KỲ MÔN TRẠCH NHẬT YẾU ĐIỂM – DÂN SỰ TRẠCH NHẬT CHIA THÀNH SÁU LOẠI LỚN

KỲ MÔN TRẠCH NHẬT YẾU ĐIỂM – DÂN SỰ TRẠCH NHẬT CHIA THÀNH SÁU LOẠI LỚN

Trong Kỳ Môn Độn Giáp, bàn về chọn ngày cát cho táng tạo (xây mồ mả) khá nhiều, nhưng đối với các loại chọn ngày trong đời sống, hôn nhân, thương mại, tế tự thì nói rất ít. Bài viết này không liệt kê chọn ngày dùng binh, chỉ liệt kê những yếu lĩnh cơ bản cần chú ý khi chọn ngày cho dân sự:

1. Phải xác định đúng Dụng thần theo từng việc:

Chọn ngày dân sự chia làm sáu loại lớn: (1) Sinh hoạt đời sống, (2) Hôn nhân, (3) Thương mại, (4) Xây dựng, (5) Tang táng, (6) Tế tự. Mỗi loại lớn lại chia thành nhiều loại nhỏ. Các loại nhỏ khác nhau thì việc chủ yếu khác nhau, do đó Dụng thần cũng có sự khác biệt. Có việc chỉ lấy hai Dụng thần, có việc lấy ba Dụng thần trở lên.

Ví dụ:

  • Thượng quan phó nhậm (lên nhậm chức): Nếu bản thân người được bổ nhiệm tự chọn ngày, Dụng thần là nhật can, niên mệnh, cung vị nơi đến nhậm chức.

  • Mời khách chọn ngày: Dụng thần lấy Chỉ Phù, Thiên Ất, nhật can, thời can.

  • Cầu y (đi khám bệnh, chữa bệnh) chọn ngày: Dụng thần lấy nhật can, Thiên Tâm, Ất kỳ, cung vị nơi cầu y.

  • Vào quan (bỏ xác vào quan tài) chọn ngày: Dụng thần lấy Thiên bàn và Địa bàn sao tại cung Tử môn rơi.

  • Hạ táng (chôn cất) chọn ngày: Dụng thần lấy tọa sơn (hướng núi/mộ) và Thiên bàn, Địa bàn sao tại cung Tử môn rơi.

  • Tế tự chọn ngày: Tạ thổ (tạ đất) chọn ngày, Dụng thần lấy tọa sơn, nhật can, thời can.

  • Tạ mộ (tạ mộ phần) chọn ngày: Dụng thần lấy tọa sơn.

  • Giá thú (cưới hỏi) chọn ngày: Dụng thần lấy niên mệnh nam nữ, Ất – Canh, cung vị nơi xuất giá (nhà gái đi lấy chồng).

  • Khai nghiệp (mở cửa hàng, kinh doanh) chọn ngày: Dụng thần lấy nhật can, thời can, Khai môn... v.v.

Xác định đúng Dụng thần thì mới có thể phán đoán cát hung.

2. Phải luận cát hung theo quan hệ Chủ – Khách:

Phân chia Chủ – Khách dựa trên ai động trước, ai động sau:

  • Động trước là Khách, động sau là Chủ.

  • Hành động là Khách, giữ yên là Chủ.

  • Lên tiếng trước là Khách, lên tiếng sau là Chủ.

  • Thiên bàn là Khách, Địa bàn là Chủ.

Ví dụ: Phe ta xuất quân động chúng, lấy ta là Khách, đến đất của họ là Chủ, hoặc ổ giặc, thành trì bị giặc chiếm là Chủ. Nếu phe ta phá được thành đó, thì ta thành Chủ, địch thành Khách – đây là “phản chủ vi khách, phản khách vi chủ” (lật ngược chủ khách). Khi ra trận, đối địch, đánh cờ, thi đấu, đánh nhau: lấy người động trước là Khách, người phản ứng sau là Chủ. Lại lấy người ở gần sân thi đấu là Chủ, người ở xa sân thi đấu là Khách.

  • Tuyển tướng cầu hiền, chiêu binh mãi mã, cầu yết thăm bạn, ứng thí cầu chức, du lịch ngoại tỉnh, xuất môn đón dâu, thượng quan phó nhậm, ngư liệp (câu cá, săn bắn), cầu y... : Ta là Khách, người/đất ấy là Chủ.

  • Người khác đến thăm ta, mượn tiền của ta: Họ là Khách, ta là Chủ.

  • Kiện tụng, đoạt biểu (tranh giải), thi ca hát: Lấy người lên tiếng trước là Khách, sau là Chủ.

  • Quốc sự, việc tỉnh, huyện, khu, thị, trấn, xã, mồ mả, yết quý (yết kiến quý nhân), hôn nhân, hành nhân (người đi đường), bắt bớ, chạy trốn, du lịch... : Lấy Địa bàn làm Chủ, Thiên bàn làm Khách.

Người thiện dụng Kỳ Môn trước hết phân Chủ – Khách, sau đó mới xét ngày pháp, chiêm pháp. Cần lợi cho Khách thì chọn ngày giờ lợi Khách; cần lợi cho Chủ thì chọn ngày giờ lợi Chủ; cần Chủ Khách đều lợi thì chọn ngày giờ Chủ Khách tỷ hòa, tương sinh. Ví dụ như chọn ngày chôn cất, phải chọn ngày giờ mà Thiên bàn và Địa bàn sao tại cung Tử môn tương sinh với nhau; Địa bàn sao là người chết làm Chủ, Thiên bàn sao là người sống làm Khách.

Về cách cục Kỳ Môn:

  • Thiên bàn kỳ nghi khắc Địa bàn kỳ nghi, hoặc Địa bàn kỳ nghi sinh Thiên bàn kỳ nghi thì lợi Khách (ví dụ: Nhâm + Bính, Nhâm + Tân).

  • Địa bàn kỳ nghi khắc Thiên bàn kỳ nghi, hoặc Thiên bàn kỳ nghi sinh Địa bàn kỳ nghi thì lợi Chủ (ví dụ: Nhâm + Mậu, Mậu + Canh).

  • Tuy nhiên, Canh + Bính lại lợi Khách, Bính + Canh lại lợi Chủ – đây là trường hợp đặc biệt.

Với Bát môn, Cửu tinh, Thiên – Địa bàn:

  • Địa bàn cung sinh Thiên bàn tinh/môn → lợi Khách.

  • Địa bàn tinh khắc Thiên bàn tinh/môn → lợi Chủ.

  • Thiên bàn tinh/môn khắc Địa bàn tinh/môn → lợi Khách.

  • Thiên bàn tinh/môn sinh Địa bàn tinh/môn → lợi Chủ.

  • Thiên Địa bàn tinh tỷ hòa → Chủ Khách đều lợi.

Trong Cửu tinh:

  • Thiên Xung lợi Khách.

  • Thiên Phụ lợi Chủ.

Trong Bát môn:

  • Thương môn lợi Khách.

  • Hưu môn lợi Chủ.

Trong Cửu thần:

  • Cửu Thiên, Bạch Hổ, Thái Thường lợi Khách.

  • Cửu Địa, Thái Âm, Lục Hợp lợi Chủ.

Về Kỳ nghi:

  • Ngũ dương thời (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu) lợi Khách.

  • Ngũ âm thời (Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) lợi Chủ.

Phản ngâm lợi Khách, Phục ngâm lợi Chủ.

Khi chọn Chủ – Khách, cần ưu tiên sao và môn trước, sau đó đến kỳ nghi, rồi đến cửu thần. Khi chọn ngày cho thời tiết (mưa nắng) thì coi trọng Thiên bàn Cửu tinh, vì cát hung do sao chủ. Khi chọn ngày cho nhân sự (việc đời) thì coi trọng Bát môn, vì cát hung do người tự lấy. Khi chọn ngày cho táng tạo (xây mộ, chôn cất) thì coi trọng Địa bàn Cửu cung, vì cát hung khởi từ đất.

3. Phải tránh Kỳ nghi kích hình và nhập mộ:

  • Nhập mộ của Kỳ nghi:

    • Ất, Bính mộ tại Tuất (cung Càn)

    • Đinh, Canh mộ tại Sửu (cung Cấn)

    • Tân, Nhâm mộ tại Thìn (cung Tốn)

    • Mậu mộ tại Tuất

    • Kỷ mộ tại Sửu

    • Giáp, Quý mộ tại Mùi (cung Khôn)
      Đây là cung mộ. Ngoài ra còn có thời mộ: Mậu Tuất, Nhâm Thìn, Bính Tuất, Quý Mùi, Đinh Sửu.
      Thiên bàn hoặc Địa bàn kỳ nghi nhập cung mộ, chủ việc làm không thành, không lành. Thời can nhập mộ, chủ sự việc không có đầu mối, không thể hành động.

  • Kích hình của Lục nghi: Xuất hành, làm việc có hung tai, không nên dùng.

    • Mậu (Giáp Tý) + cung Chấn (Tý – Mão hình)

    • Canh, Nhâm, Quý + cung Tốn (Dần – Thân – Tỵ – Hợi hình? Thực tế: Canh (Thân) + Tốn (Tỵ) là Tỵ – Thân – Dần tam hình, Nhâm (Hợi) + Tốn (Tỵ) là Tỵ – Hợi xung, Quý (Sửu) + Tốn (Thìn) là Sửu – Thìn – Mùi hình... nên theo nguyên bản: "Mậu gia Chấn, Canh Nhâm Quý gia Tốn, Tân gia Ly, Kỷ gia Khôn Cấn, Canh gia Cấn")

    • Tân (Giáp Ngọ) + cung Ly (Ngọ – Ngọ tự hình)

    • Kỷ (Giáp Tuất) + cung Khôn, Cấn (Sửu – Tuất – Mùi hình)

    • Canh (Giáp Thân) + cung Cấn (Dần – Thân – Tỵ hình)

4. Phải tránh Sao và Môn phản ngâm, phục ngâm:

  • Phục ngâm: Thiên bàn Cửu tinh, Nhân bàn Bát môn đóng trên chính cung gốc của mình gọi là phục ngâm.

    • Cửu tinh phục ngâm chỉ có 6 giờ: các giờ Mậu Thìn (thuộc Giáp Tý), Kỷ Mão (Giáp Tuất), Canh Dần (Giáp Thân), Tân Sửu (Giáp Ngọ), Nhâm Tý (Giáp Thìn), Quý Hợi (Giáp Dần).

    • Bát môn phục ngâm cũng có 6 giờ, đều ở lục Quý thời (các giờ Quý Dậu, Quý Mùi, Quý Tỵ, Quý Mão, Quý Sửu, Quý Hợi).
      Sao môn phục ngâm, sinh cơ không lớn, dù Dụng thần được cát, cũng chủ ứng nghiệm chậm.

  • Phản ngâm (xung): Là sự xung động, nhiều đầu mối và lộn xộn (ví dụ: Bồng + Anh, Hưu + Cảnh...). Phản ngâm trong Kỳ Môn phi cung không có chuyện Cửu cung sao môn phản ngâm. Khi chọn ngày cần xem cung rơi của Dụng thần có phạm phải không, nên tránh là tốt, trừ các việc như xuất quân, đánh cờ, thi đấu, đấu kiện, đánh nhau, xuất tài, tiêu hàng. Sao môn phản ngâm: nếu sao môn đang vượng tướng, lệnh khắc cung thì lợi Khách; nếu cung vị đang vượng tướng, lệnh khắc Thiên bàn sao môn thì lợi Chủ.

5. Phải tránh Dụng thần lạc cung rơi vào không vong:

Không vong có: không vong theo tuần năm, tuần tháng, tuần ngày, tuần giờ, và Tiệt lộ không vong (cắt đường không vong). Tiệt lộ không vong tính theo tuần giờ:

  • Giáp Tý tuần: không Thân, Dậu

  • Giáp Tuất tuần: không Ngọ, Mùi

  • Giáp Thân tuần: không Thìn, Tỵ

  • Giáp Ngọ tuần: không Dần, Mão

  • Giáp Thìn tuần: không Tý, Sửu

  • Giáp Dần tuần: không Tuất, Hợi

Cung vị Dụng thần rơi vào không vong, dù cung đó có kỳ môn cát cách cũng không ứng cát, xuất môn mưu cầu không thành, cưới hỏi táng tạo có hung.

6. Phải tránh Ngũ bất ngộ thời và Thiên võng thời:

  • Ngũ bất ngộ thời: Là giờ can khắc ngày can, dương khắc dương, âm khắc âm. Nếu nhật can cộng lên trên thời can, hoặc thời can lạc cung khắc nhật can lạc cung thì càng hung. Thường không dùng trong chọn ngày. Tuy nhiên, nếu thời can lạc cung gặp cách cục cát lại sinh nhật can cung thì không thể luận là hung.

  • Thiên võng thời: Là lục Quý thời trong lục Giáp tuần: Giáp Tý tuần (Quý Dậu), Giáp Tuất tuần (Quý Mùi), Giáp Thân tuần (Quý Tỵ), Giáp Ngọ tuần (Quý Mão), Giáp Thìn tuần (Quý Sửu), Giáp Dần tuần (Quý Hợi). Thiên võng thời là bát môn phục ngâm, bất lợi cho Khách, do đó không nên xuất quân, du lịch, yết quý, cưới hỏi, dọn nhà, thượng nhậm, ứng thí, bắt bớ, xuất ngoại cầu tài, cầu y... Chỉ có việc đào tẩu hoặc ẩn náu tung tích thì người khác khó bắt. Phục ngâm cũng lợi cho nhập hàng, đòi nợ, nạp tài. Nếu chọn ngày mở cửa hàng hoặc xuất hành cầu tài, mà Sinh môn đồng cung với nhật can, hoặc Sinh môn cung sinh nhật can cung, cũng chủ có lợi.

Thiên võng có cao có thấp. Khi chọn ngày đào tẩu:

  • Thiên thượng lục Quý (giờ Quý) cộng lên cung 1, 2 (Khảm, Khôn): phải bò trườn ra.

  • Thiên thượng lục Quý cộng lên cung 3, 4 (Chấn, Tốn) là nhập mộ, cũng phải bò trườn, nhưng hai vai phải buộc hai lưỡi dao sắc để cắt lưới.

  • Thiên thượng lục Quý cộng lên cung 5, 6 (Trung, Càn): đại hung, không thể bò cũng chẳng thể đi.

  • Thiên thượng lục Quý cộng lên cung 7, 8, 9 (Đoài, Cấn, Ly): lưới cao, có thể đi lại tự do, xông ra.

  • Quý + Quzy là "Thiên võng tứ trương" (bốn bề lưới trời), không đường nào đi, tối kỵ xuất hành.

7. Phải suy xét kỹ ngũ hành sinh khắc chế hóa tại cung vị Dụng thần:

Mặc dù sinh khắc của kỳ nghi, sao, môn ở Thiên – Địa bàn dùng để luận thắng bại, nhưng nếu cái khắc ta suy yếu thì cũng không sao. Ví dụ: Thiên bàn Cửu tinh, kỳ nghi, Bát môn thuộc Kim, cộng lên Địa bàn Mộc, đó là Kim khắc Mộc – Khách thương Chủ, lợi cho Khách. Nếu Kim vượng Mộc suy, thì người làm Chủ gặp hung hiểm càng nặng. Nếu Kim suy Mộc vượng, thì người Chủ không đến nỗi đại hung. Nếu Kim ở cung suy, tử, tuyệt, mộ, đó là Kim vô khí, không thể khắc Mộc; Mộc nếu ở thời sinh vượng thì Mộc là cát; Mộc nếu ở thời suy, tử, tuyệt, mộ thì hung hiểm cuối cùng không thoát khỏi.

Trong chọn ngày, tối kỵ tam kỳ, cửa lành, sao lành bị khắc. Lúc đó dù đang lệnh sinh vượng, nhưng khi đến thời hưu tù thì sẽ ứng hung. Do đó:

  • Thiên bàn kỳ nghi, Cửu tinh, Bát môn đang lệnh hưu tù hoặc lạc cung không vượng tướng thì cần được sinh, nhưng kỵ bị tiết.

  • Nếu đang lệnh sinh vượng lại lạc cung sinh vượng, thì không cần sinh thêm, kẻo sinh quá mức biến thành khắc – đó là “sinh trung hữu khắc”.

  • Thiên bàn kỳ nghi, Cửu tinh, Bát môn đang lệnh vượng tướng hoặc ngũ hành tụ chúng thì ưa bị khắc – đó là “khắc trung hữu sinh”.

Đại thể: Tam kỳ ưa rơi vào cung sinh, vượng, lộc và được sinh. Cửa lành ưa gặp lệnh vượng tướng, lại môn cung hòa nghĩa. Sao lành ưa rơi cung vượng tướng, lại có thể trợ kỳ, trợ môn, trợ cung. Sao xấu, môn xấu, thần xấu vô khí thì không đủ làm hại.

8. Phải tùy việc lấy cách cục cát và tránh cách cục hung:

Kỳ Môn Độn Giáp có một số cách cục cát và hung đặc biệt. Mọi việc chọn ngày dùng sự đều phải tránh cách hung, tìm cách cát, nhưng cách cát phải đúng việc. Ví dụ:

  • Thiên độn: Lợi cho phá địch, cầu quan, mua bán, xuất hành, hôn nhân, nhập trạch, dọn nhà, dâng sớ hiến kế... lợi cho Khách.

  • Địa độn: Lợi cho chôn cất, đóng trại, phục binh, xây kho tàng, kinh doanh tại chỗ, tu đạo cầu tiên, đón dâu... lợi cho Chủ.

Tam kỳ đáo cung:

  • Đinh kỵ cộng Quý (Chu Tước đầu giang – Chim chu sa xuống sông) hoặc Quý + Đinh (Đằng Xà yêu kiều – Rắn quấn quýt) đều không cát.

  • Ất kỵ cộng Tân (Thanh Long tẩu thoát – Rồng xanh chạy trốn), Tân + Ất (Bạch Hổ cuồng xương – Hổ trắng cuồng bạo) gặp Bạch Hổ càng hung.

  • Bính + Nhâm (Hỏa nhập thiên lao – Lửa vào ngục trời), Nhâm + Bính (Thủy xà nhập hỏa – Rắn nước vào lửa) đều không cát.

Những tổ hợp này không thích hợp cho chọn ngày táng tạo. Nếu áp dụng vào việc quân sự, đấu kiện, đoạt biểu thì có thể dựa vào Chủ – Khách để luận thắng bại.

9. Phải biết phương pháp giải trừ nhật khóa xấu:

  • Đối với chọn ngày xuất hành: Nếu biết trước nhật khóa xấu, nên lập tức hủy bỏ và chọn ngày khác.

  • Đối với nhật khóa khởi công nhà ở (dương trạch), mồ mả (âm trạch), nhập trạch, khai thị (mở hàng) mà bị xấu, cần dùng phương pháp dưới đây để giải trừ rồi sau đó mới chọn ngày lành khác.

Giải trừ khởi công xấu:
Trước hết chọn một ngày giờ tốt, chuẩn bị: một đĩa kẹo ngũ sắc, một đĩa bánh đào đỏ (hồng đào quả), một đĩa bánh phát (phát quả), năm chén trà, năm chén rượu, 500 hoặc 5000 vàng mã (nguyên bảo), một đôi nến (âm trạch không dùng nến), 15 nén hương. Thắp 5 nén hương, chắp tay hai tay rỗng không, nhắm mắt hờ, đọc thầm: "Thổ Địa tôn thần, nay chọn giờ lành khởi công lại, cầu phù hộ bình an". Cắm hương trước bàn thờ Thổ Địa, hành lễ năm lạy ba quỳ (ngũ quỵ tam khấu). 10 nén hương còn lại chia hai lần làm tương tự. Lễ xong, hóa vàng mã. Làm như vậy sẽ cảm ứng với Thổ Địa, hóa giải nhật khóa xấu trước đó, có thể khởi công lại.

Giải trừ nhập trạch, khai nghiệp xấu:
Nếu đã vào nhà hoặc khai trương mà gặp hung tượng, cũng chọn một ngày lành trước, chuẩn bị: 8 bát bánh tròn đỏ (hồng viên), hai đĩa kẹo ngũ sắc, hai đĩa bánh đào đỏ, hai đĩa bánh phát, hai bộ tam sinh (lợn, gà, vịt hoặc thịt, trứng, tôm), 200 hoặc 2000 vàng mã, 800 chỉ vàng (kim tư), hai đôi nến, 18 nén hương. Chia làm hai phần: một phần cúng Táo quân, một phần cúng Thiên Công (Trời). Trước khi cả nhà vào nhà lại, làm lễ: mỗi lần thắp 3 nén hương, đọc: "Thiên Địa phụ mẫu (Táo quân) tại thượng, nay chọn ngày lành vào nhà lại, cầu phúc cát tường". Hành lễ năm lạy ba quỳ, lặp lại ba lần. Cuối cùng hóa vàng mã, sau đó mới vào nhà. Nếu giải trừ khai nghiệp xấu, chỉ cần chuẩn bị một phần lễ, cúng tại Địa chủ tài thần rồi khai trương lại.

10. Phải tổng hợp vận dụng phương pháp Tứ lợi trong Kỳ Môn trạch nhật:

Phàm việc xuất quân bình loạn, xây dựng dương trạch kéo dài qua tháng qua năm, xuất ngoại sáng nghiệp cầu tài... nếu phương hướng đến và ở có niên, nguyệt, nhật, thời kỳ môn đều đến (tức có cách cục cát ở cả bốn cấp) thì mới vạn toàn. Ngày nay người dùng Kỳ Môn chỉ biết đến thời kỳ môn mà không biết có niên, nguyệt, nhật kỳ môn. Mặc dù năm lành không bằng tháng lành, tháng lành không bằng ngày lành, ngày lành không bằng giờ lành, nhưng nếu cần nhiều năm chinh chiến, không chọn phương đến có niên, nguyệt kỳ môn cát cách thì không được. Nếu một trận đánh chỉ vài ngày nửa tháng, dùng thời kỳ môn là đủ.

Xây dựng dương trạch kéo dài nhiều năm, phương đến có nhiều hung sát ở các cấp năm, tháng, ngày, giờ. Thời kỳ môn tuy có quyền lui sát, nhưng một tay khó địch bốn tay, khó tránh khỏi sinh ra tì vết. Khai mỏ, mở xưởng, mở công ty là những đại sự lâu dài, tốt nhất cũng nên tổng hợp vận dụng niên, nguyệt, nhật, thời kỳ môn cát cách để đạt được tứ lợi, nhờ đó mà vĩnh cửu cát lành. Âm trạch (mồ mả) chỉ cần vài ngày công, có thể dùng thời kỳ môn là đủ. Các việc khác cứ theo lý mà suy.


Niên kỳ môn pháp (Phép chọn ngày theo năm):

Niên kỳ môn lấy 180 năm làm một chu kỳ (nguyên), gồm ba nguyên: Thượng, Trung, Hạ. Mỗi nguyên 60 năm. Mỗi năm một cục, toàn bộ dùng âm cục (không dùng dương cục). Mỗi tuần 10 năm đổi một Phù – Sứ.

  • Thượng nguyên: năm Giáp Tý bắt đầu âm cục 1, Ất Sửu âm cục 9, ... đến Quý Hợi âm cục 5.

  • Trung nguyên: năm Giáp Tý bắt đầu âm cục 4, Ất Sửu âm cục 3, ... đến Quý Hợi âm cục 8.

  • Hạ nguyên: năm Giáp Tý bắt đầu âm cục 7, Ất Sửu âm cục 6, ... đến Quý Hợi âm cục 2.

Khi đã xác định cục số, áp dụng phương pháp: Chỉ Phù (Giá trị Phù) cộng lên niên can, Giá trị Sứ cộng lên niên chi, Tiểu Chỉ Phù (Cửu thần) cộng lên Đại Chỉ Phù, tất cả đều bay nghịch (ngược chiều) trên Cửu cung, giống như cách bố cục thời kỳ môn âm độn.

Bảng cục số cho 60 năm Giáp Tý (Tam nguyên):

 
 
NguyênCác năm (theo thứ tự 60 Giáp Tý)
Thượng1, 9, 8, 7, 6, 5, 4, 3, 2 (lặp lại)
Trung4, 3, 2, 1, 9, 8, 7, 6, 5
Hạ7, 6, 5, 4, 3, 2, 1, 9, 8

(Chi tiết 60 năm: Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tỵ, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân; Quý Dậu, Giáp Tuất, Ất Hợi, Bính Tý, Đinh Sửu, Mậu Dần, Kỷ Mão, Canh Thìn, Tân Tỵ; Nhâm Ngọ, Quý Mùi, Giáp Thân, Ất Dậu, Bính Tuất, Đinh Hợi, Mậu Tý, Kỷ Sửu, Canh Dần; Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý Tỵ, Giáp Ngọ, Ất Mùi, Bính Thân, Đinh Dậu, Mậu Tuất, Kỷ Hợi; Canh Tý, Tân Sửu, Nhâm Dần, Quý Mão, Giáp Thìn, Ất Tỵ, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân; Kỷ Dậu, Canh Tuất, Tân Hợi, Nhâm Tý, Quý Sửu, Giáp Dần, Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tỵ, Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi)

Ví dụ: Năm Nhâm Thìn 2012 thuộc Hạ nguyên, âm cục 6. Năm Nhâm Thìn thuộc phù đầu Giáp Thân. Đầu tiên, đem Giáp Tý Mậu đặt lên cung Càn (6) để bố trí Địa bàn kỳ nghi nghịch chiều. Tiếp theo, đem Giáp Thân Canh cộng lên niên can Nhâm (bay nghịch) để bố trí Thiên bàn kỳ nghi và Cửu tinh. Sau đó, đem Giá trị Sứ là Đỗ môn cộng lên niên chi Thìn (Trung cung) để bố trí Bát môn nghịch chiều. Cuối cùng, đem Tiểu Chỉ Phù cộng lên Đại Chỉ Phù để bố trí Cửu thần nghịch chiều. Như vậy là hoàn thành niên cục cho năm Nhâm Thìn.

Trong niên kỳ môn cục:

  • Sự vượng suy của kỳ nghi xác định theo cung rơi.

  • Sao xem cung rơi và lưu niên chi.

  • Môn xem lưu niên chi.

  • Thần cũng xem lưu niên chi.

Trong ví dụ trên, Giá trị Phù (Chỉ Phù) là Canh (địch) và chủ (ta) cùng rơi cung Khôn, Chủ – Khách giằng co, cả hai đều không dám dùng binh, cuối cùng tự lui. Muốn biết lui vào tháng nào: vì tuần Giáp Thân không Ngọ, Mùi; tháng Mùi lấp đầy cung Khôn, nên phương Tây Nam yên ổn. Hưu môn cũng chủ lui. Canh + Nhâm là "Tuế cách" (cách năm), không lợi cho dùng binh. Cung Đoài (7) có Đinh kỳ lên điện, lại lâm Khai môn, lợi cho luyện binh, phô trương thanh thế ở chính Tây. Cung Càn (6) có cách "Phi điểu điệt huyệt" (Chim bay rớt tổ) lợi cho xây dựng.

Nguyệt kỳ môn pháp (Phép chọn ngày theo tháng):

Nguyệt kỳ môn lấy 15 năm (180 tháng) làm một chu kỳ; 5 năm (60 tháng) là một nguyên; 10 tháng là một cục; 10 tháng đổi một Phù – Sứ. Cục số xác định theo can chi của năm: năm có can đều là Giáp, Kỷ; chi năm là Tý, Ngọ, Mão, Dậu thuộc Thượng nguyên; Dần, Thân, Tỵ, Hợi thuộc Trung nguyên; Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thuộc Hạ nguyên. Giống như niên kỳ môn: Thượng nguyên khởi âm cục 1, Trung nguyên khởi âm cục 4, Hạ nguyên khởi âm cục 7; tất cả đều dùng âm cục.

Trước hết tra xem tháng đó thuộc năm nào, nguyên nào, cục nào, rồi bay bố trí Địa bàn kỳ nghi. Sau đó theo phương pháp: Giá trị Phù cộng lên nguyệt can (mỗi sao quản 10 tháng), Giá trị Sứ cộng lên nguyệt chiTiểu Chỉ Phù cộng lên Đại Chỉ Phù, bay nghịch để bố trí Thiên bàn kỳ nghi, Cửu tinh, Cửu thần và Nhân bàn Bát môn.


Lưu ý: Bản dịch bảo toàn tối đa thuật ngữ chuyên môn, các khái niệm như "Trạch nhật", "Dụng thần", "Chủ khách", "Kích hình", "Nhập mộ", "Phản ngâm", "Phục ngâm", "Không vong", "Ngũ bất ngộ thời", "Thiên võng thời", "Tứ lợi pháp", "Niên kỳ môn", "Nguyệt kỳ môn" v.v. Phần bảng và ví dụ được giữ nguyên cấu trúc, chỉ chuyển ngữ. Một số câu trong nguyên bản có thể hơi rối, người dịch đã cố gắng làm rõ nghĩa. Nếu có điểm nào chưa hợp lý, người đọc có thể tham khảo thêm các sách chuyên khảo về Kỳ Môn Độn Giáp.