KỲ MÔN TU TẠO – PHÉP SỬA THIÊN TỰ CẦU CON
KỲ MÔN TU TẠO – PHÉP SỬA THIÊN TỰ CẦU CON
Phép sửa Thiên Tự cầu con, nên lấy phương pháp chế Đại Sát trong sách Hiệp Kỷ Biện Phương Thư làm chính, lấy Lựa Chọn Cầu Chân, Dương Trạch Tích Thành, Vĩnh Lạc Đại Điển làm phụ trợ.
Điểm trọng yếu trong phép chế Đại Sát của Hiệp Kỷ Biện Phương Thư:
Đại Sát tức là Đả Đầu Hỏa, Kim Quỹ Tinh, là sát năm (niên gia trung sát), mức độ nguy hiểm kém hơn Thái Tuế nhưng nặng hơn Quan Phù, Bạch Hổ. Dùng Thủy nhất bạch (Thủy) để chế Hỏa Đả Đầu Hỏa ở phương Nam, ắt phải chọn các tháng Thân, Tý, Thìn – thời điểm Thủy vượng, Hỏa suy thì mới được.
Đế Vượng là Kim Quỹ Tinh, tốt (cát). Nhưng cũng là Đả Đầu Hỏa, chủ hỏa hoạn, xấu (hung). Nếu chồng lên Thái Tuế thì càng hung.
Đả Đầu Hỏa rất kỵ, không thể phạm. Nếu gặp Niên Độc Hỏa, Nguyệt Du Hỏa, Nguyệt Gia Bính Đinh Hỏa, chỉ cần một trong các hỏa sát đó hội tụ thì hỏa hoạn ắt phát. Nếu tháng, ngày có Thủy nhất bạch tinh đến phương, có khí, hoặc có các sao Thủy Nhâm, Quý đến, thì có thể chế ngự được, không đáng ngại.
Theo sách: Quan Phù, Bạch Hổ, Đại Sát là tam hợp của năm. Nếu chồng lên các sát xấu, thì do Thái Tuế chiếu tới, cái xấu mạnh, cho nên phải kiêng; nếu chồng lên sao tốt (cát tinh) thì lại thành tốt. Vì vậy, lấy sao tốt chiếu sáng, lâm đến làm phương pháp lấy dùng, dùng nạp âm chế là thứ yếu. Sách nói: "Tam hợp chế nó cũng khuất phục", dường như cũng cho rằng quá mức. Nguyệt gia phi cung lại lâm bản vị gọi là hoàn cung; phi và phục cùng đến, sợ quá vượng, thì dùng tam hợp cục để tiết nó là được. Thiên Quan Phù là phương lâm quan của tuổi, cũng cùng nghĩa với Địa Quan Phù. Đại Sát chồng lên Thái Tuế thì hung, xem dưới mục Hỏa tinh.
【Vĩnh Lạc Đại Điển】: Đại Sát, người Trịnh Châu, họ Chân, tên Tín. Nếu người phạm phải thì chó tự lên mái nhà tru, có lửa sáng. Trấn tế dùng: ngựa vàng mã, hương, rượu, trà, cúng dường; ngũ sắc mỗi thứ một thước hai tấc; lại dùng nửa cân sắt sống, một đầu thỏ, chôn tại phương bản vị. Theo pháp này, tại phương bản hành niên (năm hành của tuổi) viết thần vị mà tế, rất tốt lành.
【Lựa Chọn Cầu Chân】: Phàm trong nhà con cái không thịnh, ắt do bản mệnh Thiên Tự, Nam Nữ tinh phương bị thất hãm, lại gặp long khí tiết ra ngoài. Nên chọn Thiên Tự phương, Kim Quỹ phương, Hồng Loan, Thiên Hỷ phương trong năm, đồng thời lấy Thanh Long, Sinh Khí, Hỏa Tinh, Thắng Quang, Thần Hậu, Công Tào, Truyền Tống và Thái Dương, Thái Âm, kết hợp với Thiên Tự của bản mệnh, chủ lộc, mã, quý nhân của nam nữ, lại hợp với Đinh kỳ, Sinh môn, quý nhân cùng đến phương đó mà sửa chữa, thì sẽ có ứng nghiệm lớn. (Có riêng phép dời giường, sửa bếp cầu con, sẽ được chép ở phần sau.)
Phép sửa Thiên Tự cầu con (tiếp):
Lấy nguyệt tướng cộng lên Thái Tuế, xem phương cần sửa được sao nào. Nên bốn sao Thần Hậu, Công Tào, Truyền Tống, Thắng Quang đến là tốt nhất.
Ví dụ: năm Tý, tháng Ba sửa phương Mão. Tháng Ba có tướng Tòng Quỳ (tức tướng tháng Ba). Lấy Tòng Quỳ cộng lên Thái Tuế (Tý) mà thuận hành: Hà Khôi đến Sửu, Đăng Minh đến Dần, Thần Hậu đến Mão. Vậy phương Mão được Thần Hậu tướng đến, sửa đó thì tốt. Các trường hợp khác phóng theo đó.
Ca rằng: "Công Tào Truyền Tống gia thiên khẩu / Thắng Quang Thần Hậu bách dư đinh" (Công Tào, Truyền Tống được nghìn miệng ăn / Thắng Quang, Thần Hậu được trăm đinh). Lại rằng: "Công Tào Truyền Tống địch phú quốc / Thắng Quang Thần Hậu bách niên trần" (Công Tào, Truyền Tống sánh giàu nước / Thắng Quang, Thần Hậu bền trăm năm). Đó là sửa kho tàng cũng nên dùng bốn sao tốt này. Tuy vậy, cần tra theo lịch thời hiến để xem trung khí, Thái Dương quá cung chính xác mới đúng.
Ví dụ: người tuổi Giáp (Giáp sinh), lấy Hỏa hóa Thiên Lộc, Bột hóa Thiên Ám, Mộc hóa Thiên Phúc, Kim hóa Thiên Hao – lần lượt mà hóa. Như người tuổi Ất, lấy Bột hóa Thiên Lộc, Mộc hóa Thiên Ám, Kim hóa Thiên Phúc, Thổ hóa Thiên Hao – đều theo thứ tự mà hóa. Mười can cũng như vậy. Gặp can hóa quý, chính là Thiên Tự, Thiên Tinh (sao trời). Nếu đến phương cần sửa thì đại cát. Cần tra lịch bàn, xem sao có đến đúng độ không mới chính xác.
Ca rằng: "Giáp nguyệt Ất thủy Bính khí cầu / Đinh kế Mậu la Kỷ hỏa chu / Canh bột Tân mộc Nhâm kim thị / Quý tầm thiên quý thổ thượng du".
Nghĩa là:
Giáp – nguyệt (Thái Âm?); Ất – Thủy; Bính – Khí; Đinh – Kế; Mậu – La; Kỷ – Hỏa; Canh – Bột; Tân – Mộc; Nhâm – Kim; Quý – Thiên Quý; Thổ – Thổ? (Thực tế đây là hóa tinh của Thất chính tứ dư: Thổ – Kế, Mộc – Khí, Hỏa – La, Kim – Bột, Thủy – Nguyệt, v.v. Người dịch giữ nguyên theo ca quyết).
Lấy bản mệnh hành niên cộng lên Thái Tuế:
Với người mạng dương (năm sinh dương: Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm): từ cung Dần khởi 1 tuổi, thuận hành.
Với người mạng âm (năm sinh âm: Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý): từ cung Thân khởi 1 tuổi, nghịch hành.
Đếm đến hành niên (tuổi hiện tại) thì dừng, xem được sao gì. Lấy sao đó đặt lên vị trí Thái Tuế, thuận hành đến phương cần sửa, xem sao nào đang lâm. Nếu được bốn sao tốt Thắng Quang, Công Tào, Truyền Tống, Thần Hậu đến, thì sửa chữa ắt sẽ sinh con ứng nghiệm.
Ví dụ: Người mạng Giáp Tý, năm Đinh Mùi (năm thứ ...) sửa phương Càn (Tuất, Hợi). Giáp là dương, từ Dần khởi 1 tuổi thuận: 2 tuổi Mão, 3 tuổi Thìn,... 11 tuổi Tý, 21 tuổi Tuất, 31 tuổi Thân, 41 tuổi Ngọ, 42 tuổi Mùi, 43 tuổi Thân, 44 tuổi Dậu. Dậu là tướng Tòng Quỳ. Đem Tòng Quỳ đặt lên Thái Tuế Đinh Mùi mà thuận hành: Hà Khôi đến Thân, Đăng Minh đến Dậu, Thần Hậu đến Tuất. Phương Càn (Tuất) được sao tốt Thần Hậu đến, sửa chữa sẽ lập tức thêm đinh.
Bí quyết: Có người tuổi Kỷ Sửu, 33 tuổi không con, muốn sửa phương Tây Bắc (Càn). Chọn năm Tân Dậu, ngày 27 tháng 8, ngày Bính Thân, dùng giờ Thìn chính 3 khắc để sửa chữa, đặt giường (an sàng). Hôm ấy là sau tiết Hàn Lộ 6 ngày, Thái Dương nhật độ ở sao Trấn (Chẩn) 18 độ. Đem Thái Dương đặt lên địa bàn sao Trấn 18 độ, thì thiên bàn và địa bàn sao độ đồng cung, gọi là Thiên Địa hợp đức. Thái Dương đối chiếu ở phương Tuất, Hợi. Liền hành động ở phương Tuất, Hợi. Năm đó Thái Dương Thiên Tự tinh ở phương Tuất. Người mạng Kỷ Sửu, lấy ngày Bính Thân là Âm quý nhân, là Thiên Trù quý nhân, là Cực phú tinh, là Thiên Bảo tinh. Ngày hôm đó là chân Thiên Đức Sinh Khí cát thần. Hỏi trước kỳ kinh nguyệt của phu nhân vào khoảng nào? Đáp: khoảng 14,15 (giữa tháng). Cho nên chọn ngày này.
Lại theo: mẹ chủ nhà (trạch mẫu) là ngày Giáp Dần, giờ Mão sinh. Lấy Thái Âm làm Thiên Tự tinh. Hôm ấy Thái Âm độ ở sao Trương 11 độ. Bảo trước chủ nhà: "Hôm nay Thái Âm, đến giờ Tuất thì mặt trăng sẽ đi đến phương Tuất. Giờ đó vợ chồng giao hợp, ắt sẽ thụ thai". Đó là diệu dụng của sự mở đóng (khai hợp) của mặt trời, mặt trăng.
Lại theo Luật Lã: Lấy mệnh mẹ chủ nhà là Dần. Dần sinh tháng Dậu; Dậu sinh giờ Thìn; Thìn sinh phương Hợi; Hợi sinh Ngọ (Thái Âm – sao Trương ở cung Ngọ); Ngọ sinh mệnh chủ nhà là Sửu; Sửu sinh ngày Thân; Thân sinh giờ Mão của mẹ; Mão sinh phương Tuất (phòng ngủ). Đó là: Thái Thước (Dần) sinh Nam Lã (Dậu), Nam Lã sinh Cô Tiển (Thìn), Cô Tiển sinh Ứng Chung (Hợi), Ứng Chung sinh Tuỵ Tân (Ngọ), Tuỵ Tân sinh Đại Lã (Sửu), Đại Lã sinh Di Tắc (Thân), Di Tắc sinh Giáp Chung (Mão), Giáp Chung sinh Vô Xạ (Tuất), Vô Xạ hợp Giáp Chung, mà thành sinh sôi bất tận. Sau đó quả nhiên thụ thai, đến tháng 7 năm sau sinh con trai, đúng như ứng nghiệm. (Theo đó, sao Công Tào đến Hợi chứ không đến Tuất.)
Lại một ví dụ: Ông Ngô Trung Phủ ở huyện Vấn Thượng, năm đó 55 tuổi không con, nhờ xem nhà ở có sinh được không. Dùng la bàn đo: nhà tọa Tý hướng Ngọ. Phòng ngủ ở hướng Đông Bắc cung Cấn. Chủ nhà sinh ngày Quý Sửu, tuổi Bính Tý. Thiên Tự của bản mệnh ở Hợi. Thái Dương, Thiên Hỷ ở Tỵ. Lấy Quý Hợi làm mệnh cung, Ích Hậu tinh. Lấy Dậu làm Kim Quỹ, Hồng Loan, Thiên Hỷ. Lấy tam hợp Tỵ – Dậu – Sửu, mã ở Hợi, tất cả đều là sinh con phát phúc. Các vị thần tốt họp với tuổi năm thành một khí, đó là niên hợp đại lợi. Chọn ngày 11 tháng 5 năm Mậu Thìn, giờ Dần, ngày Tân Mùi. Dùng 6 người thợ cùng sửa phương Tý, đặt giường ở phương Tý. Đến giờ Mùi, Thân thì làm xong. Ngay ngày hôm đó, giờ Dậu vào phòng làm đầu. Vì cửa lớn ở phương Tỵ, năm đó gặp Thái Dương, Thiên Hỷ lâm môn.
Theo Luật Lã: Dùng Thái Dương ở cửa Tỵ (cung Tỵ thuộc Trọng Lã) sinh phòng ngủ con (cung Tý thuộc Hoàng Chung); Hoàng Chung sinh ngày Mùi (Lâm Chung); Mùi sinh giờ Dần (Thái Thước) khởi công; Dần sinh giờ Dậu (Nam Lã) vào phòng; Dậu sinh tuổi Thìn (Cô Tiển); Thìn sinh Hợi (Ứng Chung) là Thiên Tự tinh; Hợi sinh hướng Ngọ (Tuỵ Tân) của nhà; Ngọ sinh chủ nhà ngày Quý Sửu (Đại Lã). Đây là đạt được đạo sinh sôi bất tận.
Lại theo điếu cung (treo cung): Lấy nguyệt kiến Mậu Ngọ (tháng 5) nhập Trung cung, thuận hành Lạc Thư cửu cung: Kỷ Mùi đến Càn, Canh Thân đến Đoài, Tân Dậu đến Cấn, Nhâm Tuất đến Ly, Quý Hợi đến Khảm. Đó là âm quý nhân của mạng Bính đến nhà Khảm. Tháng này, Quý Hợi là Thiên Đức (Càn Hợi đồng cung), là Tuế Đức hợp. Quý lộc đến cung Tý, lại là Thiên Tự, Ích Hậu, hợp với nguyệt kiến Mậu Quý – tương hợp. Nhà Khảm nạp Mậu, gọi là "nhất khí". Cửa nhà này ở Tỵ, Tỵ cùng cung với Tốn, thì là nhà Tốn. Đúng là "khí khẩu phản vi sơ" (cửa ngõ lại là điểm khởi đầu). Phòng ngủ cũ ở cửa Tốn, phương tuyệt mệnh Cấn. Nay dời cửa Tốn đến phương sinh khí. Do đó chọn quẻ Tốn, hào lục tứ (hào 4), ngày Tân Mùi theo hỗn thiên – đó là Thiên Đức, thượng cát, Minh Đường hoàng đạo, Ích Hậu, Thiên Phúc, Tuế quý – các cát thần hội tụ. Ngày Tân, can trường sinh ở Tý, Tân lộc đến Dậu. Ngày này lấy Tỵ – Dậu – Sửu làm Phúc tinh, Thiên Lộc, Thiên Trù, Hoàng Đạo, Tục Thế, Sinh Khí – đều là các thần tốt sinh con phát phúc. Hơn nữa, Tân Mùi tuy nằm giữa hào 9-3 và 9-5 của quẻ Tốn, nhưng cùng hào 9-2 là quân tử đồng vị. Kinh Dịch nói: "Hối vong, điền hoạch tam phẩm" (Ân hận mất, ruộng bắt được ba phẩm). Được tài thanh tú, mỹ dự, thuận hòa khiêm cung, đủ để làm bậc vương hầu đại nhân. Ắt sinh con quý tử, phát phúc rất nhanh. Đến giữa tháng Nhuận (nhuận tháng 4) năm Kỷ Tỵ, lại đến huyện Vấn Thượng chơi, Trung Phủ liền nói: mùng 6 tháng Nhuận, giờ Sửu đã sinh con trai. Hôm ấy là ngày Tân Dậu, giờ Sửu, đúng tam hợp Tỵ – Dậu – Sửu, ứng nghiệm như vậy.
