KỲ MÔN CHỦ KHÁCH CHIÊM NGHIỆM PHÁP
KỲ MÔN CHỦ KHÁCH CHIÊM NGHIỆM PHÁP
Kỳ Nghi ứng vào lúc ban đầu, Cửu Tinh ứng vào giữa giờ, Bát Môn ứng vào cuối giờ
Luận rằng: Sự ứng nghiệm của Kỳ Môn có thời điểm trước sau, có ứng với chủ và khách. Suy luận dựa trên khái niệm "bên kia – bên này, người – ta". Đại khái, Kỳ Nghi ứng vào lúc ban đầu, Cửu Tinh ứng vào giữa giờ, Bát Môn ứng vào cuối giờ. Suy xét tuần tự theo thứ tự đó, không gì là không ứng nghiệm như thần.
Nếu ta đi tìm người, ta là khách, người kia là chủ, lấy sao ở Thiên bàn làm ta, sao ở Địa bàn làm người kia. Nếu người kia đến tìm ta, người kia là khách, ta là chủ, sao ở Thiên bàn là người kia, sao ở Địa bàn là ta. Xem xét: người kia đến sinh ta hay ta sinh người kia. Người kia sinh ta thì lợi ích thuộc về ta; ta sinh người kia thì lợi ích thuộc về người kia. Người kia khắc ta thì tổn hại ở ta; ta khắc người kia thì tổn hại ở người kia. Lại có thể lấy: ngày Âm thì sao Thiên bàn là ta, ngày Dương thì sao Địa bàn là người kia; nếu bỉ hòa (tỷ hòa) thì không tổn hại. Cứ tuần tự theo thứ tự đó mà suy luận.
Kỳ Môn viết: "Có Dương vật Âm, đức lộc tại môn. Vô âm bán cát, hữu âm hân hân". (Chú thích: "Dương" ở đây chỉ [Kỳ Môn bàn] được bố cục, "Âm" chỉ Lục Giáp Âm Phù sau khi biến thông – bí mật không hiển lộ của Kỳ Môn Độn Giáp)
Độn Giáp lợi cho Chủ
Lấy người đến trước làm chủ, người đến sau làm khách.
Thiên Anh gia vào Khảm cung: lợi cho chủ. Nếu vào các tháng mùa Thu, Đông, và các ngày Nhâm, Quý, Hợi, Tý, có mây khí màu đen từ chính Bắc đến, trợ giúp thì chủ thắng.
Thiên Nhuế, Thiên Nhâm, Thiên Cầm gia vào Chấn, Tốn cung: lợi cho chủ. Nếu vào các tháng mùa Xuân, Hạ, và các ngày Giáp, Ất, Dần, Mão, có mây khí màu xanh từ Đông Nam hoặc chính Đông đến, trợ giúp thì chủ đại thắng.
Thiên Bồng gia vào Khôn, Cấn cung: lợi cho chủ. Nếu vào các tháng cuối mùa (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) và các ngày Mậu, Kỷ, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, có mây khí màu vàng từ Đông Bắc hoặc Tây Nam đến, trợ giúp thì chủ đại thắng.
Thiên Trụ, Thiên Tâm gia vào Ly cung: lợi cho chủ. Nếu vào mùa Hạ, các ngày Bính, Đinh, Tỵ, Ngọ, có mây khí màu đỏ đến, trợ giúp thì chủ đại thắng.
Độn Giáp lợi cho Khách
Thiên Bồng gia vào Ly cung: lợi cho khách. Nếu vào mùa Thu, Đông, các ngày Nhâm, Quý, Hợi, Tý, có mây khí màu đen từ phương Bắc đến, trợ giúp thì khách thắng.
Thiên Trụ, Thiên Tâm gia vào Chấn, Tốn cung: lợi cho khách. Nếu vào mùa Thu và các tháng cuối mùa, các ngày Canh, Tân, Thân, Dậu, có mây khí màu trắng từ phương Tây đến, trợ giúp thì khách thắng.
Thiên Nhâm, Thiên Nhuế, Thiên Cầm gia vào Khảm cung: lợi cho khách. Nếu vào các tháng cuối mùa, các ngày Mậu, Kỷ, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, có mây khí màu vàng từ Tây Nam hoặc chính Nam đến, trợ giúp thì khách thắng.
Thiên Phụ, Thiên Xung gia vào Khôn, Cấn cung: lợi cho khách. Nếu vào mùa Xuân, Hạ, các ngày Giáp, Ất, Dần, Mão, có mây khí màu xanh từ phương Đông đến, trợ giúp thì khách thắng.
Thiên Anh gia vào Càn, Đoài cung: lợi cho khách. Nếu vào mùa Xuân, Hạ, các ngày Bính, Đinh, Tỵ, Ngọ, có mây khí màu đỏ từ phương Nam đến, trợ giúp thì khách thắng.
Luận Chủ – Khách
Thái Công nói: Phàm chủ – khách, động – tĩnh không nhất định, biến hóa khó lường, cho nên có tượng chủ khách bất định. Hoặc người động trước là khách, người động sau là chủ; hoặc người đã động là khách, người tĩnh là chủ; hoặc lấy tiếng vang trước là khách; hoặc lấy Thiên bàn làm khách, Địa bàn làm chủ. Mọi việc đều có quyết định. Sự thành bại thắng bại đều liên quan mật thiết đến chủ – khách.
Ví dụ như xuất quân động chúng: lấy ta làm khách, đến đất của họ làm chủ; hoặc ổ giặc, hoặc thành trì bị giặc xâm phạm là chủ. Hoặc lấy Dương làm khách, Âm làm chủ; hoặc phản khách vi chủ (trở khách thành chủ), phản chủ vi khách (trở chủ thành khách). Nếu việc tuyển tướng tìm hiền, chiêu binh mãi mã, đi lại thăm bạn, thì ta là khách, đất ấy và người ấy là chủ. Nếu có người cầu ta, hoặc báo cho ta mà ta chưa biết, thì người kia là khách, ta là chủ. Nếu đang đối trận, hoặc không ở thế đối địch, thì lại có chủ khách khác. Nếu lúc giao phong, lợi cho khách thì nên ra oai, bắn pháo, hò hét; nếu lợi cho chủ thì chỉ nên im hơi lặng tiếng, mai phục chờ địch để thủ thắng.
Phàm xuất quân cần xem ổ giặc xa gần thế nào. Nếu lúc xuất quân mà chưa giao chiến ngay, không thể lấy việc động trước làm khách, mà phải đợi khi gần địch mới xác định chủ khách, đến lúc đó mà dùng cũng được. Nếu lúc đó chủ khách đều bất lợi, chỉ nên cố thủ. Nếu cấp bách hoặc bị vây khốn, thì nên dùng kế thắng, hoặc vận trù bế Lục Mậu, hoặc thừa Thiên Mã, hoặc viết phù niệm chú v.v… cũng được.
Đối với việc nước, việc tỉnh, phủ, huyện, làng xã, đều lấy Địa bàn làm chủ, Thiên bàn làm khách. Việc người thì quá nhiều, không thể kể hết. Đại khái, các sao ở Thiên bàn sinh hợp với Địa bàn là thượng sách; Địa bàn sinh hợp với Thiên bàn là thứ sách. Nếu khách sinh chủ thì mọi việc ý muốn đều viên mãn, tiến ích nhiều mặt; chủ sinh khách thì hao tán, chậm trễ; chủ khách tỷ hòa thì hành tàng đều thuận; chủ khắc khách thì nửa thực nửa hư, tự bại, việc hão huyền không thành; khách khắc chủ thì chiến bại vô thành, cầu cát gặp hung. Cho nên người giỏi dùng Kỳ Môn trước hết phải phân biệt chủ khách, sau đó mới rõ phương pháp chiêm nghiệm. Nếu thời khắc này lợi cho chủ thì ta đều làm chủ; thời khắc này lợi cho khách thì ta đều làm khách. Hoặc lấy tiến làm khách, không tiến làm chủ. Ở tại một tâm ta, không thể cố chấp. Làm chủ hay làm khách, tùy ta quyết định cũng được.
Tổng luận về phương pháp chiêm nghiệm Kỳ Môn
Theo Kỳ Môn, bài ca Quý Nhân giống với Lục Nhâm, chỉ khác: sau Đông Chí thì dùng Dương quý, sau Hạ Chí thì dùng Âm độn quý – điểm này khác với Lục Nhâm.
Bàn trên tượng trời, gọi là Cửu Tinh.
Bàn giữa tượng người, gọi là Bát Môn.
Bàn dưới tượng đất, gọi là Cửu Cung.
Phép dùng: Phàm chiêm cát hung, trước hết coi trọng Cửu Tinh, vì Cửu Tinh là Thiên bàn, cát hung do trời. Hễ sao khắc môn là cát, môn khắc sao là hung. Phàm xuất hành, tránh hung, trước hết coi trọng Bát Môn, vì Bát Môn là Nhân bàn, cát hung do tự mình lấy. Hễ môn khắc cung là cát, cung khắc môn là hung, gây hại việc người, cho nên hung. Phàm việc tạo táng, xây dựng, dời nhà, trước hết coi trọng Cửu Cung, vì Cửu Cung là Địa bàn, việc dời chuyển đều khởi từ đất. Cho nên môn và cung sinh trợ lẫn nhau đều là cát, tương khắc đều là hung. Nếu nắm được ý này mà suy luận, thì mọi việc liên quan đến trời người, không gì không thể dùng số lý để thông huyền diệu. Đây chỉ cách dùng cho người học.
Truyện rằng: Kỳ Môn đã phân làm ba bàn, trong bàn trên và bàn dưới đều có một can. Địa bàn cung có Kỳ Nghi là vậy. Trên dưới đối chiếu, một khi thành cách thì hiển nhiên có thể biết, như Giáp gia Bính, Ất gia Tân v.v… Chỉ có dưới chủ tinh và trong phi môn có giấu một can, gọi là giá trị sử gia thời chi pháp. Lại khởi số từ đầu của trực phù, đến chỗ thời can dừng lại, từ Giáp đến Ất, từ Ất đến Quý để tìm thời chi, thì trong Bát Môn lại thay một can, gọi là Phi Can. Can này không hề lộ ra trên bàn diện, nằm ngoài bàn trên và bàn dưới. Khi đếm thời chi dùng Giáp, Ất sắp xếp mà có được, cho nên gọi là Ám Tàng (giấu kín). Nó như ẩn như hiện, biến hóa vô cùng. Xưa nay chưa ai nhận biết được.
Ví dụ: Phi Môn (chính là Bát Môn ở bàn giữa) đã sinh chủ tinh, nhưng bỗng nhiên trong Phi Môn có Canh bay đến (đây là lấy thời chi từ Giáp, Giáp Ất bay đến nhưng không hiển lộ). Mọi việc bề ngoài tuy tốt đẹp, nhưng bên trong lại lận đận, trắc trở. Lại như Phi Môn đã khắc chủ tinh, mọi việc chiêm nghiệm đều đại hung, nhưng bỗng nhiên trong Phi Môn có Kỳ bay đến (tức Phi Can là Ất, Bính, Đinh), thì mọi việc bề ngoài tuy hung, nhưng bên trong thực ra có nhiều điều ngầm được lợi. Kinh viết: "Nhược ẩn nhược hiện hữu nhược vô" chính là nói về Phi Can vậy.
(Phương pháp chưa chắc đã hoàn toàn đúng, tri thức phải đứng ở điểm cao mới có thể tự do sử dụng Kỳ Môn)
Quy định của Đạo giáo: Vào những ngày can chi có thiên can là "Mậu" (các ngày Mậu Tý, Mậu Tuất, Mậu Ngọ, Mậu Dần, Mậu Thân, Mậu Thìn) không được đốt hương, tụng kinh, chầu chân, không được dùng pháp khí, cũng không cúng tế thiết trai. Dừng mọi hoạt động tôn giáo, gọi là "tị Mậu" (tránh Mậu). Vào chiều hôm trước ngày "Mậu", ngoài cửa đại điện của cung quán phải treo biển "Mậu" để thông báo cho đạo chúng...
Phép bố trại:
Đặt doanh trại xong, vào một tuần nào đó (Giáp Tý, Giáp Tuất, Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thìn, Giáp Dần – Lục Giáp tuần), lấy dao từ cửa Quỷ (phương Cấn – Sửu, Dần) đi lên phía tay trái vẽ một vòng quanh đất, sau đó lấy một đấu đất ở trung tâm, đặt lên Lục Mậu. Lục Mậu chính là Thiên Cương thần. Dao bèn đặt ngay chỗ lấy đất mà chôn, đọc chú rằng:
"Thái Sơn chi dương, Hằng Sơn chi âm, đạo tặc bất khởi, hổ lang bất thương, thành quách bất toàn, bế dĩ kim quan, thiên hung vạn ác, mạc chi cảm phạm".
Sau đó có thể an nghỉ trong doanh trại. Nếu muốn nghiệm sự linh ứng khi ra vào, hãy lấy bò mẹ (bê cái) trong trại, thì bê con suốt ngày không dám vào trại.
Giáp Tý tuần: Mậu tại Thìn
Giáp Tuất tuần: Mậu tại Dần
Giáp Thân tuần: Mậu tại Tý
Giáp Ngọ tuần: Mậu tại Tuất
Giáp Thìn tuần: Mậu tại Thân
Giáp Dần tuần: Mậu tại Dần
