THIÊN TRỤ TINH
THIÊN TRỤ TINH
Tên đầy đủ của Thiên Trụ Tinh là Ngưng Hoa Hảo Hóa Thiên Xung Phá Quân Quan Tinh, gọi tắt là Phá Quân Tinh, tự Tử Trung.
Đặc điểm của Thiên Trụ Tinh: sao này ứng với cung Đoài (Đoài thất cung) ở phía Tây, là Âm tinh, hành Kim. Người ta cho rằng nó đúng vào lúc mùa Thu kim khí túc sát, thích sát phạt, hiếu chiến, có liên quan đến sự kinh hãi, quái dị, phá hoại, đổ vỡ, vì vậy là Hung tinh. Nếu Thiên Trụ Tinh lâm cung, thích hợp cho việc đóng quân cố thủ, ẩn tàng hình tích. Không thích hợp xuất quân giao chiến, nếu cưỡng ép thì sẽ xe hỏng ngựa bị thương, binh sĩ bại vong; cũng không thích hợp buôn bán đi xa, nếu không sẽ phá tài tổn vốn, gặp tai họa bất ngờ. Tuy nhiên, có thể tiến hành cưới gả, xây dựng, tế tự.
Khi điều chỉnh phong thủy dương trạch, nếu trong cục Kỳ Môn xuất hiện tổ hợp Thiên Trụ Tinh với Bính và tổ hợp này khởi tác dụng xấu (Bính đại diện cho những sự vật liên quan đến lửa), điều này cho thấy ở phương vị tương ứng bên ngoài có thể có những vật thể như ống khói đang tạo ra sát khí bất lợi cho ngôi nhà. Nếu xuất hiện tổ hợp Thiên Trụ Tinh với Canh, Canh là kim loại lớn, cho thấy ở phương vị tương ứng bên ngoài có thể có cột sắt, tháp sắt. Gặp những trường hợp này đều cần kịp thời dùng các vật phẩm phong thủy như gương Bát Quái để hóa giải. Nếu cục Kỳ Môn cho thấy cung lạc của Thiên Trụ Tinh khởi tác dụng tốt đối với gia cư dương trạch, thì có thể trong nhà ở phương vị tương ứng bày đặt các vật thể như đèn đứng, hoặc mắc áo đứng... để tăng cường năng lượng của Thiên Trụ Tinh.
Thiên Trụ Tinh cũng được suy rộng ra là hình tượng trụ cột chống trời, nhân vật trụ cột. Ví dụ như trong mỗi gánh hát xưa thường có một, hai nữ đào (kép) được xem là trụ cột của gánh vì diễn xuất xuất sắc. Những người này thường có Thiên Trụ Tinh trong Kỳ Môn chung thân bàn (bàn Kỳ Môn lập theo năm tháng ngày giờ sinh). Tác giả (của bài viết gốc) trong quá trình dự đoán nhận thấy, phàm những người có Thiên Trụ Tinh thường có năng lực làm việc siêu việt, thường một mình đảm nhiệm một phía, thậm chí có thể xoay chuyển tình thế, trong đơn vị hoặc bộ phận công tác, họ thuộc loại người gánh vác trọng trách lớn. Ý nghĩa thứ hai của Thiên Trụ Tinh là chỉ những người không theo khuôn khổ thông thường, không thích câu nệ, rập khuôn. Phần lớn người có Thiên Trụ Tinh đều có phong cách hành sự thích phá bỏ những ràng buộc, quy tắc, thích sáng tạo độc đáo, thậm chí khá nổi loạn. Ý nghĩa thứ ba của Thiên Trụ Tinh là thị phi, khẩu thiệt. Trong Kỳ Môn Độn Giáp, có hai ký hiệu đại diện cho thị phi khẩu thiệt, tranh chấp, Thiên Trụ là một trong hai (ký hiệu còn lại là Kinh môn), bởi vì Thiên Trụ Tinh cũng như Kinh môn, bản vị đều rơi vào cung Đoài phương Tây, Đoài có tượng là miệng, nói nhiều, khẩu thiệt. Hơn nữa, Thiên Trụ Tinh tương ứng với sao thứ bảy trong Bắc Đẩu thất tinh của thiên văn cổ đại – Phá Quân tinh. Phá Quân tinh có tâm tính quyết đoán sắc bén, dễ gây thị phi, hiếu dũng đấu hận, vì vậy Thiên Trụ Tinh tương ứng cũng vậy. Cho nên người có Thiên Trụ Tinh dễ tự kiêu, tự mãn, quá đề cao bản thân, đả kích người khác, từ đó kết oán với người, gieo mầm thị phi, họa hại. Vì vậy, khi dự đoán, nếu Thiên Trụ Tinh kết hợp với Kinh môn, điều này cho thấy người này tuy có ưu điểm năng lực nổi trội, nhưng cũng là một kẻ hay gây sự, như “cái gai” trong mắt mọi người.
TƯỢNG Ý
Ngũ hành: Kim. Ở trên không trung phương Đoài.
Trạng thái bốn mùa: Mùa xuân: hưu; mùa hạ: tù; mùa thu: tướng; mùa đông: vượng; tháng Tứ Duy: phế.
Trạng thái Cửu cung: cung Chấn, Tốn: hưu; cung Ly: tù; cung Càn, Đoài: tướng; cung Khảm: vượng; cung Khôn, Cấn: phế.
Khái niệm: Âm tính, thiếu nữ, chinh phạt đánh đấm, phá hoại đổ vỡ, gạch ngói vụn, sắc dục, châm chọc, lạnh lùng, tiêu điều, kinh hãi, quái dị, ác mộng, cưỡng hiếp, trộm vui, ruồng bỏ, chia rẽ, đội trời đạp đất, xoay chuyển tình thế, trụ cột, phá tài, thị phi khẩu thiệt.
Việc nên – việc kiêng: Là ẩn sĩ, nên ẩn tích cố thủ, không nên xuất hành mưu sự, mọi việc làm đều không cát. Nên huấn luyện binh sĩ, đóng quân cố thủ, không nên xuất quân giao chiến, buôn bán đi xa, cưỡng ép thì sẽ xe hỏng ngựa bị thương, binh sĩ bại vong, phá tài tổn vốn, gây tai họa lâu dài.
Hình thái: Dáng trụ, mặt trắng, mặt vuông tròn, môi mỏng, thân hình cường tráng.
Tính tình: Thị phi khẩu thiệt, ăn nói lưu loát, thích đấu tranh kiện tụng, thích sát phạt hiếu chiến, là người biện luận giỏi.
Bộ phận cơ thể: Miệng rộng, răng nanh, cổ họng, đốt sống cổ, đùi, cơ quan sinh dục nữ.
Động vật: Gà trống, chuột chũi, dê, các loài chim.
Nhân vật: Thiếu nữ, luật sư, giáo viên, diễn viên, nghệ sĩ, tình nhân (kỹ nữ), phiên dịch quan, thuyết khách, phù thủy, bà mối, ẩn sĩ, phần tử hiếu chiến.
Thực vật: Cây thẳng, lau sậy, tre trúc, cây hồ dương.
Địa lý: Cột điện, tháp sắt, chùa miếu, cao ốc, đài kỷ niệm, đầm lầy, vùng đất ẩm ướt, cửa xả nước, rạp hát, khu vui chơi giải trí.
Đồ vật tĩnh: Thiết bị điện tử phát ra âm thanh, nhạc cụ.
THIÊN TRỤ TINH GẶP MƯỜI HAI THỜI THẦN
Thiên Trụ tàng hình cẩn thủ nghi, bất tu viễn hành cập doanh vi, thương cổ bách sự giai bất lợi, động tác lập khắc kiến hung nguy.
Giờ Tý: Chủ có mưa gió, lửa từ phía Đông phát lên, người môi sứt đến làm ứng nghiệm. Sau khi tác dụng (an táng, xây dựng...), trong 60 ngày rắn chó cắn người, dao gây thương tích, thấy huyết quang, phá tài.
Giờ Sửu: Chủ phía Bắc có thợ mộc cầm rìu, trên cây có hoa vàng làm ứng nghiệm. Sau khi tác dụng, 60 ngày nhận được vàng bạc của người âm Vũ, trong ba năm có hỏa hoạn, chủ phá sản gia sản, xuất hiện người chơi rắn, nuôi chó.
Giờ Dần: Chủ trâu ngựa ồn ào, tăng ni cầm lọng che đến, có mưa sấm, chim hỷ tước kêu làm ứng nghiệm. Sau khi tác dụng, chủ bị kẻ trộm liên lụy, quan tụng phá tài, phụ nữ sẩy thai chết, hung.
Giờ Mão: Chủ có người đốn cây, đàn ông cầm trống, ông già mặc áo vàng cầm cuốc đi ngang làm ứng nghiệm. Sau khi tác dụng, trong 60 ngày gà mái, chó lên mái nhà, trong một năm thiếu nữ chết, hung.
Giờ Thìn: Chủ có người từ phương Tây cầm đồ vàng đến làm ứng nghiệm. Sau khi tác dụng, trong 7 ngày nhận được tài vật của người phụ nữ (âm nhân), trong ba năm đại phát.
Giờ Tỵ: Chủ có trâu đen kéo xe, heo lên núi, tiếng chuông trống vang lên làm ứng nghiệm. Sau khi tác dụng, trong 20 ngày nhận được tài vật của người họ thuộc âm Thương, trong 60 ngày có phụ nữ xuống nước, dã thú vào nhà, trong một năm sinh quý tử, là điềm đại phát.
Giờ Ngọ: Chủ có người cưỡi ngựa đến, tháng mùa Đông có tuyết, mùa Hạ Thu có quạ bay kêu làm ứng nghiệm. Sau khi tác dụng, trong 5 ngày phụ nữ mang thai đi lại trong tang phục khóc lóc, trong 60 ngày ở gần nước tìm được đồ đồng cổ, hao tài, trẻ nhỏ bị tai họa, hung.
Giờ Mùi: Chủ có phụ nữ cùng với tăng ni đi chung, người phía Đông Bắc mang lọng che cưỡi ngựa đến làm ứng nghiệm. Sau khi tác dụng, vì phụ nữ mà thấy cáo, suy bại, đại hung.
Giờ Thân: Chủ có chim ưng bắt chim rơi xuống đất, và người mặc áo xanh (hoặc đen) mang lọng che đến làm ứng nghiệm. Sau khi tác dụng, trong ba năm lửa lớn thiêu rụi nhà, gia nghiệp đại bại.
Giờ Dậu: Chủ phía Đông có xe lớn xe nhỏ nối tiếp nhau hàng chục chiếc chạy qua làm ứng nghiệm. Sau khi tác dụng, trong 70 ngày nhận được đồ trang sức của phụ nữ, phát tài.
Giờ Tuất: Chủ có phụ nữ ôm vật bằng vải trắng đến, phía Tây Bắc có tiếng trống làm ứng nghiệm. Sau khi tác dụng, phía Đông Bắc có cây đổ đè người, tiếng la hét, sau đó 60 ngày rắn rết cắn người, ôn dịch chết người, đại bại, hung.
Giờ Hợi: Chủ phía Tây có tiếng chuông làm ứng nghiệm, dưới chân núi có tiếng người la hét. Sau khi tác dụng, trong 100 ngày, nhờ cứu hỏa mà được tài lộc lớn.
