KỲ MÔN CHỦ KHÁCH KHÁI LUẬN – HỖN NGUYÊN TỬ
KỲ MÔN CHỦ KHÁCH KHÁI LUẬN – HỖN NGUYÊN TỬ
Chủ và khách là một cặp khái niệm độc đáo trong khoa dự đoán Kỳ Môn Độn Giáp, phân âm dương, ứng với động và tĩnh.
Bởi vì Kỳ Môn bắt nguồn từ quân sự thời cổ đại, là bí kíp hành quân đánh trận, khéo léo đoạt lấy sự biến hóa của trời đất. Chiến tranh vốn có thắng bại, vạn vật tự có động tĩnh, nhân sự luôn có nhân quả. Từ đó mà diễn hóa ra khái niệm "chủ – khách", một khái niệm triết học đầy tính biện chứng.
Dùng binh chi đạo, trước hết phải biết mình biết ta, mới có thể trăm trận trăm thắng; mà phân biệt rõ chủ khách, càng có thể giúp ích cho biết mình biết ta. Bởi vậy, Kỳ Môn nhập thủ chính là phân biệt chủ khách, để ứng với động tĩnh mạnh yếu, điểm sắt thành vàng, hóa thối nát thành thần kỳ.
Sự hình thành và ứng dụng của tư duy chủ – khách có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với hệ thống dự đoán Kỳ Môn.
Chủ – khách là sự miêu tả chính xác về hai mặt đối lập nhưng thống nhất của một sự vật. Chủ – khách là cơ năng của động tĩnh, là gốc của tiến thoái. Kỳ Môn trạch cát (chọn ngày giờ tốt) chính là vận hành dựa trên nguyên lý này. Và trong hệ thống động chiêm của Kỳ Môn, cũng phải tùy thời nắm bắt chính xác các yếu tố chủ – khách, thì mới ứng nghiệm như thần. Bởi vì cục tượng Kỳ Môn là sự mô phỏng chân thực của thời không, mà chủ và khách lại kết hợp chặt chẽ với nhau thông qua bàn cục. Chỉ có phân biệt rõ chủ khách động tĩnh, thông suốt tinh hoa Kỳ Môn, thì mới có thể "bàn binh trên giấy" mà không sai lầm.
Ngày xưa, Gia Cát Lượng vận sầu tính toán, khéo léo xoay chuyển càn khôn, chính là nhờ ông nắm bắt chính xác chủ khách trong Kỳ Môn. Các bậc tiên hiền Kỳ Môn qua các đời cũng đều có những luận thuật quan trọng về vấn đề này, đặc biệt là trong hành quân đánh trận. Kinh điển Kỳ Môn Yên Ba Điếu Tẩu Ca (煙波釣叟歌) viết: "Thiên tự vi khách địa vi chủ, Lục Giáp suy hề vô sát lý" (Trời tự làm khách, đất làm chủ, Lục Giáp suy ra không sai lý), một câu đã chỉ rõ thực chất của chủ khách. Còn Kỳ Môn Bí Tịch Đại Toàn (奇門秘笈大全) luận về chủ khách: "Kỳ Môn chi ứng hậu, thời hữu tiên hậu, ứng hữu chủ khách, dĩ bỉ thử, nhân ngã nhi suy chi" (Sự ứng nghiệm của Kỳ Môn, thời có trước sau, ứng có chủ khách, lấy kia – đây, người – ta mà suy). Lại nêu ví dụ các trường hợp lợi chủ, lợi khách. Từ đó có thể biết, phàm những gì có nhiều động tượng, chủ động thì là khách, ngược lại là chủ.
Việc lấy dụng chủ – khách trong Kỳ Môn, quý ở chỗ hiểu và biến thông. Kỳ Môn Bí Tịch Đại Toàn đã luận chi tiết nguyên tắc lấy dụng chủ – khách như sau:
"Phàm chủ khách, động tĩnh bất định, biến hóa khôn lường. Cho nên chủ khách là tượng bất định. Hoặc lấy động trước làm khách, động sau làm chủ; hoặc lấy động làm khách, tĩnh làm chủ; hoặc lấy tiếng trước làm khách, tiếng sau làm chủ; hoặc lấy Thiên Bàn làm khách, Địa Bàn làm chủ. ... Hoặc lấy dương làm khách, âm làm chủ; hoặc phản khách vi chủ, phản chủ vi khách. ... Bởi vậy, người giỏi dùng Kỳ Môn trước hết phân chủ khách, sau đó mới rõ phép chiêm."
Tuy điều này nói về sự trọng yếu trong hành quân đánh trận, nhưng trong dự đoán nhân sự thường ngày cũng là tiền đề để dự đoán chính xác.
Ví dụ trong dự đoán Kỳ Môn, có những vấn đề như: chủ động dự đoán cho người khác và người đến chủ động cầu đoán; trong cùng một thời khắc có nhiều người khác nhau đến cầu đoán trước sau... Điều này thực ra đều thuộc phạm trù chủ – khách. Kỳ Môn Bí Tịch Đại Toàn lại viết: "Nếu ta đi tìm người, ta là khách, người kia là chủ, lấy sao ở Thiên Bàn làm ta, sao ở Địa Bàn làm người kia. Nếu người kia đến tìm ta, người kia là khách, ta là chủ, lấy sao ở Thiên Bàn làm người kia, sao ở Địa Bàn làm ta." Có thể thấy, sự đối ứng của chủ – khách không phải nhất thành bất biến, mà phải tùy theo trạng thái động tĩnh để phân tích biện chứng. Vì vậy, nguyên tắc lấy dụng nên tùy theo tình huống khác nhau mà biến thông linh hoạt, không thể "cổ sắt cầm sắt" (câu nệ cứng nhắc). Ví dụ trong chiêm đoán cụ thể, có thể lấy giờ làm khách, ngày làm chủ; hoặc lấy ngày làm khách, tháng làm chủ; hoặc lấy tháng làm khách, năm làm chủ. Lại có thể lấy can ở Thiên Bàn làm khách, can ở Địa Bàn làm chủ. Tùy cơ lấy dụng, tất cả đều ở linh cơ của ta xúc động. Sáng rõ cơ năng của động tĩnh, xem xét ứng nghiệm của chủ khách, thì cục thế sẽ rõ như lòng bàn tay. Ví dụ như chiêm chiến sự, trước hết phải phân chủ khách, sau đó mới định thắng bại; cùng một thời khắc có nhiều người chiêm hỏi cùng loại nhân sự, thì lấy người hỏi trước làm khách, người hỏi sau làm chủ, để phân biệt ứng sự. Hoặc lấy Trực Phù làm khách, Trực Sứ làm chủ; hữu ý (có chủ đích) là khách, vô ý (không chủ đích) là chủ, v.v. Ví dụ: Nguyệt Cán là anh em, người đầu tiên chiêm hỏi thì xem cung rơi của Nguyệt Cán ở Thiên Bàn, bởi vì đó là khách; người cầu đoán thứ hai thì lấy cung rơi của Nguyệt Cán ở Địa Bàn làm chủ, bởi vì làm chủ thì động sau hoặc không động.
Trong dự đoán Kỳ Môn, phàm người đến chủ động cầu đoán thì dễ nhận biết; chủ động dự đoán thì phải tinh thông đạo chủ – khách. Người khác đến cầu ta, cơ mở hiện rõ; ta đi ứng với người, cơ mờ khó phân. Bởi vậy, thường lấy việc người khác đến tìm ta làm nhân (nguyên nhân), làm khách; sự động tĩnh của ta làm quả, làm chủ. Chủ là trung tâm của khách. Bởi vì hệ thống Kỳ Môn như một tấm gương, phàm có người đến liền có ảnh phản chiếu, cho nên Kỳ Môn không từ chối những nghi hoặc của người cầu đoán, càng hỏi thì kết quả càng chi tiết – đây cũng là đạo lợi chủ của dự đoán Kỳ Môn. Trong dự đoán, không có nhân thì không thành quả, tất cả đều tuân theo nguyên tắc "khách tùy chủ tiện" (khách theo ý chủ). Làm chủ thì nên quen với lễ tiếp khách, làm khách thì cần chiều theo ý thích của chủ. Dân gian vẫn có câu "Học xong Kỳ Môn Độn, người đến không cần hỏi", nhưng dự đoán Kỳ Môn tầng cao, còn phải đạt đến cảnh giới "không cần hỏi người đến", tức là "người chưa đến đã biết ý định họ muốn đến".
Khái niệm chủ – khách trong Kỳ Môn, cũng như Thế – Ứng trong Dịch chiêm và Thể – Dụng trong các thuật số khác, thực chất là một khái niệm lập thể, là sự mở rộng của Thế – Ứng và Thể – Dụng. Trong Kỳ Môn, để dự đoán chính xác nhân sự, trước hết phải hiểu rõ đạo làm chủ và làm khách. Sự động tĩnh của người dự đoán thường rất quan trọng, trở thành điểm then chốt của việc làm chủ hay làm khách. Không có khách thì chủ không hiện, không có chủ thì không thành khách. Chủ và khách là cặp thể đối lập mà tương tồn lẫn nhau. Có khi, có thể lấy chủ để ứng với khách, có khi lại lấy khách để ứng với chủ. Khách tùy chủ tiện, khách nhiều thì chủ chê. Trong dự đoán thực tế, cần phải tùy thời chú ý phân biệt chủ khách. Chủ khách là cơ tướng đầu tiên của dự đoán; chủ khách phân thì cục thế sáng rõ. Mà dự đoán Kỳ Môn thường lấy một hoàn cảnh cụ thể để đối ứng với mâm Kỳ Môn (thức bàn), bởi vậy, hễ có người và vật bước vào bàn cục, thì chủ khách động tĩnh liền hiện. Những người, vật cụ thể trong không – thời gian đặc định, đều có thể lần lượt lấy chủ – khách để ứng. Cho nên, ai tinh thông đạo chủ – khách, thì không gì không thể dự đoán, không gì không thể luận. Trong hệ thống mở này, ngoại ứng là điềm của sự việc, chủ – khách ứng với nhân quả của sự việc.
Tóm lại, mục đích trực tiếp của dự đoán Kỳ Môn là giúp con người xu hướng tránh hung, tìm về cát. Bởi vì cuộc đời lúc nào cũng phải đối mặt với sự lựa chọn và cạnh tranh, điều này không thể tránh khỏi liên quan đến vấn đề lợi chủ hay lợi khách. Vì vậy, càng nên nắm bắt hàm ý sâu sắc của chủ và khách trên phương diện triết học. Khi đối mặt với những thử thách lựa chọn và cạnh tranh, khái niệm chủ – khách trong tư duy Kỳ Môn càng dễ dàng giúp con người nắm bắt chính xác, trực tiếp tình thế đang đặt mình vào, để đưa ra những phán đoán và lựa chọn có lợi nhất, sát với thực tế nhất.
Lợi chủ thì làm chủ, lợi khách thì làm khách – thứ tư duy biện chứng trong hệ thống dự đoán Kỳ Môn đã cung cấp nền tảng lý luận quan trọng cho việc tiến thoái, lựa chọn của đời người. Đó chính là giá trị của nó.
