợ giúp chủ nhân, ở ngoài đồng trống không lợi cho việc khởi sự trước; nếu trợ giúp khách, khi an cư không lợi cho việc khởi sự trước. Kinh nói: Muốn làm khách, hãy đợi Thái Ất ở thời thiên ngoại; muốn làm chủ, hãy đợi Thái Ất ở thời địa nội. Lại phải được môn đủ tướng phát, thì quyết thắng.
Phép suy kỳ phục (奇伏)
Kinh nói: Biết được kỳ phục, biến họa thành phúc, là ý nghĩa giải thoát năm binh. Pháp kỳ binh: nếu có trăm người, lấy ba mươi người làm kỳ binh; nếu có nghìn người, lấy ba trăm người làm kỳ binh; nếu có vạn người, lấy ba nghìn người làm kỳ binh. Tùy đất phục hình, không thể cố định. Người xưa, phục binh ắt ở nơi đại sát, nhìn địch trống trận mà phát. Nơi đại sát là nơi Thiên Mục lâm đến, vào lúc 12, 22, 32 thì phục binh. Kinh nói: Ẩn náu tung tích, ắt phải ở một trong các toán 11, 21, 31, ẩn trong rừng núi khe suối, người không thể thấy. Kinh nói: Phục binh ắt dùng lúc Yểm Bách. Cho nên phục binh đợi địch đến đánh úp, ắt lúc Yểm Bách Thái Ất, quân có thể phát. Nếu địch gấp, thì phục binh ở chỗ yếu hại.
Phép suy Thái Ất phong vân, phi điểu trợ chiến
Kinh nói: Phép trợ chiến, thường cần quan sát thế phong vân, xét tình trạng chim bay. Nếu cung Thái Ất có phong vân, chim bay... đến xung, cách, bách, kích Thái Ất, là điềm đại bại. Nếu đuổi kích cung đại tướng, chủ bại. Nếu từ nơi khác (ngày) bay lên đánh khách, khách bại. Nếu từ mục của khách đánh chủ, chủ bại. Nếu từ hình chủ nhân đến, khách bại. Nếu có phong vân, chim bay từ Thái Tuế, Thái Âm, Nguyệt Kiến đến đánh chủ nhân, chủ nhân bại; đánh khách, khách bại. Nếu có phong vân, chim bay phù trợ trận chủ nhân, chủ nhân thắng; phù trợ trận khách, khách thắng. Nếu ngày đó có gió lốc, chim bay xoay chuyển, cờ trong trận gãy, là điềm đại bại. Nếu chúng đến hò hét trong trận, và có phong vân xung đột trận chủ nhân, chủ nhân bại; xung đột trận khách, khách bại.
Phép suy phong vân khí trên trận địa định thắng bại
Thần (Vương Hy Minh) xét rằng: bài trước chỉ nói khí ở trên địch đánh ta, ta bại, nghĩa lớn như vậy. Trong đó không phải không có chỗ diệu dụng. Giả sử địch ở phương Bắc, nếu có hắc khí, khí ở trên trận địa địch, địch đại thắng; nếu là ngày Nhâm Quý, càng tốt. Nếu bạch khí ở trên trận địa địch, địch muốn thôi trận cầu hòa. Nếu thanh vân khí ở trên trận địa địch, tướng khoan thai, đánh gấp thì hòa. Nếu hồng vân khí ở trên trận địa địch, khách thắng. Nếu hoàng vân khí ở trên trận địa địch, đại bại; ngày Nhâm Quý càng xấu.
Giả sử địch ở phương Nam, nếu có xích vân khí ở trên trận địa địch, đại thắng; ngày Bính Đinh càng tốt. Nếu thanh vân khí ở trên trận địa địch, muốn thôi trận cầu giải. Nếu hoàng vân khí ở trên trận địa địch, tướng địch chậm chạp, đánh gấp thì hòa. Nếu bạch vân khí ở trên trận địa địch, thất lợi. Nếu hắc vân khí ở trên trận địa địch, địch đại bại; ngày Bính Đinh càng xấu.
Giả sử địch ở phương Tây, có bạch vân khí ở trên trận địa địch, ngày Canh Tân càng tốt. Nếu được hoàng vân khí ở trên trận địa địch, muốn cầu giải. Nếu hắc vân khí ở trên trận địa địch, tướng khoan thai, đánh gấp thì hòa. Nếu thanh vân khí ở trên trận địa địch, địch bại. Nếu xích vân khí ở trên trận địa địch, địch đại bại; ngày Canh Tân càng xấu.
Giả sử địch ở phương Đông, nếu có thanh vân khí ở trên trận địa địch, đại thắng; ngày Giáp Ất càng tốt. Nếu hắc vân khí ở trên trận địa địch, muốn cầu hòa. Nếu xích vân khí ở trên trận địa địch, tướng địch chậm chạp, nhưng không thể đánh. Nếu hoàng vân khí ở trên trận địa địch, đại bại; ngày Giáp Ất càng xấu.
Các đám mây khí này ở trên trận địa địch là như vậy. Nếu ở trên trận địa ta cũng thế. Các thắng khí động mạnh thì đại thắng. Dù được thắng vân khí, nếu đứt đoạn không liên tục, hoặc bắc nam rối loạn, cũng bại. Nếu được bại vân khí mà vững chắc, động lớn thì lợi. Thì dù được bại khí, nếu đứt đoạn rối loạn, chưa hẳn hoàn toàn xấu. Khi đối trận, nếu thắng vân khí ở trên đại tướng thì đại thắng; ở trên tham tướng thì tham tướng thắng. Nếu bại vân khí, thì ngược lại. Những điều như các cách, bách hay Thái Ất vân khí đều cần ước lượng phương hướng, xem xét kỹ thắng bại của vân khí để định cát hung. Nếu hoàn toàn không có vân khí, hoặc ít, hoặc phân bố đều thì không có chiến tranh hoặc hai bên hòa.
