KỲ MÔN ĐOÁN BỆNH ĐOÁN SINH TỬ
KỲ MÔN ĐOÁN BỆNH ĐOÁN SINH TỬ
PHƯƠNG PHÁP PHÁN ĐOÁN ĐẶC BIỆT
Các cách cục đặc biệt trong Kỳ Môn
(Kỷ + Kỷ) Địa hộ phùng quỷ: Đoán bệnh ắt tử vong. Dụng thần hoặc niên mệnh nhập mộ, kích hình thì hung nhiều cát ít.
(Quý + Tân) Võng cái thiên lao: Đoán bệnh ắt tử vong. Khi đoán bệnh cho trẻ nhỏ, gặp Thời can nhập mộ ắt tử vong.
Thời khắc nhật (Ngũ bất ngộ thời): Chủ người sắp qua đời. Thường chỉ lúc cầu đoán hoặc lúc dùng việc, tức can của giờ khắc can của ngày, và phải là dương can khắc dương can, âm can khắc âm can, gọi tắt là: Thời khắc nhật.
Thời can lâm Tân đoán bệnh ắt tử vong: Ví dụ Tân + Ất là "bệnh tật cuồng trương" (Bạch hổ cuồng trương làm bệnh nặng thêm, nguy hiểm vạn phần, có thuyết cho rằng gia bại nhân vong). Ất (suy) + Tân (vượng) chủ triệu chứng bệnh hung hiểm, ngược lại thì hung trung hữu cát.
Phù sử lạc không, niên mệnh bất bảo: Giải thích: cung của Trực Phù và Trực Sử môn đúng vào vị trí đang là Không vong, mà niên mệnh cũng rơi vào cung này, thêm vào đó gặp hung cách, hung tinh, hung môn thì ắt tử vong.
Nhật can gặp Hưu môn (hoặc Sinh môn) nhập mộ tuyệt (ở cung Tốn), lại lâm hung tinh thì đoán bệnh ắt tử vong.
Bính + Mậu là "Phi điểu điệt huyệt" chủ bệnh vào giai đoạn nguy kịch (bệnh đã quá nặng). Canh + Bính (Tặc lai cách) là bệnh tật trầm trọng thêm (bệnh đến như núi đổ). Bính + Canh (Tặc khứ cách) là bệnh lui như rút tơ.
Ất (Ất mộc là quan tài + Kỷ thổ là mộ phần) + Kỷ gặp Khai Môn thành Địa độn – đoán bệnh không phải là cách cục tốt, mà là tượng tai họa lâm thân.
Cửu Địa lâm Đinh, Kỷ, Quý gặp Tử môn thành "Quỷ giả" – thực chất là đại họa lâm đầu, chủ nhập âm tào địa phủ, hồn du phong đô quỷ thành. (Gặp Quỷ độn, Nhân độn, Quỷ giả, Nhân giả cũng vậy.) Lại bệnh nặng gặp Kỷ + Tân là "du hồn nhập mộ" cũng chủ đại hung. (Thông thường dự đoán, lâm Cửu Thiên, Cửu Địa, Bạch Hổ, Thái Âm đều là tượng không tốt).
Nhật can, niên mệnh gặp Tử môn thì bệnh khó chữa.
Sao Thiên Nhuế rơi cung Càn (6) và Đoài (7) cho thấy bệnh tật khó chữa khỏi.
Bệnh mới (cận bệnh) gặp hợp thì tử vong, bệnh lâu ngày (cửu bệnh) gặp hợp thì khỏi. Bệnh mới gặp không thì khỏi, bệnh lâu ngày gặp không thì tử vong.
Bệnh mới gặp xung thì khỏi, bệnh lâu ngày gặp xung thì tử vong. Chỉ nói bệnh mới, bệnh lâu thôi chưa đủ, thực chất là vấn đề bệnh nhẹ hay nặng, ở đây quan trọng hơn là vấn đề cơ thể mạnh hay yếu. Nếu cơ thể tốt, sức đề kháng mạnh, lại mới mắc bệnh, bệnh không nặng thì không sợ xung, xung là xung vào bệnh, mới có "cận bệnh phùng xung tắc dũ". Nếu mắc bệnh nặng, bệnh kéo dài lâu ngày, cơ thể đã yếu đến cực điểm, chỉ nhờ thuốc men chống đỡ, thì không chịu nổi xung, vừa xung đã nguy hiểm, cho nên có "cửu bệnh phùng xung tắc tử". Nếu không có các điều kiện này thì không thể vội dùng các câu phán đoán đó.
Một cách giải thích khác: Bệnh mới gặp sao Thiên Nhuế lâm không thì khỏi; bệnh lâu ngày gặp sao Thiên Nhuế lâm không thì bệnh nặng thêm (nguy hiểm). Bệnh nhân nhập khố (trạng thái vượng tướng) chủ phải nhập viện; gặp nhập mộ thì bệnh nặng hoặc hung hiểm.
Sao Thiên Nhuế rơi cung Chấn và cung Tốn cho thấy bệnh dễ chữa khỏi, nhưng cũng phải xem sao Thiên Nhuế lâm nguyệt lệnh vượng hay suy để phân tích phán đoán cát hung của bệnh.
Thông thường xem phương pháp chữa bệnh: Ất Kỳ (Đông y), sao Thiên Tâm (Tây y) – nếu không chế được sao Thiên Nhuế (bệnh tinh) thì thường bệnh khó chữa hoặc bệnh dai dẳng, nhưng không đến mức nguy kịch hoặc tử vong. Mong người nghiên cứu Kỳ Môn cần phân biệt đối xử. Nếu Thiên Nhuế khắc Ất Kỳ và Thiên Tâm thì bệnh khó chữa khỏi.
Dự đoán bệnh trọng đại: Hễ Nhật can và niên mệnh gặp Sinh môn (không phải lâm cung Tốn nhập mộ), thì phần lớn bệnh nhân nặng đều có thể tuyệt xứ phùng sinh, đại nạn bất tử, ắt có hậu phúc. Nếu gặp phản ngâm cục mà Nhật can hoặc niên mệnh lâm Sinh môn cũng chủ có thể đại nạn (nguy kịch) không chết, mà chết rồi sống lại.
Lý lẽ trong Kỳ Môn dự đoán và mệnh lý dự đoán là tương thông: "Già sợ đế vượng, trẻ sợ suy, trung niên sợ nhất tử tuyệt thai". Nếu dự đoán người già mà niên mệnh lâm đế vượng thì là hồi quang phản chiếu, không xa ngày tử vong. Trẻ em đoán bệnh trọng đại mà gặp niên mệnh suy yếu cũng không tốt. Lại người trung niên đoán bệnh trọng đại mà gặp "tử, tuyệt, thai" cũng suy luận tương tự.
Đặc biệt chú ý một số kết hợp Kỳ Môn khắc ứng, phải tổng hợp xem xét toàn cục mới dám phán đoán, ví dụ như các trường hợp sau:
(01) Hưu + Tử: chủ việc văn thư, quan sự không tốt, đi xa, việc tăng đạo không tốt, đoán bệnh hung.
(02) Thương + Kỷ: chủ tài tán nhân tử (tiền của tan nát, người lâm nguy).
(03) Thương + Đỗ: chủ biến động, mất mát, quan tụng, hình ngục, trăm việc hung.
(04) Thương + Tử: chủ quan tụng, ấn tín hung, xuất hành đại kỵ, đoán bệnh hung.
(05) Thương + Kinh: chủ bệnh tật người thân, kinh sợ lo âu, mưu sự bất lợi, hung.
(06) Kinh + Nhâm: chủ quan tụng, tù tội, bệnh nhân đại hung.
(07) Kinh + Cảnh: chủ kiện tụng không dứt, bệnh trẻ nhỏ, hung.
(08) Đỗ + Đỗ: chủ vì bệnh tật cha mẹ, việc điền trạch xuất thoát, hung.
(09) Đỗ + Quý: chủ trăm việc đều trở ngại, bệnh nhân không ăn.
(10) Tử + Kinh: chủ việc quan tụng không kết thúc, lo âu nghi ngờ mắc bệnh, hung.
(11) Tử + Sinh: chủ việc tang ma, cầu tài thì được, đoán bệnh nhân chết rồi sống lại.
(12) Tử + Canh: chủ phụ nữ sinh đẻ, mẹ con đều hung.
(13) Sinh + Tử: chủ điền trạch quan tụng, bệnh tật thì khó cứu.
Phụ lục: Cách tra Điếu Khách (khách đưa tang) và Tang Môn (cửa tang)
Cách tra Điếu Khách: hai địa chi sau địa chi năm can là Điếu Khách.
Cách tra Tang Môn: hai địa chi trước địa chi năm can là Tang Môn.
Ngoại ứng mới là linh hồn của việc đoán quẻ. Lưu ý: khi đoán cục phải nhìn xung quanh, tai nghe tám hướng. Đôi khi lúc đoán sinh tử, nghe tiếng chim lạ (như cú mèo) kêu, thường phán là điềm chẳng lành sắp giáng xuống (đại họa lâm đầu). Nếu nghe thấy tiếng xe cứu thương thì lúc nguy kịch có cứu, đại nạn bất tử. Tất nhiên, các phương pháp "ngoại ứng" cần linh hoạt chọn lọc, không nhất thiết câu nệ vào các phương pháp cố định trên. Học dịch là phải sống mà vận dụng.
Nêu ví dụ:
Ví dụ 1: Lục Nhâm và Kỳ Môn cùng chứng minh – Ngũ bất ngộ thời, người sẽ qua đời
Dương lịch: 13h38 phút, thứ Sáu, ngày 4 tháng 10 năm 2013.
Âm lịch: ngày 30 tháng 8 năm Quý Tỵ, giờ Mùi.
Can chi: Quý Tỵ, Tân Dậu, Quý Mão, Kỷ Mùi.
Nguyệt tướng: Thìn. Chiếm thời: giờ Dần ngày Quý Mão (Không vong: Thìn, Tỵ)
(Lục Nhâm khóa: Tứ khóa, tam truyền…)
Nhận được cuộc gọi của một người bạn, nói rằng bố anh ấy ở Bạch Sơn, Cát Lâm bị đột quỵ tim, đang cấp cứu tại bệnh viện. Hỏi liệu có qua khỏi nguy hiểm và xuất viện bình thường được không. Bố anh ấy sinh năm Canh Dần, hành niên là Tỵ. Tôi lấy thời gian anh ấy hỏi để lập khóa này.
Luận: Bệnh này hẳn là nhồi máu cơ tim. Đầu tiên, máu lưu thông bị cản trở là dấu hiệu của nhồi máu cơ tim. Quý thủy là thứ lưu động, có thể xem là máu. Trong khóa này, tại vị trí Can (Thiên bàn) nó bị thổ vây công, tam truyền cũng cho thấy bị thổ vây công, thông tin bị cản trở rất rõ. Một cách luận khác: lấy Nhật can làm bệnh nhân, Nhật chi làm bệnh. Nhật chi Mão bế khẩu (bế khẩu là tắc nghẽn, mất thông suốt), nói rõ lần phát bệnh tim này có liên quan đến tắc nghẽn. Vậy đoán là nhồi máu cơ tim.
Đoán bệnh trước hết xem Thiên y. Trong khóa này, Thiên y là Hợi, lâm lên bản mệnh (của bệnh nhân) – vốn là việc tốt, nhưng tiếc thay gặp Thiên Không, hiệu quả cũng giống như Không vong. Thiên y không tác dụng. Địa y là Tỵ, cũng Không vong, nói rõ cũng vô dụng. Tỵ lại là hành niên của ông ấy. Hành niên chỉ vận khí trong năm; hành niên Không vong mà đoán bệnh nặng thì tám chín phần bệnh nhân sẽ chết trong năm đó.
Trong khóa truyền này, rồng (Thanh Long) và thường (Thái Thường) đều xuất hiện – đoán bệnh bất lợi. Rồng là tiền giấy (tiền mã), thường là tang phục. Bạch hổ gặp quan quỷ lâm nhật khắc nhật, lại phát dụng – đoán bệnh đại hung. Tam truyền toàn là quỷ – đoán bệnh đại hung, điềm tử vong. Quan quỷ gặp Không vong nhập truyền – đoán bệnh là "tiêu hồn sát", cũng hung. Hơn nữa, Can và Chi giao hợp – đoán bệnh kỵ hợp, nói rõ bệnh không rời thân (hợp có nghĩa kéo dài, lâu dài, không giải quyết được trong ngắn hạn). Trong khóa truyền xuất hiện nhiều lần hổ và xà (Bạch hổ, Đằng xà) – theo "Lục Nhâm ngự chỉ" cũng cho là hiện tượng nhiều tang phục.
Cuối cùng xem Lộc thần. Lộc là việc ăn lộc; đoán bệnh xuất hiện Lộc thần là tốt, nói rõ bệnh nhân có thể ăn. Nhưng trong khóa này, Lộc thần chạy lên trên Nhật chi (đại diện cho bệnh), nói rõ bệnh nhân không được Lộc thần che chở. Lộc thần lên Nhật chi sinh cho Nhật chi Mão, bị thoát khí, lại bị hình – nói rõ Lộc thần bị bệnh tiêu hao, bệnh nhân không thể ăn uống được.
Tổng hợp các luận đoán trên: bệnh nhân mắc bệnh này không thể chữa khỏi, không thể phục hồi xuất viện. Buổi tối hôm đó tôi nhận được cuộc gọi của người bạn ấy, nói rằng bố anh đã được đưa đến nhà tang lễ. Tôi an ủi, mong anh bớt đau buồn. Tất cả đều do mệnh định!
Dùng thời gian của lão sư Mao Kiến Huy (theo Lục Nhâm) để lập cục Kỳ Môn, nhằm chứng minh xem dự đoán của Kỳ Môn Độn Giáp có đồng bộ với Lục Nhâm hay không?
Phân tích căn cứ:
Từ ngoại ứng Kỳ Môn (âm thanh đồng âm) để phân tích: ngày 4 tháng 10 – đọc theo âm Hán Việt là "dã thị tử nhật" (cũng là ngày chết), cho thấy bệnh nhân khó thoát khỏi lưỡi hái tử thần, do đó phán đoán bệnh nhân ắt tử vong.
Từ cung Càn đại diện cho người cha để phân tích: chỉ riêng Mậu rơi cung Càn là nhập mộ; đoán bệnh nhập mộ thì mười phần chín phần là hung. Xét cách cục Kỳ Môn: Mậu + Nhâm là "Long nhập thiên lao" – phàm việc âm dương đều không tốt. Hưu môn thừa Huyền Vũ, e rằng mạng sống của người cha đã đến lúc phải nghỉ!
Từ góc độ niên mệnh của người bệnh để phân tích: Địa bàn niên mệnh Canh rơi cung Cấn bị kích hình – chủ bệnh nhân đau đớn khổ sở, đau lòng khó chịu. Lại chi mệnh Dần phục ngâm tại bản cung, tục ngữ: "Phục ngâm phục ngâm lệ lâm lâm, không chết mình thì chết người thân". Cách cục Kỳ Môn tạo thành Bính + Canh là "Hỏa nhập kim hương" – môn hộ bại hoại, trộm cướp hao tổn. Trọng tâm của cách cục này là "đi", tức là rời đi, kết thúc, mất đi. Suy rộng ra: mạng sống của bệnh nhân sắp kết thúc, chẳng bao lâu sẽ rời xa bạn (người cầu đoán) và bạn sẽ mất đi một người thân (người cha).
Từ góc độ con đường cầu sinh của bệnh nhân có bao nhiêu hy vọng để phân tích: Thiên bàn niên mệnh Canh rơi cung Khảm lâm Sinh môn nhưng lại gặp Không vong, cho thấy hy vọng cầu sinh của bệnh nhân thực sự quá nhỏ bé! Hy vọng càng lớn thì thất vọng càng lớn. Lại xét cách cục Canh + Mậu là "Thái bạch Thiên Ất phục cung" – trăm việc không nên mưu cầu, hung. Đều là "phi cung cách" – đổi người đổi chỗ, tức bệnh nhân (người bệnh) sẽ đến một thế giới khác (âm gian).
Từ góc độ cung niên mệnh của bệnh nhân và cung Thái Tuế để phân tích: cung niên mệnh của bệnh nhân (Canh) xung khắc cung Thái Tuế (Quý). Xung khắc Thái Tuế, động thổ trên đầu Thái Tuế – là dưới phạm trên, tội không thể tha, ắt có tai họa lâm đầu, do đó phán đoán trong năm nay bệnh nhân khó thoát khỏi kiếp nạn!
Từ góc độ chữa bệnh có cứu được hay không để phân tích: cung sao Thiên Tâm và cung Ất Kỳ đều không xung khắc, chế phục được sao Thiên Nhuế (bệnh tinh), nói rõ dùng Đông – Tây y kết hợp thì hiệu quả cũng chẳng tốt đẹp gì, cũng cho thấy bệnh nhân đã bệnh nhập khuỷu tay, thuốc thang vô hiệu. Dù Biển Thước tái thế, Hoa Đà giáng sinh, thần tiên phù hộ cũng không cứu nổi bệnh tình của người cha!
Từ góc độ Trực Phù (người chấp hành) và Trực Sử (quan chấp hành) lâm môn để phân tích: Trực Phù và Trực Sử đồng cung lâm Tử môn, càng khẳng định tử thần đang vẫy gọi Nhật can (bệnh nhân) – như vô thường bắt hồn, cũng nói rõ Trực Phù là việc sắp xảy ra: do đó phán đoán bệnh nhân ắt tử vong!
Từ góc độ niên can và nhật can đồng cung lâm Tử môn để phân tích: thường thì niên can đại diện cho người cha, nhật can đại diện cho bệnh nhân (hoặc người cầu đoán – cần phân biệt) – niên nhật đồng cung lâm Tử môn chủ bệnh khó chữa. Niên can, nhật can cùng rơi cung Ly (9). Bệnh nhân là bệnh cũ tái phát. Cung Ly là đầu, cũng chủ tâm, mạch máu não. Nhưng từ dữ kiện đã biết: bệnh tim đột quỵ, do đó phán đoán thuộc thể nhồi máu cơ tim cấp. Cho nên lấy tượng Ly là hỏa, là bệnh tim là đúng. Quý là máu lưu động. Tử môn thừa Trực Phù (tương đương bộ xử lý trung tâm của máy tính, ở đây có thể hiểu là trái tim của cơ thể đã bắt đầu hoại tử). Thường hiểu là trái tim con người gặp Tử môn là bị tắc nghẽn. Quý là máu bẩn lưu động, bên dưới lâm Kỷ là rác. Quý + Kỷ đoán bệnh là mạch máu gặp rác trong máu bị tắc. Lại Ất mộc là quan tài + Kỷ thổ là mồ mả gặp Tử môn – đoán bệnh chẳng lành, là tượng tai họa lâm thân.
Từ phương pháp phán đoán đặc biệt của Kỳ Môn về sinh tử để phân tích: Ngũ bất ngộ thời, người sắp qua đời! Thường chỉ lúc cầu đoán (bệnh nhân) hoặc lúc dùng việc, tức can của giờ khắc can của ngày (trong Kỳ Môn dự đoán do can cách nhau 5 bậc tương khắc, nên gọi là Ngũ bất ngộ thời. Trong tứ trụ mệnh lý, can cách nhau 7 bậc tương khắc, nên gọi là Thất sát). Và phải là dương can khắc dương can, âm can khắc âm can, do đó Kỳ Môn Độn Giáp thường gọi tắt là Thời can khắc Nhật can (tuy nhiên khác biệt lớn so với lạc cung tương khắc, nên không bàn chi tiết).
Từ trạng thái hiện tại của Thời can là chủ thể sự việc để phân tích: Thời can Kỷ rơi cung Tốn (4) lâm Cảnh môn – Cảnh môn là tim, cũng là tuần hoàn máu, bên trên thừa Đằng xà – là các mao mạch quanh co. Kỷ thổ là rác trong máu tích tụ trong mạch máu, bên dưới lâm Đinh Kỳ – là tim bị rác làm tắc nghẽn, lại gặp Mã tinh xung động. Nói ngắn gọn: chẳng phải là triệu chứng nhồi máu cơ tim cấp hoại tử đó sao? Nếu giải thích theo cách cục Kỳ Môn: Kỷ + Đinh là "Chu tước nhập mộ" – văn trạng từ tụng, trước cong sau thẳng. Thực ra người bệnh đang ở trạng thái nhập mộ, cơ trời đã hiển thị hy vọng sống chẳng còn bao nhiêu, điều đó có nghĩa là người bệnh sắp kiệt dầu, tàn lụi.
Dự đoán sự kiện bệnh trọng đại xem sao: (sao Thiên Anh thuộc Hỏa) sao khắc nguyệt kiến (tháng Tân Dậu) là sao Hưu, tức tháng mà ta khắc nó là tháng Thê tài. Sao ở trạng thái nghỉ (tù). Cửu tinh đại diện cho thiên thời. Thiên thời là ý trời. Ý trời như vậy, không thể trái!
Từ góc độ người bạn có Tang Môn lâm thân hay không để phân tích: Vì nói rằng "nhận được cuộc gọi của một người bạn, nói bố anh ấy ở Bạch Sơn, Cát Lâm bị đột quỵ tim…", vậy có thể phân tích như sau: tra Tang Môn – hai địa chi trước địa chi năm là Tang Môn. Năm 2013 (Quý Tỵ), Tang Môn là chi Tỵ. Nhưng câu văn gốc viết "tang môn chi niên chi Tỵ tại Mùi lạc Khôn cung" – có vẻ mâu thuẫn. Thực tế, tra đúng: Địa chi năm Tỵ, hai chi trước là Mão và Dần? Có lẽ tác giả dùng cách khác. Tuy nhiên, đoạn sau: tháng can Tân đại diện cho người bạn lâm cung Tang Môn (cung Khôn có Mùi, Thân) – nói rõ người bạn năm nay có tang sự. Lại giải thích theo cách cục Kỳ Môn: Tân + Ất là "Bạch hổ cuồng trương" – người mất nhà tan, xa xôi nhiều tai ương, tôn trưởng không vui, xe cộ đều bị thương. Vừa là động cách, vừa là xung cách, gặp hổ cuồng trương. Người bạn đoán bệnh cho cha thì không tốt, bệnh nặng nguy kịp. Nói ngắn gọn: Nhật chi là Tang Môn, Thời chi là Điếu Khách.
