GIẢI TÍCH THẬP CAN KHẮC ỨNG 

I. Trạng thái chủ – khách hình thành giữa Giáp Tý Mậu với chính nó và các Thiên Can khác

1. Mậu / Mậu

Trương chú: Giáp và Giáp tỷ hòa, tên gọi "Phục Ngâm". Gặp trường hợp này, mọi việc không thuận, đường sá bế tắc, nên phòng thủ là tốt. Phục Ngâm chủ về bản địa, chủ về nội bộ, chủ về sự chậm trễ. Nếu là lúc hỏi việc thuộc Lục Giáp thì vẫn có thể mưu cầu hành động.

Mã chú: Mậu + Mậu – Phục Ngâm, chướng ngại + chướng ngại, gặp việc khó khăn chồng chất. Đoán đầu tư: là đầu tư lặp lại lần hai, dự toán cao gấp đôi. Đoán làm việc: một lần không xong, cần phải liên tục hoàn thiện và bổ sung mới xong. Đoán hôn nhân, đoán việc: không có động hướng, là dừng lại. Xuất hành gặp: tắc đường. Đoán bệnh: có chỗ sưng phồng, dạ dày đầy hơi khó chịu.

2. Mậu / Ất

Trương chú: Giáp và Ất đều là Mộc phương Đông. Mộc phương Đông còn gọi là Thanh Long, vì vậy nói "Thanh Long hội hợp". Nếu Cửa tốt thì việc tốt, Cửa xấu thì việc xấu.

Mã chú: Mậu + Ất – Hợp cách, Thanh Long hội hợp, ắt có người khác, việc khác liên lụy. Gặp được người môi giới tốt thì việc tốt, ngược lại thì xấu. Có lợi cho hợp tác và tụ họp. Cách này không lợi cho xuất hành. Một mình đi đường không tốt, nhưng nếu đi cùng một nhóm bạn bè thì tốt hơn. Cách này cũng sợ Mộ, Bức, Kích hình, Kích hình. Nếu gặp Mộ, Bức, Kích hình thì việc tốt thành xấu. Đoán bệnh: có nhiều loại bệnh.

3. Ất / Mậu

Trương chú: Trước kia (Mậu + Ất) là Giáp Tý Mậu ở Thiên Bàn làm khách, Ất Kỳ ở Địa Bàn làm chủ. Dương Mộc và Âm Mộc hội hợp, do Cửa quyết định cát hung. Nay hai bên đảo ngược: Ất Kỳ ở Thiên Bàn làm khách, Giáp Tý Mậu ở Địa Bàn làm chủ. Làm khách thì chủ động tiến công, lúc này Ất Mộc sẽ khắc Mậu Thổ, vì vậy gọi là "Âm hại Dương Môn" (Mậu là Dương Thổ, là Thiên Môn; Kỷ là Âm Thổ, là Địa Hộ). Có lợi cho người âm, việc âm, không lợi cho người dương, việc dương. Nghĩa là có lợi cho phụ nữ hoặc việc kín đáo, không lợi cho đàn ông hoặc việc công khai. Việc quyết định cát hung vẫn xem Cửa. Nếu Cửa tốt thì vẫn có thể mưu cầu; nếu Cửa xấu, Cửa bức thì phải hao tài tổn người.

Mã chú: Ất + Mậu – Lợi Âm hại Dương. Cửa xấu, Cửa bức thì phá tài tổn người. Chúng ta đã nói, Mậu một khi xuất hiện thì dễ phá tài. Gặp cách này, phương pháp tốt nhất là: một là ủy thác cho phụ nữ làm; hai là ban ngày không làm, ban đêm mới làm (sau 7 giờ tối. Mão – Dậu là môn hộ). Như vậy có thể tránh được phá tài. Gặp cách này, không nên chủ động làm việc, nên bị động, chờ sự việc xảy ra rồi mới xuất kích.

4. Mậu / Bính

Trương chú: Tức Giáp Tý Mậu ở Thiên Bàn, Bính Kỳ ở Địa Bàn. Vì Giáp Mộc sinh Bính Hỏa, Bính Hỏa lại sinh Mậu Thổ. Hỏa là con của Giáp Mộc, là chủ lực khắc chế Canh Kim, vì thế trong Kỳ Môn được xếp là Cách cục tốt đứng đầu, tên gọi "Long hồi thủ" (Rồng quay đầu). Phàm cầu việc tốt như: cầu hôn, cầu học, cầu tài, cầu quan, xuất hành, ra nước ngoài, xây dựng, xuất quân, đánh trận… đều đại cát đại lợi. Nhưng nếu cách cục "Long hồi thủ" mà gặp Cửa bức (tức Cửa khắc cung, đặc biệt là Hung Môn khắc cung), nhập mộ (ví dụ Giáp Tý Mậu lạc cung số 6 – cung Càn – nhập mộ Tuất) hoặc kích hình (ví dụ Giáp Tý Mậu lạc cung số 3 – cung Chấn – hình Tý – Mão) thì mức độ cát giảm nhiều, việc tốt không thành, thậm chí tốt hóa xấu. Chính vì cách này lợi cho việc tốt, nên việc xấu gặp nó lại không tốt. Ví dụ đoán bệnh gặp cách này, không những không tốt mà còn cho thấy bệnh tình rất nghiêm trọng.

Mã chú: Thanh Long phản thủ (Rồng xanh quay đầu), hành động đại cát. Nếu gặp Mộ, Bức, Kích hình thì tốt thành xấu. Đoán đầu tư: phát tài, tiền ra lại vào. Nhưng nếu rơi vào cung Càn thì nhập mộ, chủ về phá tài. Rơi cung Chấn, kích hình, tổn tài. Ở cung Ly (hướng Nam), vì Tý – Ngọ xung nên tiền mất. Mậu ở cung Ly chủ phá tài. Mậu lạc cung Tốn (Đông Nam) là tốt nhất. Mậu + Bính đoán bệnh không tốt, chủ bệnh quay trở lại, tái phát. Đoán đòi nợ thì rất tốt.

 

5. Bính / Mậu

Trương chú: Trước đây (Mậu + Bính) là Mậu làm khách, Bính làm chủ, khách sinh chủ, chủ sinh khách, chủ khách tương sinh, có lợi nhất cho "Giáp", vì thế là Cách cục tốt thứ nhất. Nay chủ khách đảo ngược, Bính làm khách, Mậu làm chủ. Giáp Mộc sinh Bính Hỏa, Bính Hỏa sinh Mậu Thổ, vẫn là chủ khách tương sinh. Chủ chủ về tĩnh, khách chủ về động. Bính Hỏa là con của Giáp Mộc, nay chủ động trở về bên mẹ, vì thế gọi là "Điểu điệt oa" (Chim rơi xuống tổ), được xếp là Cách cục tốt thứ hai trong Kỳ Môn. Cách này cũng đại cát đại lợi cho việc mưu cầu điều tốt như cầu hôn, cầu học, cầu tài, cầu quan... không cần tốn nhiều công sức cũng có thể thành công. Tương tự, nếu gặp Cửa bức (đặc biệt là Hung Môn khắc cung), nhập mộ (ví dụ Bính nhập cung số 6 – Càn – mộ Tuất) hoặc kích hình (ví dụ ở cung số 3 – Chấn, địa bàn Giáp Mậu hình Tý – Mão) thì mức độ cát giảm nhiều, thậm chí việc tốt không thành, hóa xấu. Ngoài ra, cách này cũng giống như "Long hồi thủ", gặp việc xấu thì không tốt. Ví dụ đoán bệnh gặp cách này, không những cho thấy bệnh nặng, mà thậm chí có thể là điềm báo bệnh nhân qua đời, vào huyệt.

Mã chú: Bính + Mậu – Trong Thập Thiên Can, Hỏa và Thổ gặp nhau có chỗ tốt, vì Hỏa Thổ là một nhà, có tính hài hòa, mật thiết. Và trong thông tin Dương phối Dương, chỉ có cách cục Hỏa Thổ phối hợp là cát lợi, vì Hỏa Thổ đồng nguyên. Còn lại các cặp Dương – Dương, Âm – Âm khác đều bài xích lẫn nhau. Bính + Mậu là "Phi điểu điệt oa"; Mậu + Bính là "Thanh Long phản thủ", đều cát lợi. Bính + Mậu "Phi điểu điệt oa" mang ý nghĩa dự trữ, có lợi cho đầu tư, buôn bán, tích trữ và giao dịch, giống như con chim ưng được thả ra, bắt được con mồi rồi quay về, biểu thị sự đạt được. Bính + Mậu, Mậu + Bính đều thích hợp để xuất hành làm ăn. Nhưng rất sợ Mộ, Bức, Kích hình. Nếu gặp Mộ, Bức, Kích hình thì sẽ xảy ra vấn đề. Ví dụ Bính + Mậu (hoặc Mậu + Bính) rơi cung Càn nhập mộ, muốn về mà không về được. Rơi cung Chấn là kích hình, bị tổn thương. Ví dụ khác, đoán đầu tư mở nhà máy, Bính + Mậu gặp Khai Môn lạc cung Chấn, Khai Môn bức, tôi đã hành động, nhưng năng lực chịu đựng tâm lý của tôi chưa đạt tới, hành vi và tâm lý không thống nhất, thì sẽ phát sinh vấn đề; khi tôi quay lại thì công ty đã đóng cửa. Gặp Bính + Mậu hoặc Mậu + Bính, nếu không xuất hiện Mộ, Bức, Kích hình thì đoán cầu quan sẽ được thăng chức, tương đối cát lợi.

6. Mậu / Đinh

Trương chú: Tức Giáp Tý Mậu ở Thiên Bàn, Đinh Kỳ ở Địa Bàn. Giáp Mộc sinh Đinh Hỏa, Đinh Hỏa sinh Mậu Thổ, cũng là chủ khách tương sinh, vì thế được xếp là Cách cục tốt thứ ba, tên gọi "Thanh Long diệu minh" (Thanh Long rực sáng). Cũng đại cát đại lợi cho việc cầu điều tốt như cầu hôn, cầu học, cầu quan, cầu tài... Vì Giáp Tý Mậu là chủ soái, nên người xưa nói nên gặp cấp trên lãnh đạo, quý nhân; lại vì Đinh Kỳ chủ về văn thư, văn minh, nên có lợi cho cầu danh vọng, phú quý. Tuy nhiên, nếu Đinh Kỳ nhập mộ (ví dụ Đinh Kỳ lạc cung số 8 – Cấn – nhập mộ Sửu) hoặc gặp Cửa bức (Cửa khắc cung, đặc biệt là Hung Môn khắc cung) thì không những mức độ cát giảm nhiều, mà còn có thể gây ra thị phi.

Mã chú: Mậu + Đinh – "Thanh Long diệu minh". Đoán vận khí, chủ về trong đời có cơ hội lớn. Nên gặp lãnh đạo, cầu công danh. Nếu gặp Mộ, Bức thì gây thị phi.

7. Đinh / Mậu

Trương chú: Tức Đinh Kỳ ở Thiên Bàn, Giáp Tý Mậu ở Địa Bàn, ngược lại với trước nhưng vẫn là chủ khách tương sinh, vì thế được xếp là Cách cục tốt thứ tư, tên gọi "Thanh Long chuyển quang" (Thanh Long chuyển ánh sáng). Vì Giáp Mộc sinh Đinh Hỏa, Đinh Hỏa ở trên, ánh sáng càng rực rỡ, vì thế những việc tốt như cầu hôn, cầu học, cầu tài, cầu quan... càng thuận lợi hơn. Cho nên người xưa nói gặp cách này "quan nhân thăng thiên, thường nhân uy xương" (quan chức thăng chức, người thường thì uy danh hiển hách). Nghĩa là dân thường gặp cách cục tốt này cũng sẽ sự nghiệp phát đạt, danh tiếng lừng lẫy. Nếu gặp nhập mộ hoặc Cửa bức thì mức độ cát giảm nhiều, thậm chí gây thị phi.

Mã chú: Đinh + Mậu – "Thanh Long chuyển quang", chỉ sự việc có chuyển biến (có cơ hội xoay chuyển).

8. Mậu / Kỷ

Trương chú: Tức Giáp Tý Mậu ở Thiên Bàn, Giáp Tuất Kỷ ở Địa Bàn. Vì Thiên Bàn Mậu nhập vào mộ khố của Địa Bàn Tuất, vì thế gọi là "Quý nhân nhập ngục" – Hung cách. Bất lợi cho cả công việc công lẫn tư. Chỉ có chờ đến lúc xung mở mộ khố thì mới có thể có chuyển biến. Điều này được nói từ góc độ Thiên Bàn Giáp Tý Mậu là quý nhân.

Mã chú: Mậu + Kỷ – "Quý nhân nhập ngục", không lợi cho cả công lẫn tư. Đoán đầu tư là khó khăn tạm thời. Quý nhân không thể mãi ở trong ngục. Đoán cuộc đời (chung cục), đời người sẽ gặp khó khăn tạm thời nhưng có thể vượt qua. Còn Mậu + Nhâm là "Thanh Long nhập thiên lao" (Rồng xanh vào ngục trời), bị giam hãm, ý nghĩa bị khốn đốn lâu dài. Mậu + Kỷ, đoán hợp tác đầu tư là mỗi bên ôm một ý đồ riêng. Cách này phá tài, kiện tụng, tù ngục.

9. Kỷ / Mậu

Trương chú: Tức Giáp Tuất Kỷ ở Thiên Bàn, Giáp Tý Mậu ở Địa Bàn, ngược lại với trước. Vì Tuất là chó (Khuyển), Giáp là rồng (Long), vì thế gọi là "Khuyển ngộ Thanh Long" (Chó gặp rồng xanh). Nếu Cửa tốt thì mưu việc nên thực tế; nếu Cửa xấu thì phí công vô ích. Điều này lại thể hiện cát hung của quan hệ chủ khách, chủ yếu do cát hung của Bát Môn quyết định, vì Bát Môn đại diện cho nhân sự.

Mã chú: Kỷ + Mậu – "Khuyển ngộ Thanh Long". Có ý nghĩa được quý nhân giúp đỡ. Quý nhân xuất tiền xuất lực. Có cơ hội thể hiện tài năng và sự phát sinh của việc mới.

10. Mậu / Canh

Trương chú: Tức Giáp Tý Mậu gặp Giáp Thân Canh. Vì Trực Phù Giáp sợ nhất Canh Kim khắc sát. Thiên Bàn Trực Phù Giáp gặp Địa Bàn Canh Kim, tự nhiên phải tránh né, vì thế gọi là "Trực Phù phi cung" cách. Giáp là Thanh Long, là thần lành; Canh là Bạch Hổ, là thần ngăn trở, hung thần. Vì thế đoán việc tốt thì không tốt, việc xấu càng xấu; cầu tài không có lợi; đoán bệnh cũng chủ về hung. Cách duy nhất là Trực Phù Giáp bay khỏi cung này, vì thế gặp cách này còn chủ về đổi chỗ, đổi người.

 

10. Mậu / Canh (tiếp theo)

Mã chú: Mậu + Canh – "Trực Phù phi cung". Để giải quyết vấn đề liên quan đến Canh, có các ký hiệu như Ất, Bính, Đinh, Mậu, Quý... Trong dự đoán, chúng ta thường gặp câu hỏi: "Thưa thầy, tôi còn phải chú ý điều gì?" Lúc đó, cần chú ý đến Canh – bạn đoán về doanh nghiệp cũng vậy. Ngay khi lập xong bàn, phải xem Canh, đó là tình huống cần chú ý và những việc bản thân người đó khó giải quyết. Vấn đề lớn của doanh nghiệp, căn bệnh lớn cũng nằm ở Canh. Trọng tâm công việc nằm ở Trực Phù; những vấn đề tiềm ẩn hoặc chưa được nhận ra nằm ở chỗ không vong; mục tiêu trọng tâm nằm ở Trực Phù; vấn đề cần giải quyết trước mắt nằm ở Thiên Nhuế. Vấn đề lớn là Canh, nhưng chưa chắc là vấn đề cần giải quyết ngay. Để giải quyết Canh, cần xem Canh có mối liên hệ với ký hiệu nào trong số Ất, Bính, Đinh, Mậu, Quý, thì dùng ký hiệu đó để giải quyết. Một trong những phương pháp giải quyết Canh là dùng Mậu. Mậu + Canh / "Trực Phù phi cung", đoán vận khí: là sự chuyển đổi sự nghiệp, đổi ngành hoặc đổi đơn vị. Đoán bệnh: là di căn, chuyển sang chỗ khác. Đoán mộ địa: Cảnh + Mậu + Canh + Đằng Xà, không thể dùng, chủ mộ phải đổi chỗ, vì Cảnh là đường, nên sau này nơi này sẽ làm đường. Đoán cái gì thì đổi cái đó, đại diện cho sự chuyển dịch, đi xa.

11. Canh / Mậu

Trương chú: Tức Giáp Thân Canh ở Thiên Bàn, Giáp Tý Mậu ở Địa Bàn, ngược lại với cách "Trực Phù phi cung". Nghĩa là Trực Phù Giáp ở Địa Bàn, Thiên Bàn bay đến Canh Kim như núi Thái Sơn đè xuống, xung khắc Giáp không thể nhúc nhích, vì thế gọi là "Trực Phù phục cung" cách, cũng gọi là "Thiên Ất phục cung" cách. Điều này cũng được nói từ góc độ của Giáp. Vì vậy, từ góc độ của Giáp, gặp Canh Kim xung khắc thì đại hung, trăm việc không thể làm. Lối thoát duy nhất cũng là đổi chỗ, đổi người. Do đó, sách cổ tổng kết kinh nghiệm dự đoán đời người có nói: "Canh + Mậu, Mậu + Canh, nhiều thành nhiều bại, đất này chẳng bằng đất khác". Tuy nhiên, nếu Dụng Thần là Thiên Bàn Canh, thì không những không hung mà ngược lại còn tốt; cầu tài (Giáp Tý Mậu là tiền của) nhất định sẽ "nhiều thành". Nhưng vì Giáp và Canh xung khắc, vào lúc Giáp đương lệnh vượng tướng, Canh Kim khó tránh khỏi bị tù, tạo thế "nhiều bại", vì thế vẫn nên đổi chỗ, đổi người là tốt hơn.

Mã chú: Canh + Mậu – "Thiên Ất phục cung". Canh + Mậu / Mậu + Canh – kiêng kỵ nhất là hợp tác, và kiêng kỵ nhất là ngồi yên một chỗ để cầu tài (buôn bán tại chỗ). Ví dụ mở công ty, tiệm tạp hóa, cửa hàng, nhà hàng... Gặp cách này, nếu có người hỏi có nên mở cửa hàng không? Chắc chắn không thành. Ngoài ra, đoán công việc, nếu có người hỏi "tôi muốn đến làm quản lý ở một công ty", nếu gặp Canh + Mậu hoặc Mậu + Canh, bạn chắc chắn làm không lâu dài. Kiêng kỵ nhất là mở cửa hàng, hợp tác và buôn bán tại chỗ. "Đất này chẳng bằng đất khác, người này chẳng bằng người khác". Canh + Mậu / Mậu + Canh – đều là phi cung cách, chủ đổi chỗ. Đoán vận khí: thay đổi thì tốt, cần phải biến động mới được, không thay đổi không xong. Đoán hợp tác: không được, chủ đổi người.

12. Mậu / Tân

Trương chú: Tức Thiên Bàn là Giáp Tý Mậu, Địa Bàn là Giáp Ngọ Tân. Vì Tân Kim khắc Giáp Mộc, Tý và Ngọ lại xung nhau, vì thế gọi là "Thanh Long chiết túc" (Rồng xanh gãy chân) – Hung cách. Nếu gặp Cửa lành có sinh trợ thì vẫn có thể mưu việc; nếu gặp Cửa xấu thì chủ gặp tai họa, mất tiền, hoặc có bệnh về chân, gãy xương. Điều này được nói từ góc độ Thiên Bàn Giáp.

Mã chú: Mậu + Tân – "Thanh Long chiết túc". Là cách xung, chủ về dạng việc động, không ngồi yên được, cũng không giữ được. Kiêng kỵ nhất là đầu tư, sai phạm về tiền bạc. Cũng đại diện cho sự việc bị gãy giữa đường, gãy đổ. "Thanh Long chiết túc", bệnh tật là loại bệnh phát triển thêm (tăng sinh). Mậu + Tân và Tân + Mậu, có một số thông tin giống nhau, đều là khó khăn về kinh tế hoặc thân mắc cảnh khốn cùng. Mậu + Tân là nền tảng không còn; Tân + Mậu là nền tảng vẫn còn nhưng hiện tại đang thiếu hụt. Gặp hai cách này, chắc chắn phá tài. Nhớ rằng có một người bạn học Kỳ Môn mang một cách cục Kỳ Môn Độn Giáp đến nhờ tôi xem, nói rằng cách cục này là của một người bạn của tác giả, người bạn đó gọi điện muốn đến thăm tác giả, tác giả không biết có ý gì, bèn lập bàn dự đoán nhờ tôi phân tích. Người bạn của tác giả đó định làm gì? Khi đó Nhật Can là Mậu, tôi thấy Địa Bàn Mậu (Địa Bàn Nhật Can đại diện cho chủ, cho tác giả), trên lâm Thiên Bàn Tân (Thiên Bàn là khách, là người bạn), tạo thành cách Tân + Mậu "Khốn long bị thương". Mậu Thổ sinh Tân Kim, Mậu là tiền tài, cũng là bản thân tác giả, sinh Tân Kim, sinh người bạn, ắt hẳn người bạn đang gặp khó khăn về tiền bạc đến mượn tiền tác giả.

13. Tân / Mậu

Trương chú: Ngược lại với trước, chủ khách đổi chỗ cho nhau: Giáp Ngọ Tân ở Thiên Bàn, Giáp Tý Mậu ở Địa Bàn. Người xưa gọi là "Khốn long bị thương" (Rồng khốn bị thương) – cách hung. Điều này lại được nói từ góc độ của Giáp, vì Giáp ở Địa Bàn, bị Kim xung khắc, nên bị khốn và tổn thương. Chủ về hung. Nếu biết ủy khuất cầu toàn, an phận thì còn có thể; nếu hành động thiếu suy nghĩ thì sẽ gây họa, hoặc bị kiện tụng, hoặc phá tài. Tuy nhiên, nếu Dụng Thần là Thiên Bàn Tân thì không những không hung mà ngược lại còn tốt, có thể nói "làm khách thì không hại". Dĩ nhiên, vì Tý Ngọ xung nhau, tiền kiếm được cũng dễ tiêu mất, nên cũng có mặt không tốt.

Mã chú: Tân + Mậu – "Khốn long bị thương". Do sai lầm của bản thân dẫn đến khủng hoảng kinh tế hoặc thất bại trong công việc. Là cách xung. Hễ Tân, Mậu ở cùng nhau thì ắt phá tài. Đoán vận khí không tốt, "khốn long bị thương", chính là đang chìm trong cảnh khốn cùng, không còn tiền.

14. Mậu / Nhâm

Trương chú: Tức Thiên Bàn là Giáp Tý Mậu, Địa Bàn là Giáp Thìn Nhâm. Vì Nhâm là Thiên Lao (nhà tù trời), Giáp là Thanh Long, Tý Thủy lại nhập vào mộ Thìn, cho nên người xưa gọi là "Thanh Long nhập thiên lao" (Rồng xanh vào ngục trời) – Hung cách. Ở đây, tuyệt đối không thể xét theo ngũ hành sinh khắc thông thường như "Mậu Thổ khắc Nhâm Thủy", "Nhâm Thủy sinh Giáp Mộc" mà phải xét theo mối quan hệ đặc thù của Độn Giáp. Vì "Thanh Long nhập thiên lao", nên bất luận việc công hay việc tư đều không có lợi. Điều này cũng được nói từ góc độ lấy Thiên Bàn Giáp Mậu làm Dụng Thần.

 

14. Mậu / Nhâm (tiếp theo)

Mã chú: Mậu + Nhâm – "Thanh Long nhập thiên lao". Phàm việc gì cũng không tốt đẹp. Cách này đại diện cho việc không thành, vận khí không tốt, đang ở trong giai đoạn trầm thấp. Đoán bệnh: bệnh sắp khỏi, đó là việc tốt. Kiêng kỵ đầu tư. Phàm những người làm quan gặp cách này đều không tốt: hoặc phạm sai lầm, hoặc bị lui về tuyến hai, hoặc vào tù. Thanh Long đại diện cho quyền vị, đại diện cho quan chức chính phủ.

15. Nhâm / Mậu

Trương chú: So với trước thì đổi quan hệ chủ khách: Giáp Thìn Nhâm ở Thiên Bàn làm khách, làm Dụng Thần; Địa Bàn là Giáp Tý Mậu. Sự đảo ngược này biến thành cách cục tốt, người xưa gọi là "Tiểu xà hóa long" (Rắn nhỏ hóa rồng). Vì Nhâm là tiểu xà, Giáp là Thanh Long. Cũng có thể hiểu là từ ngũ giáp (Giáp Thìn Nhâm) biến thành nhất nguyên soái Giáp Tý Mậu, thăng quan phát đạt. Vì thế chủ về đàn ông phát đạt, phụ nữ sinh con.

Mã chú: Nhâm + Mậu – "Tiểu xà hóa long". Vốn dĩ là Dương – Dương va chạm, tại sao lại có thông tin tốt lành? Là vì Nhâm Thủy đang động. Đây là cách cục tốt, có quý nhân giúp đỡ, tìm được chỗ dựa hoặc tìm được yếu tố chống đỡ vững mạnh. Đoán doanh nghiệp, đoán sự phát triển của công ty: là cách tốt, sẽ phát triển lớn, lên một tầm cao mới. Đoán sự nghiệp, vận khí: sắp chuyển vận. Đoán tiền đồ: tốt, điềm thăng chức. Đoán bệnh: không tốt, bệnh nhẹ hóa nặng. Cũng có lợi cho đầu tư.

16. Mậu / Quý

Trương chú: Tức Giáp Tý Mậu gặp Giáp Dần Quý. Vì Giáp là Thanh Long, Quý là Địa Võng, còn gọi là Hoa Cái, vì thế gọi là "Thanh Long Hoa Cái" cách. Vì Giáp và Quý một âm một dương, Thủy có thể sinh Mộc, lại Mậu và Quý tương hợp, cho nên cát hung do Cửa quyết định: gặp Cửa lành thì tốt, có thể chiêu phúc đến nhà; gặp Cửa xấu thì xấu, việc thường không thành.

Mã chú: Mậu + Quý – "Thanh Long Hoa Cái". Là cách hợp, bị sự việc liên lụy. Hôn nhân: tuổi tác chênh lệch lớn. Hợp tác: có lợi cho hợp tác, có sự liên quan đến người khác.

17. Quý / Mậu

Trương chú: Giáp Tý Mậu và Giáp Dần Quý đảo ngược quan hệ chủ khách. Vì Tý Thủy sinh Dần Mộc, Mậu và Quý hợp, nghĩa là chủ khách vẫn ở trạng thái tương sinh tương hợp, vì thế gọi là "Thiên Ất hội hợp" cách. Cát hung vẫn do Cửa quyết định: gặp Cửa lành thì tốt, nên mưu việc cầu tài, hôn nhân hỷ mỹ, được người tốt trợ giúp thành hợp. Nếu gặp Cửa xấu, hoặc môn cung bức chế (tức môn khắc cung hoặc cung khắc môn) thì ngược lại sẽ gây họa và kiện tụng thị phi.

Mã chú: Quý + Mậu – "Thiên Ất hội hợp". Gặp Cửa lành thì dễ cầu tài, hôn nhân hỷ mỹ, người tốt trợ giúp thành hợp. Nếu Cửa xấu, bức chế thì lại gây họa, quan phi. Là cách hợp, có lợi cho hợp tác. Cách hợp, ắt có người khác, việc khác liên lụy: làm ăn buôn bán thì phải hợp tác với người khác; đoán việc thì có liên quan đến người khác; đoán bệnh thì không chỉ một bệnh; đoán xuất hành thì có việc khác ràng buộc. Xuất hành gặp cách xung thì tốt.


(2) Trạng thái chủ – khách hình thành giữa Ất Kỳ với chính nó và các Thiên Can khác

Trong Kỳ Môn Độn Giáp, trước hết dùng Kỳ! Kỳ cũng chia làm tam tài:

  • Thiên tam kỳ: Nhật, Nguyệt, Tinh (Ất, Bính, Đinh)

  • Địa tam kỳ: Hoa cỏ thực vật (Ất), khói lửa, bếp lửa (Bính), ánh nến (Đinh)

  • Nhân tam kỳ: Phụ nữ (Ất), đàn ông/con trai nhỏ (Bính), con gái nhỏ (Đinh)

Khi sử dụng, nên dùng đồng thời cả ba mới có tác dụng mạnh. Cách sử dụng Tam Kỳ có sự phân biệt. Đinh Kỳ với các Thiên Can khác, ngoại trừ Đinh + Quý thì các trường hợp khác đều tạm được.

1. Ất / Ất

Trương chú: Ất và Ất tỷ hòa, tên gọi "Nhật kỳ phục ngâm" cách. Không nên gặp cấp trên lãnh đạo và quý nhân. Không nên cầu danh cầu lợi, chỉ nên an phận thủ thường, tận trách tận nghĩa. Phục ngâm lợi chủ, nên tĩnh không nên động, nên thủ không nên tiến.

Mã chú: Ất + Ất – là phục ngâm cục. Phàm là phục ngâm cục, đều là sự vật trì trệ không tiến. Ví dụ đoán cổ phiếu: không lên không xuống. Đối với quyết định trong phục ngâm cục, nên tích trữ năng lượng. Có người nói: phục ngâm cục lợi chủ không lợi khách, điều này không hoàn toàn đúng. Nếu năng lượng cung lạc của Dụng Thần đặc biệt vượng, và năng lượng sao, cửa cũng đủ mạnh, thì lúc đó có thể đánh một đòn bất ngờ, ngược lại là việc tốt, phá vỡ thế phục ngâm. Ất + Ất: cả hai đều quá mềm yếu, lúc này cần cho nó một chỗ dựa vững chắc. Ất + Ất, "Nhật kỳ phục ngâm", không nên cầu danh cầu lợi, chỉ nên an phận thủ thường. Âm can bài xích lẫn nhau, gặp bài xích thì không có việc tốt. Sự việc liên lụy nhiều. Đoán xuất hành thường đi không được. Hy vọng nhiều, nhưng mỗi thứ đều hư ảo.

2. Ất / Bính

Trương chú: Thiên Bàn là Nhật kỳ, Địa Bàn là Nguyệt kỳ, Ất Mộc lại sinh Bính Hỏa, vì thế gọi là "Kỳ nghi thuận toại" cách, mưu việc phần nhiều tốt. Nhưng trong dự đoán hôn nhân, Ất Kỳ đại diện cho vợ, Bính Kỳ đại diện cho người đàn ông thứ ba. Nếu Ất Kỳ gặp sao lành (Cát Tinh), thì người phụ nữ này bản chất tốt, trong quan trường xử lý tốt quan hệ chủ khách, nên có thể thăng quan tiến chức; nếu Ất Kỳ gặp sao xấu (Hung Tinh), thì người phụ nữ này bản chất không tốt, tác phong xấu, khó tránh khỏi dính dáng với người đàn ông thứ ba, dẫn đến vợ chồng phản mục, ly biệt.

Mã chú: Ất + Bính – "Kỳ nghi thuận toại". Có nhiều cơ hội, có quý nhân nâng đỡ. Nếu gặp Hung Tinh thì vợ chồng phản mục. Ất + Bính, có một số việc tốt xảy ra, nhưng trong đó sẽ có chút rắc rối và phiền phức.

3. Bính / Ất

Trương chú: Quan hệ chủ khách đảo ngược: Bính Kỳ ở trên, Ất Kỳ ở dưới, tức Dương ở trên, Âm ở dưới, điều này phù hợp với quy luật chung của sự vật, vì thế gọi là "Nhật nguyệt tịnh hành" – cách cục tốt, mưu cầu công việc công hay tư đều tốt đẹp.

Mã chú: Bính + Ất – "Nhật nguyệt tịnh hành". Cũng có lợi cho hợp tác, cộng tác, lợi cho việc cầu mưu và tìm kiếm sự giúp đỡ của người khác. "Nhật nguyệt tịnh hành" tốt, nhưng Thái Dương với Thái Dương tịnh hành (Bính + Bính) thì không được, lửa quá lớn sẽ sinh rắc rối.

4. Ất / Đinh

Trương chú: Tức Thiên Bàn là Ất Kỳ, Địa Bàn là Đinh Kỳ, Ất Mộc sinh Đinh Hỏa, tên gọi "Kỳ nghi tương tá" – cách cục tốt, rất có lợi cho văn thư, thi cử, trăm việc có thể làm.

Mã chú: Ất + Đinh – "Kỳ nghi tương tá". Có lợi cho văn thư, thi cử, có cơ hội kỳ tích xảy ra. Đoán hôn nhân: không tốt. Đàn ông có người thứ ba hoặc phụ nữ là người thứ ba.

5. Đinh / Ất

Trương chú: Quan hệ chủ khách đảo ngược nhưng vẫn là tương sinh. Vì Đinh là Ngọc Nữ, được Ất Kỳ tương sinh, vì thế gọi là "Ngọc Nữ kỳ sinh" – cách tốt. Quý nhân thêm quan tiến chức, người thường thì hôn nhân, tiền bạc có hỷ sự.

Mã chú: Đinh + Ất – "Nhân độn" – cách cục tốt. Quý nhân thêm quan tiến chức, người thường hôn nhân tiền bạc có hỷ sự. Âm phối Âm, thực chất đây là một sự biến hóa, là cách cục tiêu cực, chỉ có lợi cho khế ước, văn thư; đoán các việc khác đều không lợi. Đoán hôn nhân càng không tốt. Đinh Ất đồng cung, "lệnh tục tương thân" (lại đi tìm hiểu nhau, có ý tái giá hoặc thay đổi). Đoán công việc: là điều chuyển công tác hoặc công việc cũ không giữ được, không lý tưởng.

 

6. Ất / Kỷ

Trương chú: Tức Thiên Bàn là Ất Kỳ, Địa Bàn là Giáp Tuất Kỷ. Vì Tuất là mộ của Ất Mộc, vì thế gọi là "Nhật kỳ nhập mộ" cách (Nhật kỳ vào mộ), nghĩa là Ất Kỳ bị thổ vùi lấp. Nếu Cửa xấu, việc ắt hung. Nếu Cửa tốt thì có thể cứu được; gặp Khai Môn thì thành Địa Độn – cách cục tốt. Có lợi cho kinh doanh buôn bán, cầu tài. Gặp được kỳ tích. Nhưng không có lợi cho hôn nhân, chủ về người thứ ba xen vào hoặc phạm sai lầm.

Mã chú: Ất + Kỷ – "Nhật kỳ nhập mộ", bị thổ u ám. Cách này hoàn toàn ngược với Ất + Mậu. Không thích hợp cho phụ nữ làm việc; phụ nữ mà làm thì sẽ gặp xui xẻo. Thích hợp cho nam giới, và thích hợp làm việc ban ngày, không thích hợp làm việc ban đêm. Đoán bệnh: tra không ra nguyên nhân. Gặp Âm can đều là làm việc bị động; gặp Dương can đều là làm việc chủ động.

7. Kỷ / Ất

Trương chú: Giáp Tuất Kỷ ở trên, Ất Kỳ ở dưới, đảo ngược quan hệ chủ khách so với trước. Thông thường lấy Thiên Bàn Tam Kỳ Lục Nghi làm Dụng Thần, nên đứng từ góc độ của Kỷ. Kỷ là Địa Hộ, Ất là Nhật Kỳ, vì thế gọi là "Địa hộ phùng tinh" cách (Địa hộ gặp sao), nên ẩn tích, nên lui không nên tiến.

Mã chú: Kỷ + Ất – "Mộ thần bất minh" (Thần mộ không sáng). "Mộ thần phùng tinh". Làm việc không thành, không nhìn rõ phương hướng, chưa có manh mối. Thường chủ về làm việc dây dưa, bản thân việc đã không tốt mà vẫn cố làm.

8. Ất / Canh

Trương chú: Tức Ất Mộc ở trên, Canh Kim ở dưới. Tuy Ất và Canh hợp thành vợ chồng, nhưng Âm ở trên, Dương ở dưới, trái với quy luật thông thường. Canh Kim hình khắc Ất Mộc, vì thế gọi là "Nhật kỳ bị hình" cách (Nhật kỳ bị hình phạt), thường dẫn đến vợ chồng bất hòa, tranh chấp tài sản, mỗi bên giữ ý riêng.

Mã chú: Ất + Canh – "Nhật kỳ bị hình". Đây là một hợp cách. Trong Kỳ Môn có ba cách lớn: Tỷ kiếp cách, Hợp cách, Xung cách. Cần lưu ý, trong lập kế hoạch và chỉ đạo của Kỳ Môn: gặp Hợp cách thì bất lợi cho xuất hành, nhưng có lợi cho hợp tác; bất lợi cho hành động đơn lẻ, có lợi cho hành động tập thể. Xuất hành gặp Hợp cách, chủ về vướng bận, dây dưa nhiều việc, tốt nhất không nên đi một mình. Mình làm không được thì tìm người hợp tác. Phục ngâm cách cũng là bị người khác, việc khác liên lụy, hoặc là việc hợp tác, không phải việc của riêng mình. Gặp Xung cách thì hợp tác bất lợi, hợp tác sẽ tan rã. Hành động đơn lẻ có lợi, hành động tập thể bất lợi, mâu thuẫn lớn. Gặp Xung cách, chủ động, tích cực, hành động trước thì tốt. Còn gặp Hợp cách, mình đừng động trước, tiêu cực một chút thì tốt hơn. Ất + Canh, có tư dục, muốn đạt được tư dục của bản thân. Đoán hôn nhân: có mâu thuẫn, mỗi người tính toán riêng.

9. Canh / Ất

Trương chú: Hai bên đổi quan hệ chủ khách, vì thế gọi là "Thái Bạch phùng tinh" cách. Vì Canh khắc Ất, Ất Canh lại tương hợp, nên làm khách có lợi, làm chủ thì bất lợi, chỉ nên lui không nên tiến.

Mã chú: Canh + Ất – "Thái Bạch phùng tinh". Hợp cách. Biết ủy khuất cầu toàn thì việc sẽ dễ dàng. Cách này: lưu luyến, vướng bận, có cộng sự, hợp tác với người khác giới thì tốt. Cách này có lợi cho hợp tác, chỉ cần bạn ở trong trạng thái ủy khuất cầu toàn thì hợp tác sẽ vui vẻ. "Thoái nhi cầu kỳ thứ" (lùi một bước cầu thứ yếu) thì việc sẽ dễ làm.

10. Ất / Tân

Trương chú: Ất ở trên, Tân ở dưới. Ất là Thanh Long, Tân là Bạch Hổ. Tân Kim xung khắc Ất Mộc, và là Âm khắc Âm, vì thế gọi là "Long đào tẩu" (Rồng chạy trốn) – Hung cách. Chủ về nhà tan người mất, của cải tan tác, người hầu bỏ trốn, lục súc đều bị thương. Trong dự đoán hôn nhân, gặp cách này, thường là vợ chủ động ly hôn, bỏ người chồng.

Mã chú: Ất + Tân – "Long đào tẩu". Trong Kỳ Môn, tại sao đặt Kỳ lên trước? Dùng Kỳ trước, sau đó dùng Môn, thực sự không được mới dùng đến Giáp. Việc gì địa phương giải quyết được thì không nên tìm trung ương, cấp dưới giải quyết được thì không nên tìm lãnh đạo. Kỳ cũng không phải vạn năng. Trong ba trạng thái, Kỳ bị mất linh: Ất gặp Tân, Đinh gặp Quý, Bính gặp Canh. Cần phải thông qua các phương pháp khác để giải cứu. Ất + Tân, nếu có sự liên hệ với Bính; Đinh + Quý, nếu có sự liên hệ với Mậu; Bính + Canh, nếu có sự liên hệ với Ất – thì trong hung có cứu. Ví dụ: một tên trộm đang lấy trộm đồ, tuy bạn không phải cảnh sát, nhưng bạn mặc một bộ cảnh phục thì cũng có thể dọa cho tên trộm tháo chạy. Chúng ta biết rằng tượng cảnh sát đứng ở ngã tư cũng có thể điều tiết giao thông. Đó là sức mạnh của Phù. Bạn cũng có thể dùng ảnh mỹ nữ treo ở vị trí đào hoa để xúc tiến đào hoa. Ất + Tân – là động cách, biến động, bị động, có hoạt động tư tưởng. Đoán bệnh: "Long đào tẩu" thì bệnh sẽ nhanh khỏi. Đoán cầu tài không tốt, sẽ phá tài.

11. Tân / Ất

Trương chú: Tân ở trên, Ất ở dưới. Tân Kim chủ động xung khắc Ất Mộc, vì thế gọi là "Hổ xướng cuồng" (Hổ dữ tợn) – Hung cách, cũng chủ về nhà tan người mất, đi xa nhiều tai họa. Đoán hôn nhân gặp cách này, thường là đàn ông chủ động ly hôn, phá tan gia đình.

Mã chú: Tân + Ất – "Hổ xướng cuồng". Là động cách, lợi khách không lợi chủ, có lợi cho việc chủ động làm. Đoán bệnh không tốt, bệnh nặng. Đoán đầu tư, khởi sự thì có thể làm được.

12. Ất / Nhâm

Trương chú: Ất Kỳ ở Thiên Bàn, Giáp Thìn Nhâm ở Địa Bàn. Vì Nhâm là Thiên La (lưới trời), Ất là Nhật Kỳ, vì thế gọi là "Nhật kỳ nhập thiên la" (Nhật kỳ vào lưới trời) – Hung cách. Chủ về tôn ti hỗn loạn, quan phục thị phi, có việc mưu hại.

Mã chú: Ất + Nhâm – "Nhật kỳ nhập thiên la". Tôn ti hỗn loạn, quan phục thị phi, có người mưu hại. Biểu thị nội tâm tự mâu thuẫn, biến hóa, mơ hồ, do dự, lưỡng lự không quyết. Cũng biểu thị có người sau lưng giở trò.

 

13. Nhâm / Ất

Trương chú: Đảo ngược quan hệ chủ khách, biến thành Dương ở trên, Âm ở dưới, phù hợp với quy luật chung của sự vật, vì thế gọi là "Tiểu xà đắc thế" (Rắn nhỏ được thế). Vì Giáp Thìn Nhâm là đệ ngũ giáp, có thể gọi là một "tiểu xà", được "Nhật kỳ" Ất trợ giúp, nên gọi là "Tiểu xà đắc thế", chủ về nữ giới nhu thuận, nam giới phát đạt. Nếu đoán việc mang thai, có thể sinh con trai, có công việc có bổng lộc, ra ngoài có xe đưa đón.

Mã chú: Nhâm + Ất – "Tiểu xà đắc thế". Trong lúc ưu sầu bỗng nhiên gặp được sự giúp đỡ của người khác. Với cách này, "khúc trung cầu biến" (trong khuất khúc cầu biến), dùng nhu thắng cương. Không thể làm thẳng thắn trực diện, mà dùng nhu để thắng cương thì tốt, đừng nóng vội.

14. Ất / Quý

Trương chú: Ất Kỳ ở trên, Giáp Dần Quý ở dưới. Tuy Quý Thủy sinh Ất Mộc, nhưng Quý là Địa Võng, vì thế gọi là "Nhật kỳ nhập địa võng" (Nhật kỳ vào lưới đất) – Hung cách, nên lui không nên tiến, lấy tránh tai nạn làm tốt.

Mã chú: Ất + Quý – "Nhật kỳ nhập địa võng". Hoàn toàn là ý nghĩa lui về phòng thủ, không tích cực, tiêu cực tránh né. Gặp cách này, nói chung không nên chủ động xuất kích, nên lui về phòng thủ, bế quan. Một khi ra ngoài, dễ đâm vào lưới. Ở yên trong nhà thì không có việc gì. Gặp Ất + Quý hoặc Quý + Ất – rất thích hợp cho tu luyện, tọa thiền, luyện khí công. Đoán cuộc đời (chung cục), gặp Quý + Ất hoặc Ất + Quý, người này có thể có dị năng. Quý là Thiên Võng, là mạng lưới thông tin, có thể tiếp nhận thông tin vũ trụ. Ất + Quý, Quý chủ về biến hóa nhỏ, có sự kìm hãm, là sự phá hoại xuất phát từ tư dục, bị người kéo lùi.

15. Quý / Ất

Trương chú: Quý ở trên làm khách, Ất ở dưới làm chủ. Quý là Địa Võng, nhưng nếu ở vị trí cao thì có thể là Hoa Cái, vì thế gọi là "Hoa Cái phùng tinh" cách (Hoa Cái gặp sao). Tuy Quý phần nhiều là ký hiệu xấu, nhưng nay Quý là Dụng Thần, lại được Nhật Kỳ trợ giúp, vì thế đối với Quý mà nói là tốt. Nếu gặp Cửa lành thì quý nhân có lộc vị, người thường bình an; nếu gặp Cửa xấu thì tự nhiên lại xấu.

Mã chú: Quý + Ất – "Hoa Cái phùng tinh", quý nhân lộc vị, người thường bình an. Với cách này, tính cách hàm súc, làm việc nội liễm thì tốt hơn. Đừng quá lộ phong mang, nên làm một cách kín đáo. Cách này cũng chủ về hy vọng bị lưới che phủ, có tài nhưng khó phát huy.


(3) Trạng thái chủ – khách hình thành giữa Bính Kỳ với chính nó và các Thiên Can khác

1. Bính / Bính

Trương chú: Cả Thiên Bàn và Địa Bàn đều là Bính Kỳ, tức "Nguyệt kỳ phục ngâm". Vì tính cách của Bính nóng nảy, làm việc dễ cực đoan quá lửa, không giữ khuôn phép. Chủ và khách hai Bính gặp nhau, cũng giống như Ngọ – Ngọ tự hình, càng làm tăng thêm khuyết điểm của Bính Kỳ, vì thế gọi là "Nguyệt kỳ bội sư" cách. Chủ về văn thư bức bách, hao tài tổn thất, đặc biệt dễ xảy ra tình trạng chứng từ hóa đơn không rõ ràng.

Mã chú: Bính + Bính – "Nguyệt kỳ bội sư". Văn thư bức bách, hao tài tổn thất. Chủ về chứng từ hóa đơn không rõ ràng, thất lạc. Như kiến trên chảo nóng, hỗn loạn. Cách này cũng là phục ngâm, gặp phục ngâm thì dây dưa, khó chịu. Gặp Bính + Bính, cần phải đề phòng, phòng ngừa trước khi xảy ra.

2. Bính / Đinh

Trương chú: Thiên Bàn là Bính, Địa Bàn là Đinh, Dương ở trên, Âm ở dưới. Bính Hỏa còn gọi là Chu Tước, Đinh là Tinh Kỳ, vì thế gọi là "Tinh Kỳ Chu Tước". Hai Kỳ âm dương bổ trợ lẫn nhau, tự nhiên là tốt, nên chủ về quý nhân văn thư cát lợi, người thường bình an vui vẻ. Nếu lại gặp ba cửa lành Khai, Hưu, Sinh thì thành Thiên Độn – cách cục tốt.

Mã chú: Bính + Đinh – "Tinh Kỳ Chu Tước". Quý nhân văn thư cát lợi, người thường bình an vui vẻ. Việc tốt không sợ nhiều, càng nhiều càng tốt. Gặp cách này, đoán bệnh không tốt, đại diện cho viêm nhiễm.

3. Đinh / Bính

Trương chú: Đảo ngược chủ khách, biến thành Âm ở trên, Dương ở dưới, vì thế gọi là "Tinh tùy nguyệt chuyển" (Sao theo trăng chuyển). Nếu là quý nhân có thể vượt cấp thăng chức, khéo léo lợi dụng thế bổ trợ âm dương; nếu là người thường, thường không chịu nổi trạng thái "âm dương điên đảo", ngược lại dễ vui quá hóa buồn, gây bất hạnh.

Mã chú: Đinh + Bính – "Tinh tùy nguyệt chuyển". Quý nhân thăng thiên, người thường vui quá hóa buồn. Nghĩa là quá mức. Gặp cách này, cần giữ bình tĩnh, thu liễm một chút thì tốt hơn.

4. Bính / Kỷ

Trương chú: Tức Bính Kỳ ở trên, dưới gặp Giáp Tuất Kỷ. Vì Bính Hỏa nhập mộ Tuất, vì thế gọi là "Hỏa bội nhập hình" cách. Gặp Cửa lành thì được cát, gặp Cửa xấu thì gặp hung. Chủ về tù nhân bị hình phạt đòn roi, văn thư không thông.

Mã chú: Bính + Kỷ – "Hỏa bội nhập hình". Tù nhân bị hình phạt đòn roi, văn thư không thông. Dễ gặp tiểu nhân, nhưng mức độ ảnh hưởng không quá lớn. Vì là Dương phối Âm, âm dương có tính hài hòa nhất định. Hễ là âm dương hòa hợp thì dù có xảy ra một số vấn đề cũng có thể giải quyết. Điều này phụ thuộc vào sự so sánh năng lượng giữa Địa Bàn Can và Thiên Bàn Can (trong bài giảng có nói: so sánh năng lượng giữa cung Địa Bàn và cung Thiên Bàn). Âm dương tương hợp, năng lượng thủ trung thì sẽ không có vấn đề lớn. Ý nghĩa thông tin của cách cục Bính + Kỷ: những rắc rối gây ra do tư lợi và ảo tưởng của bản thân. Kỷ chủ về tư dục, Bính chủ về rắc rối. Sự việc này phát sinh do tư lợi của bản thân hoặc tư lợi và hành vi của người khác dẫn đến một số rắc rối.

5. Kỷ / Bính

Trương chú: Âm dương điên đảo, Kỷ ở Thiên Bàn, Bính ở Địa Bàn. Tuất là mộ Hỏa, Kỷ còn gọi là Địa Hộ, vì thế gọi là "Hỏa bội địa hộ" – Hung cách. Nếu đàn ông gặp cách này, dễ bị oan oan tương hại; phụ nữ thì dễ bị làm nhục.

Mã chú: Kỷ + Bính – "Hỏa bội địa hộ". Đàn ông oan oan tương hại, phụ nữ ắt bị dâm ô. Dễ vì những tư tưởng và hành vi không đúng đắn mà gây ra rắc rối thị phi. Những vấn đề phát sinh do tư tâm, gặp tiểu nhân, và biết tiểu nhân là ai.

6. Bính / Canh

Trương chú: Thiên Bàn là Bính Kỳ, Địa Bàn là Canh. Vì Bính là Chu Tước, là Huỳnh Hóa tinh (sao lửa); Canh là Thái Bạch Kim tinh (sao Kim), vì thế gọi là "Huỳnh nhập Thái Bạch". Vì Dương Hỏa khắc Dương Kim, hai bên tranh đấu không ngừng, nên mưu cầu việc tốt gặp đây là đại hung cách, chủ về cửa nhà phá tài, trộm cắp hao hụt, sự nghiệp khó thành. Nhưng nếu đoán kẻ địch, kẻ thù, trộm cướp có đến hay không, vì trong Kỳ Môn thường lấy Canh làm ký hiệu của kẻ địch, kẻ thù, trộm cướp, mà nay Thiên Bàn có Bính Hỏa khắc chế Canh Kim, cái gọi là "Hỏa nhập kim hương tặc tức khứ" (Lửa vào chỗ Kim thì giặc liền đi), nên người xưa còn gọi cách này là "Tặc thoái" (Giặc lui). Kẻ địch, kẻ thù, trộm cướp lui đi, tự nhiên là tốt.

Mã chú: Bính + Canh – "Huỳnh nhập Thái Bạch". Trong Kỳ Môn Độn Giáp, Bính + Canh / Canh + Bính; Ất + Tân / Tân + Ất; Đinh + Quý / Quý + Đinh là những tổ hợp xấu nhất. Nhưng Bính + Canh, "Huỳnh nhập Thái Bạch" cũng có mặt tốt: chỉ là cách đạt được tài này cần phải chạy khắp nơi, giống như chó đi tìm thức ăn, cũng có thể tìm được Sinh Môn. Nhưng nếu không gặp Sinh Môn mà gặp Mậu, Mậu + Canh, Bính + Canh thì phá tài, xuất hành là phá tài. Gặp Tử Môn, Bính + Canh cũng đại diện cho phá tài. Tử Môn đại diện cho tử thương và tài sản chết. Đừng cho rằng cái gì đi mất đều là xấu. Ví dụ đoán bệnh, Thiên Nhuế lâm Bính + Canh; đánh kiện, Kinh Môn lâm Bính + Canh, thì bệnh có thể đi khỏi, kiện tụng có thể loại bỏ chướng ngại. Vì thế Bính + Canh cũng đại diện cho mặt tích cực. Hơn nữa, trong nhiều trường hợp, Canh là vấn đề khó giải quyết nhất, nhưng nếu gặp Bính thì dễ giải quyết. Ví dụ vấn đề Đài Loan, nếu gặp Bính + Canh thì có thể dùng vũ lực giải quyết. Canh cần lửa lớn để luyện, Đinh (lửa nhỏ) không đủ để thay đổi bản chất của Canh Kim, còn Bính thì có thể thay đổi bản chất của Canh Kim. Tôi đã đoán cho một người bị u bướu, gặp cách cục Bính + Canh "Huỳnh nhập Thái Bạch", tuy không phẫu thuật nhưng nhiều năm vẫn chưa có vấn đề gì lớn. Nếu thuốc Đông y phối hợp những vị có tính Hỏa mạnh, thì có thể chữa được u bướu.

 

7. Canh / Bính

Trương chú: Tức Thiên Bàn là Canh, Địa Bàn là Bính. Thiên Bàn là khách, là động, là tiến; Địa Bàn là chủ, là tĩnh, là thủ. Nay kẻ địch, kẻ thù, trộm cướp, thần ngăn trở là Canh chủ động tiến công. Tuy Bính Hỏa có thể khắc Canh Kim, nhưng Bính Hỏa ở dưới, ở thế bất lợi và bị động. Vì thế, đứng từ góc độ của Giáp, đây tự nhiên là đại hung cách, nên gọi là "Bạch nhập Huỳnh" (Trắng vào Lửa) – Hung cách, còn gọi là "Tặc lai" (Giặc đến). Đoán giặc thì giặc ắt đến, phải phòng kẻ địch đến cướp doanh, trộm cướp vào nhà, nên cố thủ là tốt. Nhưng trong thực tế, nếu Nhật Can hoặc Niên Mệnh của người cầu đoán chính là Canh, thì Canh là phe ta, đương nhiên cách này biến thành cách tốt, ắt "làm khách thì tiến lợi, làm chủ thì phá tài". Chỉ cần chủ động tiến công, thủ phát chế nhân, thì sẽ có lợi cho mình.

Mã chú: Canh + Bính – "Thái Bạch nhập Huỳnh, tặc tất lai". Gặp Sinh Môn, sẽ có tiền bạc đến tận cửa. Đoán bệnh: bệnh đến. Đoán người đi xa: chắc chắn về. Đoán kẻ trộm: kẻ trộm còn đến. Đoán cái gì thì cái đó đến.

8. Bính / Tân

Trương chú: Bính ở trên, Tân ở dưới. Bính Hỏa khắc Tân Kim. Bính là Nguyệt Kỳ, là Dương, lại hợp với Âm Kim Tân, vì thế gọi là "Nguyệt kỳ tương hợp" – cách tốt. Phàm mưu việc đều thành công, đoán bệnh cũng không xấu.

Mã chú: Bính + Tân – "Nhật nguyệt tương hội, mưu sự thành tựu, bệnh nhân bất hung". Đây là một hợp cách. Gặp hợp cách, ắt có người khác, việc khác liên lụy vướng bận, không phải một việc mà có nhiều việc trộn lẫn vào nhau. Bính Tân hợp, chỉ trong hợp tác sẽ có một số sai sót hoặc lỗi lầm, nhưng những vấn đề này đều có thể giải quyết được. Hợp cách có lợi cho hợp tác, có lợi cho chờ đợi, nhưng không lợi cho xuất kích, xuất hành.

9. Tân / Bính

Trương chú: Tân ở trên, Bính ở dưới, âm dương điên đảo. Tuy hai bên vẫn tương hợp, nhưng mức độ cát giảm đi, vì thế gọi là "Cán hợp bội sư" cách (Can hợp với kẻ bội sư). Tức Âm can Tân hợp với Bội Sư Bính. Nếu Cửa tốt thì việc tốt, Cửa xấu thì việc xấu. Nếu hợp tác cầu tài, dễ vì tiền mà sinh kiện tụng.

Mã chú: Tân + Bính – "Cán hợp bội sư". Hợp cách. Nhưng dễ trong hợp tác phát sinh thị phi rắc rối. Đoán việc hợp tác đầu tư: vì tiền bạc mà xảy ra kiện tụng tranh chấp với người khác. Hễ hợp tác thì chắc chắn xảy ra cãi cọ, kiện tụng, thị phi.

10. Bính / Nhâm

Trương chú: Thiên Bàn là Bính, Địa Bàn là Nhâm. Vì Nhâm và Bính xung nhau, Nhâm lại là Thiên La, vì thế gọi là "Hỏa nhập thiên la" (Lửa vào lưới trời) – Hung cách, làm khách bất lợi, thị phi rất nhiều.

Mã chú: Bính + Nhâm – "Hỏa nhập thiên la, vi khách bất lợi, thị phi phả đa". Dương phối Dương không hài hòa, và trong ngũ hành, Thủy và Hỏa là không ổn định nhất. Bính Nhâm ở cùng nhau, chính là rắc rối nhiều, thị phi nhiều, và những rắc rối này đều do ảnh hưởng bên ngoài, do ngoại nhân gây ra, chứ không phải do sai lầm của bản thân. Cách này: "phủ để trừu tân" (rút củi dưới đáy nồi), càng tiến lên thì rắc rối càng nhiều.

11. Nhâm / Bính

Trương chú: Đảo ngược quan hệ chủ khách, nhưng vẫn là xung khắc lẫn nhau. Thiên Bàn Nhâm còn gọi là "Thủy xà", vì thế gọi là "Thủy xà nhập hỏa" (Rắn nước vào lửa) – cũng là hung cách, chủ về quan tai, hình phạt, tù ngục, liên miên bất tận, cả hai đều bại.

Mã chú: Nhâm + Bính – "Thủy xà nhập hỏa". Làm khách bất lợi. Cãi cọ, thị phi, rắc rối chất đống, càng nóng vội càng sinh rắc rối.

12. Bính / Quý

Trương chú: Thiên Bàn là Bính Kỳ, Địa Bàn là Quý Thủy. Quý Thủy khắc Bính Hỏa. Quý ở dưới còn gọi là Địa Võng, vì thế gọi là "Nguyệt kỳ địa võng" cách. Phàm việc tối tăm không rõ, dễ bị âm nhân, tiểu nhân hại việc, gây tai họa.

Mã chú: Bính + Quý – "Nguyệt kỳ địa võng". Âm nhân hại việc, phạm tiểu nhân. Là do người nội bộ gây ra, cần tìm nguyên nhân từ người thân cận, nội bộ, là nội nhân gây ra. Còn Bính + Nhâm là do ảnh hưởng bên ngoài. Phàm cái gì thuộc Dương đều có tính bức xạ; phàm cái gì thuộc Âm đều có tính nội liễm và hấp thụ. Bính + Quý chỉ có người sau lưng giở trò.

13. Quý / Bính

Trương chú: Âm dương điên đảo, Âm Thủy Quý ở trên, Dương Hỏa Bính ở dưới. Quý ở vị trí cao có thể gọi là "Hoa Cái", Bính lại là "Bội Sư", vì thế gọi là "Hoa Cái bội sư" cách. Người sang hay kẻ hèn gặp đều bất lợi. Chỉ có bậc tu dưỡng cao siêu, biết cương biết nhu, khéo léo tùy thế dẫn dắt mới có thể biến bất lợi thành có lợi, đổi giận thành vui.

Mã chú: Quý + Bính – "Hoa Cái bội sư, quý tiện phùng chi giai bất lợi, duy hữu thượng nhân kiến hỷ". Gặp cách này, dễ phạm tiểu nhân, kiêng kỵ phụ nữ tham gia. Gặp cách này, hễ động là có rắc rối.


(4) Trạng thái chủ – khách hình thành giữa Đinh Kỳ với chính nó và các Thiên Can khác

1. Đinh / Đinh

Trương chú: Là "Tinh kỳ phục ngâm" cách. Vì Đinh Kỳ linh ứng nhất. Các Thiên Can khác khi phục ngâm đều không tốt, không nên động; duy chỉ có Đinh Kỳ phục ngâm vẫn là tốt. Chủ về văn thư chứng từ sắp đến, việc vui như ý, vạn sự như ý.

Mã chú: Đinh + Đinh – "Tinh kỳ nhập Thái Âm". Văn thư chứng từ sắp đến, việc vui vừa lòng. Là cách cục tốt nhất trong Kỳ Môn. "Quần tinh xán lạn" (muôn sao rực rỡ).

2. Đinh / Kỷ

Trương chú: Tức Thiên Bàn Đinh Kỳ, Địa Bàn là Giáp Tuất Kỷ. Vì Tuất là khố của Dương Hỏa, Kỷ (địa chi Sửu) là khố của Âm Hỏa. Kỷ Thổ còn gọi là Câu Trần, vì thế gọi là "Hỏa nhập Câu Trần" cách. Chủ về việc âm tư, mưu cầu bất lợi, gian tư thù hận, việc phát sinh do phụ nữ.

Mã chú: Đinh + Kỷ – "Hỏa nhập Câu Trần, gian tư thù oán, sự nhân nữ nhân". Do việc riêng tư của cá nhân mà xảy ra ngoài ý muốn và vấn đề.

3. Kỷ / Đinh

Trương chú: Thiên Bàn Giáp Tuất Kỷ, Địa Bàn Đinh Kỳ. Vì Tuất, Sửu là mộ Hỏa, Đinh Kỳ là Hỏa phương Nam, còn gọi là Chu Tước, người xưa gọi là "Chu Tước nhập mộ". Thực tế, Thiên Bàn là khách, nên đứng từ góc độ Thiên Bàn mà nói, có thể đổi tên thành "Địa hộ Chu Tước" cách. Địa hộ gặp Đinh Kỳ dù sao cũng là tốt, nên cách này chủ về văn thư từ tụng, trước cong sau thẳng, trước xấu sau tốt.

Mã chú: Kỷ + Đinh – Sự việc cần "khúc trung cầu" (trong khuất khúc mà tìm), làm một cách uyển chuyển. Đừng chủ động hấp tấp, cần chậm lại một bước mới thành công. Chủ về việc trước cong sau thẳng.

4. Đinh / Canh

Trương chú: Thiên Bàn Đinh Kỳ, Địa Bàn Canh. Đinh là văn thư, Canh là thần ngăn trở, vì thế gọi là "Tinh kỳ bị tổ" (Sao lạ bị ngăn trở) cách. Canh chủ về văn thư bị ngăn trở, tin tức không thông; nhưng nếu là người xuất ngoại hoặc người đi lạc, gặp Canh bị ngăn trở thì lại chủ về người đi xa ắt trở về.

Mã chú: Đinh + Canh – "Văn thư ngăn trở, hành nhân tất quy". Cũng không phải là cách cục đặc biệt xấu, chỉ là gặp phải bài toán khó, cần lánh và lui về phòng thủ. Đoán đi làm việc gì: đã làm nhưng dừng lại không tiến, lại quay về điểm xuất phát. Đoán hôn nhân: có người tình, nhưng khó ly hôn (vì hành nhân tất quy – người đi xa ắt về).

 

5. Canh / Đinh

Trương chú: Đảo ngược hai bên, Canh ở trên, Đinh ở dưới. Người xưa gọi là "Đình đình chi cách", chúng ta có thể đổi thành cách "Kim ốc tàng kiêu" (Nhà vàng giấu mỹ nhân). Vì Canh thuộc Dương Kim, là đàn ông; Đinh là Ngọc Nữ, là tình nhân, nên chủ về do tư tàng hoặc quan hệ nam nữ mà sinh kiện tụng thị phi. Cửa tốt thì có cứu, cửa xấu thì việc ắt hung.

Mã chú: Canh + Đinh – "Đình đình chi cách". "Kim ốc tàng kiêu" – chồng có người tình, cãi cọ thị phi, gia đình lục đục. Do tư tàng mà khởi kiện tụng thị phi. Đoán sự nghiệp: chủ về do tư lợi cá nhân mà sinh thị phi, bị người tố cáo, làm hao công lợi tư.

6. Đinh / Tân

Trương chú: Thiên Bàn Đinh Kỳ, Địa Bàn Giáp Ngọ Tân. Giáp Ngọ Tân là người có tội, Tân còn là nhà tù, vì thế gọi là "Chu Tước nhập ngục" cách. Từ góc độ Địa Bàn người có tội Tân, trên gặp Đinh Kỳ, tự nhiên là tốt, nên chủ về "tội nhân thích tù" (tội nhân được tha). Nếu từ góc độ Thiên Bàn Đinh Kỳ, Đinh Kỳ là quan nhân, là quý nhân, gặp Tân là ký hiệu của sai lầm, phạm tội, nghĩa là người có chức quyền đã phạm sai lầm, có tù ngục tai ương, ắt sẽ mất địa vị ban đầu, vì thế còn chủ về "quan nhân thất vị" (quan nhân mất chức).

Mã chú: Đinh + Tân – "Chu Tước nhập ngục". Đinh cũng đại diện cho văn chương. "Chu Tước nhập ngục" là phạm sai lầm. Đinh là hy vọng, Tân là sai lầm, khiến hy vọng biến thành sai lầm, cách này không được tốt lắm. Nhưng gặp Đinh Kỳ thường có sự giải cứu. Đoán phạm tội, sai lầm: gặp Đinh Kỳ là có giải cứu.

7. Tân / Đinh

Trương chú: Thiên Bàn là Giáp Ngọ Tân, Địa Bàn là Đinh Kỳ. Giáp Ngọ Tân là người có tội, còn gọi là Ngục Thần, vì thế gọi là "Ngục thần đắc kỳ" cách. Nếu kinh doanh buôn bán cầu tài, có thể thu được lợi nhuận gấp đôi; làm việc khác cũng có thu hoạch ngoài mong đợi; nếu phạm sai lầm cũng sẽ được miễn kỷ luật; tù nhân sẽ được ân xá.

Mã chú: Tân + Đinh – "Ngục thần đắc kỳ". Kinh doanh buôn bán cầu tài là tốt. Đoán tội nhân: được tha. Đoán hôn nhân: chủ về người thứ ba xen vào.

8. Đinh / Nhâm

Trương chú: Thiên Bàn Đinh, Địa Bàn Nhâm, tên là "Kỳ nghi tương hợp" cách. Vì Đinh và Nhâm tương hợp, Nhâm lại là Thiên La, liên quan đến kiện tụng, nên chủ về phàm việc đều thành, có quý nhân trợ giúp, kiện tụng công bằng. Đoán hôn nhân gặp đây, vì Đinh Nhâm hợp là dâm đãng chi hợp, nên phần nhiều là quan hệ bất chính, nhưng cũng không thể đánh đồng tất cả.

Mã chú: Đinh + Nhâm – "Quý nhân ân chiếu, tố tụng công bình". Phàm là hợp cách đều có ý nghĩa tương tự nhưng thông tin khác nhau. Có tổng cộng năm hợp cục, trong đó Giáp – Kỷ hợp là đặc biệt, vì đặc tính của Kỳ Môn (Giáp bị độn lên). Nếu xuất hiện Kỷ gặp Trực Phù thì cũng gọi là hợp cách. Đinh + Nhâm cũng có lợi cho hợp tác, không lợi cho xuất hành, xuất hành chủ về vướng bận. Tuy nhiên, loại hợp tác này thường là hợp tác phi nghĩa, sau này sẽ phát sinh vấn đề. Đoán hôn nhân: chưa cưới đã chung sống.

9. Nhâm / Đinh

Trương chú: Nhâm ở trên, Đinh ở dưới. Đinh Nhâm tương hợp, Nhâm lại là tiểu xà, vì thế gọi là "Cán hợp xà hình" cách. Chủ về văn thư liên lụy, quý nhân bận rộn, nam tốt nữ xấu. Vì Thiên Bàn Nhâm là Dương là nam, gặp Đinh Kỳ tương hợp, tự nhiên là tốt; còn Địa Bàn Đinh là Âm là nữ, trên có Thiên La Nhâm che đầu, dù sao cũng không tốt.

Mã chú: Nhâm + Đinh – "Cán hợp xà hình". Có lợi cho hợp tác, đàm phán. Hợp cách, có lợi cho hợp tác, đàm phán. Gặp hợp cách, thường là người này hòa khí; gặp xung cách, thường là việc rắc rối, việc động đậy. Tỷ hòa cách thì không tốt lắm, chủ về trung dung. Gặp hợp cách, thường không phải hỏi việc của mình, xem hợp với ai, hợp với thời tứ (bốn thời) thì chính là hỏi về người đó.

10. Đinh / Quý

Trương chú: Đinh ở trên, Quý ở dưới. Đinh là Âm Hỏa, Quý là Âm Thủy, lại là Địa Võng, hai bên còn xung nhau, vì thế gọi là "Tước đầu giang" (Chim sẻ lao xuống sông) – Hung cách. Chủ về văn thư, cãi cọ, thị phi, kinh quan động phủ, kiện tụng bất lợi, âm tín chìm mất.

Mã chú: Đinh + Quý – "Chu Tước đầu giang". Sách cổ nói: xuất hành bất lợi nhất. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn phải xem ảnh hưởng của các ký hiệu xung quanh. Đừng thấy Đinh + Quý mà sợ không dám đi máy bay. Có lần, một người bạn học dịch đi máy bay về Tân Cương, gặp Khai Môn lâm Đinh + Quý, mua vé xong sợ quá không dám đi. Nhưng tôi thấy có sao lành thần lành, liền nói không có vấn đề lớn, chỉ có thể máy bay hỏng nhẹ. Sau đó đi, quả nhiên máy bay có trục trặc nhỏ, hạ cánh khẩn cấp ở Lan Châu, sửa xong an toàn đến nơi. Có lần khác, đi ô tô gặp Mậu + Tân "Khốn long bị thương", một người đi cùng để chân lên cửa sổ xe, làm rơi mất giày. Người hay gặp việc nhỏ thì không có tai họa lớn; người ốm yếu thì không có bệnh nặng.

11. Quý / Đinh

Trương chú: Quý ở trên, Đinh ở dưới. Địa Võng Âm Thủy gặp Âm Hỏa. Quý còn gọi là Đằng Xà, rắn bị lửa nướng, tự nhiên cong queo ngo ngoe không ngừng, vì thế gọi là "Xà yểu kiểu" (Rắn uốn éo) – Hung cách. Chủ về văn thư quan phủ, lửa cháy cũng không thoát được.

Mã chú: Quý + Đinh – "Đằng Xà yểu kiểu". Văn thư quan phủ, lửa cháy cũng không thoát. Kiện tụng cãi cọ, vấn đề nhiều như rừng. Đoán xuất hành, hợp tác thì ắt đánh nhau. Ba kỳ Ất, Bính, Đinh gặp lục nghi, đều là trong hung có cát. Nhưng mỗi kỳ có điểm yếu. Đinh gặp Quý thì hỏng; Bính gặp Canh, lực lập tức mất đi; Ất gặp Tân là xấu nhất. Những điều này không cần hóa giải, vốn là đại hung cách.


(5) Trạng thái chủ – khách hình thành giữa Giáp Tuất Kỷ với chính nó và các Thiên Can khác

Kỷ gặp Ất, Bính, Đinh đều không đặc biệt có lợi. Chúng ta biết trong Thập Thiên Can, Mậu và Kỷ là những yếu tố chế ước và cân bằng. Mậu là vấn đề nổi bật; Kỷ là vấn đề ẩn giấu hoặc cạm bẫy. Bất kỳ sự vật nào gặp Kỷ, đều phải cẩn thận, khó tự thoát hoặc rơi vào cạm bẫy. Mậu là lồi lên, Kỷ là lõm xuống, mang tính hấp thụ. Kỷ ở trên, Mậu ở dưới là cân bằng, tốt. Kỷ ở dưới, Mậu ở trên thì Mậu sẽ bị Kỷ hấp thụ.

1. Kỷ / Kỷ

Trương chú: Cả Thiên Bàn và Địa Bàn đều là Giáp Tuất Kỷ. Kỷ còn gọi là Địa Hộ, vì thế gọi là "Địa hộ phùng quỷ" (Địa hộ gặp quỷ) – Hung cách. Đoán bệnh gặp cách này, phát dữ hoặc ắt chết. Cầu mưu việc tốt không thành, có thể tạm thời không mưu cầu, mưu cầu thì gặp hung.

Mã chú: Tỷ hòa cách. Không lợi, phục ngâm, chủ về lòng tham quá mạnh, làm việc bất lực, tự tư nặng, ảo tưởng nhiều. Chỉ mơ đẹp, trăm việc không thuận.

2. Kỷ / Canh

Trương chú: Vì Canh + Kỷ là Hình cách. Nay đảo ngược chủ khách, nên gọi là "Hình cách phản danh". Canh là thần ngăn trở, vì thế không nên mưu việc; kiện tụng ai động trước thì bất lợi; nếu gặp Âm Tinh thì có khả năng bị mưu hại.

Mã chú: (Không có phần Mã chú trong đoạn này, có thể do nội dung gốc thiếu hoặc sẽ tiếp tục ở phần sau. Tạm thời dịch hết phần Trương chú.)

 

2. Kỷ / Canh (tiếp theo)

Mã chú: Kỷ + Canh – "Hình cách phản danh". Kỷ muốn ăn Canh nhưng không nuốt nổi, không tiêu hóa được, nôn cũng không ra, đại diện cho sự khó chịu, gượng ép, là Hình cách. Không làm tổn thương tâm hồn thì cũng tổn thương thể xác.

3. Canh / Kỷ

Trương chú: Canh ở trên, Kỷ ở dưới. Tên là "Quan phủ hình cách" (Hình cách quan phủ). Chủ về kiện tụng thị phi, bị tuyên án phạt tù, ở tù càng xấu. Canh là thần ngăn trở, là ký hiệu xấu; Kỷ là Địa Hộ, là Sửu, là mộ địa của Canh. Vì thế hai bên gặp nhau, dù làm chủ hay làm khách đều không tốt đẹp.

Mã chú: Canh + Kỷ – "Quan phủ hình cách". Hình cách, khó chịu, gượng ép, và sự khó chịu này là không tự nguyện, bị người khác kéo lụy. Tâm hồn hoặc thể xác bị tổn thương.

4. Kỷ / Tân

Trương chú: Tức Giáp Tuất Kỷ gặp Giáp Ngọ Tân. Tuất là mộ của Ngọ Hỏa. Kỷ là Địa Hộ, Tân chủ về người có tội, lại chủ về hài cốt. Vì thế gọi là "Du hồn nhập mộ" (Hồn ma vào mộ) – Hung cách. Chủ về người và quỷ xâm phạm lẫn nhau, nhà ở dễ bị âm tà quỷ mị quấy phá, phàm việc cần cẩn thận giữ gìn.

Mã chú: Kỷ + Tân – "Du hồn nhập mộ", dễ gọi tiểu nhân, và không biết tiểu nhân là ai, bị người hãm hại. Cả hai đều không phải thứ tốt. Kỷ đại diện cho tư dục, cạm bẫy; Tân đại diện cho sai lầm. Bày ra một cái bẫy để bạn phạm sai lầm. Kỷ + Tân "Du hồn nhập mộ", dễ bị lừa gạt, phạm tiểu nhân. Đặc biệt khi dự đoán phong thủy nhà ở, gặp cách này, thường chỉ trong nhà có thứ quái dị. Tôi đã đoán phong thủy hai lần gặp cách này: một lần là dưới nền móng chôn xác trẻ con; một lần là nền móng dưới tòa nhà từng là đền Quan Vũ. Đoán nhà cửa: không sạch sẽ, có âm khí, có ma. Ở Khai Bình có một ngôi nhà ma, phía Tây Nam có một cây cầu nhỏ, nước chảy quanh sang hướng Bắc, lập bàn thấy Kỷ + Tân, gặp Cửu Địa, chủ về ma cũ, Tân chủ về hài cốt, Kỷ chủ về mồ mả. Vì Tân là sai lầm, xương cốt là sai. Nếu chỉ gặp Kỷ có thể không sao, vì không có xương, là mộ rỗng.

Hóa giải: Có hai cách: Một là dùng Giáp Tý Mậu, Giáp Ngọ Tân, Mậu là tiền, đốt tiền để xung tán. Tân mộ ở Thìn, viết chữ "Thìn" đặt ở vị trí Thìn, mua ít vàng mã, rắc ngũ cốc hướng Đông Nam, cúng tế, mua ít giấy, nhang, đốt ở vị trí Thìn. Trong nhà và ngoài nhà đều phải viết chữ Thìn, trong ngoài tương ứng. Đốt vào giờ Tý, vì Giáp Tý Mậu, Tý xung Ngọ, xung là tán. Cách khác là dùng phương pháp hợp, Bính Tân hợp, dùng gương, nếu Kỷ + Tân ở cung Càn thì treo gương trừ yêu ở cung Tuất, nhưng cách này cần dùng khẩu quyết.

Ví dụ khác: buôn bán nhà hàng gặp cách Đinh + Nhâm, hóa giải: Nhâm là Thời Can đại diện cho khách hàng, đặt hai con ngựa lớn ở cửa, trên hai con ngựa đặt hai ngọn nến lớn (Đinh), thắp vào giờ Mùi (Sửu Mùi xung, vì Đinh nhập mộ). Sau đó làm cửa Hỏa Địa Tấn (Hỏa Địa Tấn), vì là nhà hàng lớn, dùng Địa (khôn) chủ về bình ổn. Nhưng chủ nhà làm nhầm thành Hỏa Lôi Phệ Hạp, tài lộc không tốt. Nếu đoán hợp tác làm việc, gặp cách này phải chú ý, đối tác hợp tác của bạn chưa chắc đã là người tốt.

5. Tân / Kỷ

Trương chú: Thiên Bàn là Tân, Địa Bàn là Kỷ. Tân là người có tội, Kỷ là Địa Hộ, là nhà tù, vì thế gọi là "Nhập ngục tự hình" (Vào ngục tự hình) – Hung cách. Chủ về sai lầm do bản thân gây ra, đầy tớ phản chủ, có nỗi khổ oan uổng khó bày tỏ.

Mã chú: Tân + Kỷ – "Nhập ngục tự hình". Đầy tớ phản chủ, có nỗi khổ oan uổng khó bày tỏ. Tuyệt đối đừng giúp người, giúp rồi thành kẻ thù. Vốn dĩ nó là kẻ tiểu nhân, nhưng bạn cứ muốn cứu nó; vốn dĩ nó là rắn độc, nhưng bạn cứ cứu nó. Bị phản bội là do sai lầm của chính bạn. Gặp cách này đừng hợp tác, đừng giúp người, chủ về trong lòng có chuyện ấm ức. Tân + Kỷ còn gọi là "Nô khi chủ" (đầy tớ lấn chủ). Người dưới quyền bạn, trước kia không bằng bạn, nay lại mạnh hơn bạn, ngược lại. Tân + Kỷ, đoán phong thủy mồ mả, phía trước có núi hoặc công trình cao hơn, gần bạn quá. Có thể có mộ cao hơn hoặc núi đè lên bạn, gọi là "nô khi chủ". Phía trước nên thấp mới được, nay ngược lại thì không ổn. Gặp tình huống này khó xử lý, trừ phi nâng cao phần mộ của mình lên. Giáp Kỷ hợp, lợi dụng Trực Phù, Trực Phù đại diện cho bối cảnh, bối cảnh của bạn phải mạnh mới được.

6. Kỷ / Nhâm

Trương chú: Kỷ là Địa Hộ, Nhâm là Thiên Võng. Kỷ ở trên, Nhâm ở dưới, vì thế gọi là "Địa võng cao trương" (Lưới đất giăng cao) – Hung cách. Phàm việc không tốt, mưu cầu bất lợi. Một âm một dương trong tối xung khắc: Kỷ là Âm, Nhâm là Dương; Giáp Tuất Kỷ và Giáp Thìn Nhâm lại có Thìn Tuất xung nhau, vì thế dễ xảy ra chuyện nam nữ dâm ô, tình thương sát hại.

Mã chú: Kỷ + Nhâm – "Địa võng cao trương". Xung cách, Thìn Tuất tương xung chủ về ấm ức, tức giận, tranh chấp, xung đột. Thiên Cương và Địa Sát, ai cũng không phục ai, chủ về cãi cọ thị phi, kiện tụng. Lớn thì quan tụng, nhỏ thì thị phi cãi cọ.

7. Nhâm / Kỷ

Trương chú: Nhâm ở trên, Kỷ ở dưới. Giáp Thìn Nhâm và Giáp Tuất Kỷ, Thìn Tuất xung nhau. Nhâm lại là rắn, vì thế gọi là "Phản ngâm xà hình" (Rắn hình phản ngâm) – Hung cách. Chủ về kiện tụng thua, đại họa sắp đến. Thuận theo mà giữ gìn thì có thể tốt, hành động thiếu suy nghĩ ắt gặp hung.

Mã chú: Nhâm + Kỷ – Trong âm dương phối hợp, chỉ có Nhâm và Kỷ là thế không đội trời chung, là đặc biệt. Nhâm + Kỷ gọi là "Phản ngâm xà hình". Vốn dĩ không thay đổi thì còn là việc tốt, giữ trung lập còn bình an; nhưng thay đổi này lại nhảy xuống giếng. Nhâm + Kỷ, là sự thay đổi rơi vào cạm bẫy, bị người gài bẫy và hãm hại. Cục này, động là không tốt. Cãi cọ thị phi nhiều. Kỷ Nhâm tương phùng đấu tụng tràng, Nhâm Bính tương phùng thị phi đa.

8. Kỷ / Quý

Trương chú: Giáp Tuất Kỷ gặp Giáp Dần Quý. Kỷ Thổ khắc Quý Thủy, Quý Thủy lại ở phương Bắc Huyền Vũ, vì thế gọi là "Địa hình Huyền Vũ" (Hình đất gặp Huyền Vũ) – Hung cách. Chủ về nam nữ bệnh tật nguy kịch, có tai họa tù ngục kiện tụng.

Mã chú: Kỷ + Quý – "Địa hình Huyền Vũ". Cũng là cách cục dễ phạm tiểu nhân, dễ cãi cọ thị phi. Và dễ bị lừa gạt. Hợp tác, xuất hành dễ bị người phá hoại và lừa gạt. Cãi cọ thị phi, có bệnh tật, tổn thương.

9. Quý / Kỷ

Trương chú: Đảo ngược chủ khách, Quý ở trên có thể gọi là Hoa Cái, vì thế gọi là "Hoa Cái địa hộ" – Hung cách. Nam nữ đoán đều thấy âm tín bị ngăn trở. Cách này lấy tránh tai nạn làm tốt.

Mã chú: Quý + Kỷ – "Hoa Cái địa hộ". Âm tín đều ngăn trở. Yêu cầu bạn phải yên tĩnh, lui về phòng thủ, dừng lại, chờ đợi, quan sát thì bạn không có việc gì, ứng với cát. Nếu lung tung va chạm thì sẽ ra tai họa. Là một tiểu xung cách, không lợi cho khách, tư dục ảo tưởng nhiều, khó thực hiện. Tương tư đơn phương, làm không thành.


(6) Trạng thái chủ – khách hình thành giữa Giáp Thân Canh với chính nó và các Thiên Can khác

Canh là trọng tâm của Kỳ Môn Độn Giáp. Canh cộng với bất cứ gì cũng không tốt. Canh là điều quan trọng nhất trong một sự vật, giống như sự đối lập Đông – Tây hiện nay, Mỹ chính là Canh. Lúc nào Ngoại trưởng Mỹ là phụ nữ gốc Hoa, hoặc xuất hiện nữ MC dẫn chương trình gốc Hoa, thì quan hệ Trung – Mỹ mới có thể cải thiện đáng kể. Ngày đó sẽ đến (Ất Canh / Đinh Canh). Hãy nhớ rằng, nói chung gặp Canh và Bính đều chịu ảnh hưởng từ người khác; còn gặp Kỷ và Tân đều do nguyên nhân từ bản thân, do tham lợi nhỏ và tư dục gây ra sai lầm.

10. Canh / Canh

Trương chú: Tên là "Thái Bạch đồng cung", còn gọi là "Chiến cách". Hai hung thần gặp nhau, ắt sẽ tranh đấu lẫn nhau, nên chủ về đồng nghiệp, bạn bè hoặc anh em không hòa thuận, không những bất lợi cho mưu việc, mà còn dễ gây ra quan tai, tai họa bất ngờ.

Mã chú: (Không có phần Mã chú trong đoạn này, có thể do nội dung gốc kết thúc ở đây hoặc sẽ tiếp tục ở phần sau. Tạm thời dịch hết phần Trương chú.)

 

10. Canh / Canh (tiếp theo)

Mã chú: Canh + Canh – "Thái Bạch đồng cung, chiến cách". Cách này trong phục ngâm cách là một trường hợp đặc biệt, nó lợi khách không lợi chủ, không có lợi cho việc nằm im phòng thủ, mà phải hành động tích cực, có lợi cho chiến đấu và tấn công. Canh + Canh, chính là kẻ thù gặp mặt, ai động trước thì có lợi. Là xung cách, chiến cách. Rất bất lợi cho hợp tác, hợp tác ắt đánh nhau. Đoán cho người già, Thời Can gặp Canh + Canh, hai con trai đánh nhau, bất hòa. Đoán công ty: chủ về nội bộ hỗn loạn, nội ưu ngoại hoạn, là điềm tái tổ chức.

11. Canh / Tân

Trương chú: Canh và Tân đều là Bạch Hổ, hai bên gặp nhau, vì thế gọi là "Bạch Hổ cán cách" (Bạch Hổ can thiệp). Vì Canh là Thái Bạch Kim tinh, nên còn gọi là "Thái Bạch hình cách". Đi xa bất lợi, mọi việc đều có tai ương.

Mã chú: Canh + Tân – "Bạch Hổ cán cách". Chủ về đánh nhau, bị thương, phạm sai lầm. Do xung động, đánh lộn. Sách cổ nói: không nên đi xa, đi xa thì xe gãy ngựa thương, mọi việc có tai ương. Nhưng thực tế xét thấy, vì là tổ hợp một âm một dương, không phải đặc biệt xấu.

12. Tân / Canh

Trương chú: Vì Tân là Thiên Ngục; gặp Canh cùng loại tàn sát lẫn nhau, vì thế gọi là "Thiên ngục tự hình" cách, còn gọi là "Bạch Hổ xuất lực" cách. Chủ về chủ khách tàn sát lẫn nhau, đao kiếm gặp nhau, nhường nhịn lui bước một chút thì tạm ổn, cố gắng tiến lên thì máu me đầy áo.

Mã chú: Tân + Canh – "Bạch Hổ xuất lực, đao kiếm tương giao, chủ khách tương tàn". Do sai lầm của bản thân, dẫn đến sai lầm từ bên ngoài. Vì sơ suất của mình mà gây ra ảnh hưởng từ bên ngoài, dẫn đến vấn đề lớn hơn. Bất lợi cho hợp tác, bất lợi cho chủ động làm, càng cố gắng làm thì càng xui.

13. Canh / Nhâm

Trương chú: Canh + Nhâm là "Tiểu cách", còn gọi là "Thượng cách". Nhâm Thủy chủ về lưu động, Canh là thần ngăn trở, vì thế chủ về đi xa lạc đường, âm tín không thông. Nhưng nếu đứng từ góc độ của Canh, Canh là Dụng Thần, gặp Nhâm Thủy lưu động, lại có ý biến hóa, thay đổi, nên cách này còn gọi là "Di đãng cách" (Cách lay động).

Mã chú: Canh + Nhâm – Xung cách, "Di đãng cách", "Tiểu cách", động đậy bất an, lo âu, di chuyển liên tục. Xuất hành gặp Canh + Nhâm, tắc đường không kẹt được. Đoán công việc gặp Canh + Nhâm, thường là điều chuyển công tác, luân chuyển trong nội bộ đơn vị. Thường là sự thay đổi và điều chỉnh mang tính cục bộ.

14. Nhâm / Canh

Trương chú: Vì Nhâm là rắn, Canh là Thái Bạch. Rắn gặp Thái Bạch bị ngăn cản, vì thế gọi là "Thái Bạch cầm xà" (Thái Bạch bắt rắn) – cách tốt. Phàm mưu việc khó tiến triển, nhưng nếu gặp kiện tụng thì hình ngục công bằng, lập tức phân rõ tà chính.

Mã chú: Nhâm + Canh – "Thái Bạch cầm xà". Nếu đoán cuộc đời (chung cục) gặp cách này: một là làm chính khách; hai là làm nghiên cứu khoa học; ba là làm giáo viên. Là cách tốt, thường có chủ kiến đúng đắn, không bị các yếu tố khác hoặc bất lợi làm mê hoặc, có thể nhìn rõ phương hướng. Gặp Nhâm + Canh, bạn không thể lừa được người ta. Gọi là "lập phẫu tà chính" (mổ xẻ ngay, phân rõ tà chính), phân biệt đúng sai rõ ràng. Đàm phán, đối phương lâm Nhâm + Canh, bạn muốn lừa họ, cửa cũng không có. Ví dụ Lục Hợp lâm Nhâm + Canh, đoán hôn nhân hoặc hợp tác, tìm được người môi giới như vậy là tốt, trung lập, công minh làm việc. Đoán học tập, gặp Nhâm + Canh, giáo viên có trình độ. "Lập phẫu tà chính" – thầy giáo phân biệt được đúng sai. Đoán việc cũng tà chính phân minh.

15. Canh / Quý

Trương chú: Canh + Quý là "Đại cách". Vì Giáp Thân Canh và Giáp Dần Quý có Dần Thân xung nhau, hình nhau, nên là đại hung cách. Canh lại là đường sá, nên chủ về tai nạn xe cộ, người đi không đến, kiện tụng không dứt. Nếu đoán sinh đẻ, thì có thể mẹ con đều bị thương.

Mã chú: Xung cách, "Đại cách". "Bình tích tứ hại" (dấu tích phiêu bạt bốn phương), biến hóa lớn, thay đổi triệt để. Chạy đông chạy tây khắp bốn biển, cách vượng thì là người lập nghiệp xa quê. Hoặc làm quan cao, phục vụ cho lãnh đạo lớn; cách suy thì làm thuê cho người khác. Hai cách này đều là xung cách, đoán công việc thì hoặc là thường xuyên đi công tác chạy hàng, hoặc phải điều chuyển công việc.

16. Quý / Canh

Trương chú: Quý ở trên, Canh ở dưới. Quý còn gọi là Địa Võng, Canh là Thái Bạch, vì thế gọi là "Thái Bạch nhập võng" cách. Vì Dần Thân xung hình, nên phàm việc chẳng thành, việc tốt cũng dễ hóa không. Lại chủ về dùng bạo lực kiện tụng, tự chuốc lấy tội lỗi.

Mã chú: Quý + Canh – "Thái Bạch nhập võng". Chủ về dùng bạo lực kiện tụng, tự chuốc lấy tội lỗi. Là sự việc khó kiểm soát, dễ bị người khác, việc khác ảnh hưởng, gây ra phiền phức và thị phi. Chủ về đánh nhau, xung đột, dễ có người khác đến phá hoại, quấy nhiễu. Do xung đột, xúc động gây ra. Phàm việc chẳng thành, việc tốt cũng dễ hóa không.


(7) Trạng thái chủ – khách hình thành giữa Giáp Ngọ Tân với chính nó và các Thiên Can khác

Canh Kim thường đại diện cho hậu quả xấu do bên ngoài mang lại; còn Tân Kim là ảnh hưởng xấu do nội bộ hoặc nội nhân gây ra.

1. Tân / Tân

Trương chú: Tức Giáp Ngọ Tân gặp Giáp Ngọ Tân. Vì Ngọ Ngọ tự hình, Tân còn gọi là Thiên Ngục, Thiên Đình, vì thế gọi là "Phục ngâm thiên đình" cách. Chủ về việc tự làm tự vỡ, tiến thoái không quả quyết, việc công bỏ, việc tư thành, kiện tụng tự chuốc lấy tội danh.

Mã chú: Tân + Tân – "Phục ngâm thiên đình". Bệnh tật nhiều, lỗ hổng đầy ra. Cứ hay chê bai lỗi người khác, nhưng thực ra đều là vấn đề do mình gây ra. Là tự mình tạo việc cho mình. Tân + Tân – một đống sai lầm ở cùng nhau, chỉ sai lầm do mình tạo ra, lỗi lầm do mình gây ra, không thể trách ai được.

 

2. Tân / Nhâm

Trương chú: Vì Tân là lao ngục, Nhâm là rắn dữ, vì thế gọi là "Hung xà nhập ngục" (Rắn dữ vào ngục) – Hung cách. Chủ về kiện tụng không dứt, ai động trước thì mất lý. Lại vì trong Giáp Thìn Nhâm, Thìn là mộ khố của Tân Kim. Tân ở trên làm khách, là động, hễ động ắt trước hết vào mộ Thìn, nên gọi là "tiên động thất lý" (động trước thì mất lý).

Mã chú: Tân + Nhâm – "Hung xà nhập ngục". Kiện tụng không dứt, tranh chấp. Do sai lầm của bản thân dẫn đến cạnh tranh hoặc đồng thời bị ảnh hưởng từ nhiều phía. Hai nam tranh một nữ, dễ xảy ra ngoại tình, tình tay ba. Và bị cả hai phát hiện cùng lúc, gây ra đánh nhau. Đoán việc thì biểu thị xảy ra kiện tụng dây chuyền, tam giác, liên lụy nhiều người nhiều mặt.

3. Nhâm / Tân

Trương chú: Nhâm ở trên, Tân ở dưới. Tân Kim nhập mộ Thìn, trong mộ Thìn có Nhâm Thủy. Nhâm là Đằng Xà, lại là Thiên Võng, trùm lên Tân Kim, vì thế gọi là "Đằng Xà tương triền" (Rắn quấn lấy nhau) – Hung cách. Dù gặp Cửa lành cũng không thể yên ổn, nếu có mưu cầu, sẽ bị người lừa gạt.

Mã chú: Nhâm + Tân – "Đằng Xà tương triền". Thị phi quấn quanh, rắc rối nhiều. Nếu có mưu cầu, bị người lừa gạt. Biết là bị lừa mà vẫn nhảy vào. Nội ưu ngoại hoạn, không dứt, không có việc nghiêm túc nhưng rất nan giải. Rắc rối chất đống, không giải quyết được, đâu đâu cũng có, nội ưu ngoại hoạn.

4. Tân / Quý

Trương chú: Tân là Thiên Lao, Quý là Hoa Cái, vì thế gọi là "Thiên lao hoa cái" cách. Chủ về nhật nguyệt thất minh, lầm vào Thiên Võng, hành động quái gở. Tân là Bạch Hổ, Quý là Địa Võng, vì thế còn gọi là "Hổ đầu địa võng" (Hổ lao vào lưới đất).

Mã chú: Tân + Quý – "Thiên lao hoa cái". Do sai lầm của mình, lầm vào Thiên Võng, đi sai đường, là do phán đoán sai lầm, đã vào trong lưới. Đoán buôn bán không thể làm, phán đoán sai.

5. Quý / Tân

Trương chú: Quý ở trên, Tân ở dưới. Quý là Địa Võng, Tân là Thiên Lao, vì thế gọi là "Võng cái thiên lao" (Lưới che trời, lao ngục) – Hung cách. Chủ về kiện tụng thua, tội chết khó thoát, đoán bệnh cũng đại hung.

Mã chú: Quý + Tân – "Võng cái thiên lao". Chủ về kiện tụng thua, tội chết khó thoát, đoán bệnh cũng đại hung. Đây là cách cục xấu nhất trong Kỳ Môn. Đoán vận khí của người gặp cách này, thường chủ về tù ngục. Đặc biệt nếu rơi vào cung Tốn (Đông Nam), đều có tai họa tù ngục. Cách duy nhất là không làm gì cả, tĩnh lặng bế quan, bạn không động thì lưới không giăng xuống. Quý + Tân, lạc cung Tốn, phạm tội hoặc từng ngồi tù. Lần trước, tôi đi Đường Cô, bạn bè mời ăn, một người mặc đồng phục thuế vụ ngồi ở cung Tốn, anh ta hỏi vận khí, tôi thực sự không thấy điểm tốt, liền nói với anh ta: "Anh phải cẩn thận, có tù ngục kiện tụng đấy." Hóa ra người này vừa mới mãn hạn 5 năm ra tù. Trẻ con gặp cách này, phạm lỗi, không thích ra khỏi nhà. Lạc cung Tốn, dễ có tù ngục tai ương. Vì Tốn chủ về cơ quan chấp pháp.


(8) Trạng thái chủ – khách hình thành giữa Giáp Thìn Nhâm với chính nó và các Thiên Can khác

Nhâm không phải là ký hiệu xấu, mà là sự phát triển và biến hóa, là ký hiệu tích cực nhất. Đôi khi Nhâm cũng biểu thị ý nghĩa kỳ tích xảy ra. Vì bất kỳ sự vật nào khi nó trì trệ hoặc do dự đều sẽ phát sinh vấn đề, nên phục ngâm cục có vấn đề, khó chịu. Sự vật muốn phát triển thì phải có biến hóa. Nhâm chính là thông tin của biến hóa. Bất kỳ sự vật nào nếu có thể biến hóa, có thể động, đều sẽ mang đến cơ hội tốt hoặc xấu; nhưng không biến hóa thì không có cơ hội. Tại sao có người cần cù cả đời mà không có cơ hội phát triển, đề bạt? Tại sao có người vừa đến đã được trọng dụng và đề bạt? Vấn đề nằm ở sự biến hóa. Khi gặp Nhâm, phải cố gắng thay đổi!

1. Nhâm / Nhâm

Trương chú: Tức Giáp Thìn Nhâm gặp Giáp Thìn Nhâm. Nhâm là Thiên La, còn gọi là Thiên Ngục, Thìn Thìn tự hình, vì thế gọi là "Thiên ngục tự hình" cách. Lại vì Nhâm là rắn, Nhâm còn gọi là Địa La, vì thế còn gọi là "Xà nhập địa la" (Rắn vào lưới đất) – Hung cách. Chủ về mưu cầu không thành, tai họa phát sinh từ nội bộ, các việc đều đổ vỡ, ngoại nhân quấy nhiễu, nội sự rối ren. Nếu gặp Cửa lành, Sao lành thì còn có thể giải tỏa khốn quẫn.

Mã chú: Nhâm + Nhâm – "Thiên ngục tự hình, xà nhập địa la". Hỗn loạn, nội ưu ngoại hoạn. Chủ về việc dây dưa. Càng biến càng loạn. Đoán gia đình hoặc công ty, đều là trong ngoài đều có việc. Đoán hợp tác: "ấn qua hồ lô nổi lên bầu" (dẹp được cái này thì cái kia nổi lên), nội ưu ngoại hoạn. Nội nhân và ngoại nhân đồng thời quấn lấy bạn. Trăm con thỏ kéo xe, hỗn loạn, không thoát ra được. Còn Quý + Quý gọi là "Thiên võng tứ trương". Nhâm + Nhâm là sự hỗn loạn không có trật tự; còn Quý + Quý là có trật tự và quy luật. Nhâm + Nhâm là khó giải quyết, không tìm được nguồn gốc và điểm đột phá. Còn Quý + Quý, chỉ cần bạn không loạn, vô cùng trấn tĩnh gỡ rối từng chút, thì chẳng có việc gì, không hành động thiếu suy nghĩ thì không sao. Còn Nhâm + Nhâm, bất kể bạn có động hay không, nó vẫn tìm đến bạn.

2. Nhâm / Quý

Trương chú: "Thiên La phùng Địa Võng" (Trời lưới gặp đất lưới) – cách cục, mọi việc đều bất lợi. Lại Dương Thủy ở trên, Âm Thủy ở dưới, hai nước gặp nhau, âm dương giao hòa. Huyền Vũ Thủy lại chủ về việc ái muội, vì thế cách này còn gọi là "Ấu nữ gian dâm" (Trẻ gái dâm ô) – hung cách, chủ có việc xấu trong nhà lộ ra ngoài. Nếu Cửa tốt, có thể gọi là "phong lưu nam nữ"; nếu Sao xấu, nói rõ bản chất xấu và khó thay đổi, cho nên ắt phúc hóa họa, do nam nữ ái muội mà gây ra tai họa.

Mã chú: Nhâm + Quý – "Ấu nữ gian dâm, chủ hữu gia sửu ngoại dương chi sự phát sinh" (việc xấu trong nhà lộ ra ngoài). Là bên ngoài không có việc gì, nhưng bên trong lại có vấn đề. Bên ngoài một mảnh hòa hợp, nguyên nhân nằm ở bên trong, ngoài thanh mà trong đục. Chỉ cần tự mình làm rõ việc của mình thì bên ngoài thường rõ ràng. Cho thấy sự việc chưa làm mà vấn đề đã chất đống, lỗi lầm đã bộc lộ. Chủ về vấn đề nội bộ.

3. Quý / Nhâm

Trương chú: Quý ở trên, Nhâm ở dưới, âm dương điên đảo. Quý, Nhâm đều là thủy xà, vì thế gọi là "Phục kiến đằng xà" (Lại thấy rắn quấn) – hung cách. Chủ về gả chồng lấy vợ tái hôn, lấy sau không có con, không giữ được tuổi xuân. Suy rộng ra, chủ về sự vật biến hóa, đổi chủ, hoặc đổi đối tác hợp tác.

Mã chú: Quý + Nhâm – "Phục kiến đằng xà". Gọi là lặp lại những sai lầm trước đây, phạm đi phạm lại, lại dẫn đến thất bại lần hai. Có người làm việc gặp đúng Quý + Nhâm, họ nhắc lại chuyện cũ, trước đã thất bại, nay cũng không có kết cục tốt. Là điềm lặp lại, không có kết quả.


(9) Trạng thái chủ – khách hình thành giữa Giáp Dần Quý với chính nó và các Thiên Can khác

Quý gọi là Thiên Võng, còn gọi là Hoa Cái. Đặc tính thông tin của Quý Thủy: chỉ cần bạn giữ sự trầm tĩnh, không hành động mù quáng, thì sẽ có thông tin từ xấu chuyển sang cơ hội. Bạn hành động thiếu suy nghĩ thì đâm vào lưới, không động thì rất tự tại. Hoa Cái là cái lọng vua đánh. Quý có trật tự, có quy luật có thể tuân theo. Gặp Quý, nói chung là yên tĩnh, phòng thủ, chờ đợi, không làm gì cả thì không có vấn đề lớn.

1. Quý / Quý

Trương chú: Quý là Địa Võng. Trên là lưới, dưới cũng là lưới, vì thế gọi là "Thiên võng tứ trương" (Lưới trời giăng bốn phía) – hung cách. Lưới trời giăng bốn phía, không thể mưu việc, chỉ nên lui tránh. Nếu cố gắng mưu việc, không những không thành mà còn gây ra tai họa. Vì thế chủ về người đi xa mất bạn, bệnh tật, kiện tụng đều tổn thương. "Thiên võng tứ trương" nếu rơi vào các cung 1, 2, 3, 4 (cung Khảm, Khôn, Chấn, Tốn) là lưới thấp, bị khốn nặng hơn, tốt nhất nên lùi tránh nhẫn nại, chờ thời cơ. Nếu rơi vào các cung 6, 7, 8, 9 (cung Càn, Đoài, Cấn, Ly) là lưới cao, có thể bò trườn ra ngoài, nên vẫn có thể cẩn thận mưu việc, để từng bước thay đổi hoàn cảnh bị khốn.

Mã chú: "Thiên võng tứ trương", lợi tĩnh bất lợi động, xuất hành có bạn đồng hành thì dễ thất tán, còn dễ mắc bệnh. Quý + Quý – "Thiên võng tứ trương". Nó có một đặc điểm lớn nhất: chỉ cần độc lập xuất hành, độc lập làm việc thì không sao, sợ nhất là đi nhiều người và hợp tác. Cách cục dễ xảy ra vấn đề nhất trong hợp tác chính là Canh + Canh / Quý + Quý, hễ hợp tác, người đông lên thì mâu thuẫn xuất hiện.


Hoàn thành toàn bộ bản dịch "Thập Can Khắc Ứng" của Trương Chí Xuân và Mã Học Thanh.