KỲ MÔN: TRẠNG THÁI VƯỢNG, TƯỚNG, HƯU, TÙ, PHẾ CỦA CỬU TINH
KỲ MÔN: TRẠNG THÁI VƯỢNG, TƯỚNG, HƯU, TÙ, PHẾ CỦA CỬU TINH
Trạng thái vượng, tướng, hưu, tù, phế của Cửu tinh khác với ngũ hành dưới mặt đất. Ngũ hành dưới mặt đất có vượng, tướng, hưu, tù, tử (chết) – tức là: đương lệnh thì vượng, ta sinh thì tướng, sinh ta thì hưu, khắc ta thì tù, ta khắc thì tử. Ví dụ: hành Mộc, vào mùa xuân đương lệnh là vượng nhất; Mộc sinh Hỏa, cho nên Hỏa vào mùa xuân ở trạng thái "tướng" (tức là vượng thứ hai); Thủy sinh Mộc, Mộc vào mùa xuân đã đương vượng, nên Thủy sinh nó có thể nghỉ ngơi, do đó mùa xuân Thủy ở trạng thái "hưu"; Kim vốn có thể khắc Mộc, nhưng mùa xuân Mộc đương lệnh rất vượng, ngược lại chế ngự được thế lực của Kim, cho nên mùa xuân Kim ở trạng thái "tù" (bị giam cầm, không phát huy được tác dụng); Mộc có thể khắc Thổ, mùa xuân Mộc đương lệnh rất vượng, nên có thể khắc chết Thổ, vì vậy Thổ vào mùa xuân ở trạng thái "tử". Người xưa gọi là "ta khắc thì tử". Tương tự như Mộc, mùa hè thì Hỏa vượng, Thổ tướng, Mộc hưu, Thủy tù, Kim tử; mùa thu thì Kim vượng, Thủy tướng, Thổ hưu, Hỏa tù, Mộc tử; mùa đông thì Thủy vượng, Mộc tướng, Kim hưu, Thổ tù, Hỏa tử; bốn tháng cuối mùa (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi – còn gọi là quý nguyệt) thì Thổ vượng, Kim tướng, Hỏa hưu, Mộc tù, Thủy tử.
Cửu tinh là các thể sao vận hành trên trời, bản thân chúng không có khái niệm vượng, tướng, hưu, tù, phế. Chúng không chịu ảnh hưởng của khí hậu bốn mùa dưới đất. Do đó, trạng thái vượng, tướng, hưu, tù, phế của chúng chủ yếu xét trên tác dụng và ảnh hưởng của chúng đối với trái đất. Cụ thể trong Kỳ Môn Độn Giáp, đó là khi chúng bay đến một cung nào đó, sẽ có tác dụng và ảnh hưởng đối với cung đó. Vì vậy, vượng, tướng, hưu, tù, phế của Cửu tinh khác với ngũ hành dưới đất.
Cửu tinh rơi vào cung mà ta sinh thì ở trạng thái vượng nhất; rơi vào cung có ngũ hành cùng với ta thì ở trạng thái tướng (vượng thứ hai); rơi vào cung mà ta khắc thì ở trạng thái hưu; rơi vào cung sinh ra ta thì ở trạng thái phế; rơi vào cung khắc ta thì ở trạng thái tù. Đây chính là nội dung trong bài ca Yên Ba Điếu Tẩu Ca: "Cùng hành với ta tức là tướng / Ta sinh chi tháng thực là vượng / Phế ư phụ mẫu, hưu ư tài / Tù ư quỷ hề chân bất vọng."
Ví dụ: Sao Thiên Bồng thuộc hành Thủy. Nếu nó bay đến cung Khảm (1) thì ở trạng thái "tướng", vì cung Khảm cũng thuộc Thủy, cùng một hành. Người xưa gọi đây là rơi vào "huynh đệ cung" (cung anh em), chỉ có tác dụng trợ giúp lẫn nhau. Do đó, lúc này nó ở trạng thái vượng thứ hai. Nếu Thiên Bồng bay đến cung Chấn (3) hoặc cung Tốn (4), Thủy sinh Mộc, người xưa gọi là rơi vào "tử tôn cung" (cung con cháu), tác dụng của Thiên Bồng được phát huy tối đa, nó ở trạng thái vượng nhất. Nếu Thiên Bồng bay đến cung Ly (9), cung Ly thuộc Hỏa, Thiên Bồng thuộc Thủy, người xưa gọi là rơi vào "thê tài cung" (cung vợ và tài). Tuy rằng Thủy có thể khắc Hỏa, nhưng cung Ly vốn thuộc Hỏa, Hỏa đương lệnh ở cung Ly, Thủy không phát huy được tác dụng bao nhiêu, vì vậy Thiên Bồng ở trạng thái hưu. Nếu Thiên Bồng rơi vào cung Càn (6) hoặc cung Đoài (7), Kim sinh Thủy, người xưa gọi là rơi vào "phụ mẫu cung" (cung cha mẹ), vì Càn, Đoài đều thuộc Kim, Kim đương lệnh tự nhiên sinh Thủy, không cần Thiên Bồng phải tác dụng nữa, do đó nó ở trạng thái phế. Nếu Thiên Bồng rơi vào cung Cấn (8) hoặc cung Khôn (2), Thổ khắc Thủy, người xưa gọi là rơi vào "quan quỷ cung" (cung quan quỷ), vì Cấn, Khôn thuộc Thổ, Thổ đương lệnh khắc Thủy, Thủy bị giam cầm, cho nên Thiên Bồng ở trạng thái tù.
Ở trên là nói theo cung rơi. Nếu xét theo tháng lệnh (tháng trong năm), cũng tương tự. Ví dụ: Thiên Bồng vào hai tháng Hợi (tháng 10) và Tý (tháng 11) cùng thuộc Thủy, ở trạng thái "tướng" (vượng thứ hai). Thiên Bồng vào hai tháng Dần (tháng 1) và Mão (tháng 2), vì Thủy sinh Mộc, ở trạng thái "vượng". Thiên Bồng vào hai tháng Tỵ (tháng 4) và Ngọ (tháng 5), Thủy khắc Hỏa nhưng Hỏa đương lệnh, Thiên Bồng ở trạng thái "hưu". Thiên Bồng vào hai tháng Thân (tháng 7) và Dậu (tháng 8), Kim sinh Thủy, Kim đương lệnh tự sinh Thủy, Thiên Bồng ở trạng thái "phế". Thiên Bồng vào bốn tháng Thìn (tháng 3), Mùi (tháng 6), Tuất (tháng 9), Sửu (tháng 12), Thổ khắc Thủy, Thổ đương lệnh, Thiên Bồng ở trạng thái "tù". Tám sao còn lại có thể suy ra tương tự.
Vậy, trạng thái vượng, tướng, hưu, tù, phế của Cửu tinh, nên lấy cung rơi làm chính để phán đoán, hay lấy tháng lệnh làm chính? Căn cứ vào dịch lý và kinh nghiệm thực tiễn, trạng thái này nên lấy cung rơi làm chính, kiêm xem tháng lệnh. Ví dụ: năm Canh Thìn, tháng 11 (tháng Tý), sao Thiên Bồng rơi vào cung Cấn (8), tám sao khác lần lượt rơi vào các cung 3, 4, 9, 2, 7, 6, 1... (nguyên bản kết thúc mở, ý nói người đọc tự suy ra các trạng thái tương ứng).
