PHƯƠNG PHÁP KHỞI CỤC NHANH DÂN GIAN TRUYỀN THỐNG
PHƯƠNG PHÁP KHỞI CỤC NHANH DÂN GIAN TRUYỀN THỐNG "THỜI PHÁI CHUYỂN BÀN KỲ MÔN ĐỘN GIÁP" VÀ TAM TRUYỀN
Cá nhân tôi vì duyên phận đã kết duyên sâu nặng với "Thuật Kỳ Môn Độn Giáp", và chịu ảnh hưởng sâu sắc từ "Kỳ Môn Độn Giáp dân gian". Quê gốc của tôi là làng quê Lâm Nghi, Sơn Đông, quê hương của Gia Cát Lượng. Từ xưa, ở nông thôn dân gian thường xuất hiện những bậc cao nhân Kỳ Môn. Từ xa xưa, các cao thủ Kỳ Môn Độn Giáp trong dân gian vô cùng thần bí, phép Kỳ Môn họ dùng rất chính xác và nhanh chóng. Các môn phái của Kỳ Môn Độn Giáp chỉ có: "Niên, Nguyệt, Nhật, Thời", "Phi Bàn, Chuyển Bàn" là những phái lớn. Còn những thứ như Phật giáo gì đó, đều là trò bịp không có căn cứ. Nay tôi xin chia sẻ cho mọi người phương pháp khởi cục Kỳ Môn giản tiện nhanh chóng mà các cụ già dân gian dùng. Tôi tự cho rằng cách khởi cục Kỳ Môn dân gian hiện nay cũng tương tự như vậy. Còn về việc một số cao thủ có thể bài bàn trên tay, thực ra những điều này chẳng có gì thần bí cả, theo tôi được biết thì dựa trên tính toán và mức độ thuần thục. Tôi cho rằng những tính toán này rất lộn xộn, nếu tư duy logic không tốt thì rất nhanh sẽ bị rối. Tôi vẫn khuyên nên dùng cổ pháp, từng bước một diễn giải cục.
Cá nhân tôi vì theo học các cụ già nên học phép 'Tháo Bổ Pháp'. Tôi cho rằng Tháo Bổ Pháp tương đối phù hợp với quy luật tự nhiên, nhưng sẽ xuất hiện một phần khuyết thiếu, điều này tôi cho là vấn đề không lớn. So với 'Trí Nhuận Pháp' thì nó đơn giản và thực dụng hơn. Về việc khởi cục, cá nhân tôi cho rằng tuy phải dựa theo quy luật tự nhiên để khởi cục cho phù hợp, nhưng có một số cụ già dựa vào khởi cục sai vẫn có thể phán đoán được diễn biến tình thế sự việc, điều này tương tự như rút thăm, phải sống động. Giống như 'Mai Hoa Dịch Số', 'tâm tùy dịch động, mới là cảnh giới cao nhất'. Trước đây có một chàng trai vì rất yêu thích Kỳ Môn, may mắn được biết đến một cao nhân Kỳ Môn dân gian. Vị cao nhân này ở nông thôn có thể nói là 'sống như thần tiên', có thuật Kỳ Môn tiên tri. Nghe nói khi ông ấy nhìn thấy một người thì cứ như đã quen biết người đó từ trước, những việc xảy ra hàng ngày đều có thể dùng Kỳ Môn đoán ra, thậm chí cả việc ăn món gì. Chàng trai này hơi không tin, bèn tùy tiện cầm một quẻ Kỳ Môn đã được bài bàn sẵn của một người đã chết để nhờ ông cụ xem. Ông cụ chỉ nhìn một cái liền nói người này đã chết được một tuần rồi, mà thực tế người đó vừa đúng là chết được một tuần. Từ đó, dù là dân gian hay xã hội đều tràn đầy tò mò và cảm giác thần bí về 'Kỳ Môn'. Những năm gần đây, những người yêu thích lần lượt nghiên cứu học tập 'Thuật Kỳ Môn'. Đặc biệt hiện nay, các ông chủ, nhà kinh tế tham gia 'đầu tư doanh nghiệp lớn' đều lũ lượt tìm đến học dưới cửa 'Kỳ Môn Độn Giáp'.
Bởi vì thời kỳ đầu, do ảnh hưởng ở quê nhà rất rộng, do trước kia còn lạc hậu, phần lớn là văn ngôn, nên rất khó hiểu. Các cụ già thời kỳ đầu nghiên cứu một phương pháp khởi cục còn phải mất 2 đến 3 năm. Có thể thấy được cho đến nay là không dễ dàng. Hiện nay thì khác rồi, cách khởi cục rất linh hoạt, nhanh chóng, tiện dụng, người không có kiến thức nền tảng, được dạy trực tiếp khoảng 1 giờ là có thể khởi cục rất tốt. Nay tôi xin nói cho mọi người biết cách diễn cục Kỳ Môn chuyển bàn nhanh chóng, truyền thống của riêng tôi.
Xác định số khởi cục của "Thời phái chuyển bàn Kỳ Môn Độn Giáp"?
Thời phái chuyển bàn Kỳ Môn chia làm: Âm độn và Dương độn. Sau ngày Đông Chí thì dùng Dương độn, sau ngày Hạ Chí thì dùng Âm độn. Âm Dương mỗi loại 9 cục, tổng cộng 18 cục.
Khi Âm độn, căn cứ vào số cục: nghịch bố 6 nghi, thuận bố 3 kỳ.
Khi Dương độn, căn cứ vào số cục: thuận bố 6 nghi, nghịch bố 3 kỳ.
Việc xác định số cục là cụ thể. Ví dụ như Dương 1 cục, Âm 8 cục. Chỉ khi biết được số cục trước mới có thể bố trí Kỳ Nghi. Dương 1 cục bắt đầu bố từ cung 1, Âm 8 cục bắt đầu bố từ cung 8, sau đó căn cứ vào thuận nghịch âm dương để bố trí các cung. Thứ tự của 6 nghi là: Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Thứ tự của 3 kỳ là: Ất, Bính, Đinh (theo thứ tự cổ pháp).
Trong Kỳ Môn có 4 bàn: Địa bàn, Thiên bàn, Nhân bàn, Thần bàn. Khi chúng ta bố trí Kỳ Môn cục cũng phải theo đúng thứ tự này để bố trí: Bố Địa bàn trước → sau đó đến Thiên bàn → rồi đến Nhân bàn → cuối cùng là Thần bàn. Điều này phù hợp với vũ trụ: "Thiên, Địa, Nhân". Ngoài ra, Thần bàn tôi ví von như "vật chất thần quỷ v.v...", Thần bàn không nằm trong ngũ hành.
1. Xác định "số cục Kỳ Môn". Chúng ta cần tìm ra tam nguyên của ngày hôm đó, đang ở thượng nguyên, trung nguyên hay hạ nguyên của tiết khí. Trước hết bạn xác định can chi của năm, tháng, ngày, giờ của thời điểm dự đoán. Điều này có thể tra qua Vạn Niên Lịch, còn can chi của giờ thì không tra được, cần phải suy ra, những bằng hữu có nền tảng Dịch học đều biết, tôi không dài dòng nữa. Sau khi tra ra can chi của ngày, hãy xem nó nằm dưới sự dẫn dắt của đầu phù (phù đầu) nào trong 60 Hoa Giáp. Về vấn đề này, cá nhân tôi có cách tính tìm tuần thủ. Tôi tìm tuần thủ của ngày trước rồi mới suy ra phù đầu. Tuần thủ của ngày = số thứ tự địa chi của ngày (trừ) số thứ tự thiên can của ngày. Nếu kết quả nhỏ hơn 2 thì cộng thêm 12. Kết quả bằng 0 là tuần Giáp Tý, bằng 10 là tuần Giáp Tuất, bằng 8 là tuần Giáp Thân, bằng 6 là tuần Giáp Ngọ, bằng 4 là tuần Giáp Thìn, bằng 2 là tuần Giáp Dần. Ví dụ: ngày can Bính Dần, số thứ tự địa chi Dần là 3 trừ số thứ tự thiên can Bính là 3 = 0, 0 là tuần Giáp Tý. Sau đó căn cứ vào tuần để suy ra phù đầu. Phù đầu như sau: Giáp Tý, Giáp Ngọ, Kỷ Mão, Kỷ Dậu là Thượng nguyên; Giáp Dần, Giáp Thân, Kỷ Tỵ, Kỷ Hợi là Trung nguyên; Giáp Tuất, Giáp Thìn, Kỷ Sửu, Kỷ Mùi là Hạ nguyên. Ví dụ: ngày Bính Dần tính được tuần Giáp Tý, một tuần gồm mười tổ can chi, xem nó ở vị trí nào, Bính Dần nằm sau Giáp Tý 3 vị. Do đó, phù đầu Giáp Tý dẫn dắt là Thượng nguyên. Miễn là nằm trong 5 vị đầu sau tuần thủ thì phù đầu chính là tuần thủ đó, nếu quá thì do phù đầu khác dẫn dắt, cụ thể thì suy tiếp.
2. Bày Địa bàn Kỳ Nghi. Bước thứ hai là bày Địa bàn "Cửu cung Bát quái bàn", đem "Tam Kỳ Lục Nghi" theo đúng thứ tự của Âm độn hoặc Dương độn để bày. Khi đã tra cứu xong tam nguyên của ngày, căn cứ vào tiết khí theo bài ca để xác định số cục, bài ca này tôi không nhắc lại. Thứ tự của Tam Kỳ Lục Nghi là cố định, không thay đổi. Thứ tự Lục Nghi luôn là: Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Thứ tự Tam Kỳ là: Ất, Bính, Đinh. Vì việc tách riêng Tam Kỳ và Lục Nghi sẽ gây rườm rà, do thứ tự bày của chúng khác nhau. Để đơn giản hóa, chúng ta bày trực tiếp theo thứ tự Lục Nghi, không cần bày riêng Tam Kỳ nữa. Nhưng thứ tự tổng thể của chúng có thay đổi, đó là đảo ngược Tam Kỳ thành "Đinh, Bính, Ất". Khi đó thứ tự hợp nhất sẽ là: Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, Đinh, Bính, Ất. Chúng ta không cần bày riêng Tam Kỳ theo thuận nghịch nữa, cứ bày trực tiếp theo thứ tự Lục Nghi là được. Dưới đây tôi xin nêu ví dụ. Ví dụ số cục là Dương 8 độn. Khi bày Địa bàn, chúng ta chủ yếu chạy theo thứ tự cung lớn nhỏ. Dương độn đi từ nhỏ đến lớn, Âm độn đi từ lớn đến nhỏ. Dương 8 cục nên bắt đầu bày từ cung 8, cung 8 là Mậu, cung 9 là Kỷ, cung 1 là Canh, cung 2 là Tân, cung 3 là Nhâm, cung 4 là Quý, cung 5 là Đinh, cung 6 là Bính, cung 7 là Ất. Bạn có thể thấy, đối với Tam Kỳ, chúng ta chỉ cần đảo thứ tự từ "Ất, Bính, Đinh" thành "Đinh, Bính, Ất" thì sau đó không cần quan tâm đến thuận nghịch nữa, cứ đi theo thứ tự Lục Nghi là được. Thực ra cổ pháp thứ tự Tam Kỳ là "Ất, Bính, Đinh", nhưng để tiện lợi, tôi đơn giản hóa, rất phù hợp với quy luật.
3. Tìm Trực Phù và Trực Sử. Sau khi bày xong Địa bàn các cung, căn cứ vào giờ để tìm "Trực Phù", "Trực Sử". Hai thứ này thực chất là một thiên tinh đang trực ban của giờ, một môn tướng đang trực ban. "Trực Phù là đầu của Thiên bàn", "Trực Sử là đầu của Nhân bàn", ví như đội trưởng. Để tìm được chúng, ta phải tìm ra tuần thủ của giờ. Khi đó, sao và môn vốn có ở Địa bàn của tuần thủ chính là "Trực Phù và Trực Sử". Phương pháp tìm tuần thủ của giờ cũng giống như phương pháp tìm tuần thủ của ngày để xác định phù đầu. Tuần thủ của giờ = số thứ tự địa chi của giờ (trừ) số thứ tự thiên can của giờ. Nếu kết quả nhỏ hơn 2 thì cộng thêm 12. Kết quả bằng 0 là tuần Giáp Tý, bằng 10 là tuần Giáp Tuất, bằng 8 là tuần Giáp Thân, bằng 6 là tuần Giáp Ngọ, bằng 4 là tuần Giáp Thìn, bằng 2 là tuần Giáp Dần. Ví dụ: giờ Bính Dần, số thứ tự địa chi Dần là 3 trừ số thứ tự thiên can Bính là 3 = 0, 0 là tuần Giáp Tý. Có thể có người sẽ hỏi Địa bàn làm gì có Giáp Tý? Bạn đã tìm ra tuần Giáp Tý rồi. Bởi vì trong "Kỳ Môn Độn Giáp", Giáp không có vị trí cố định nên cần được thay thế. Giáp Tý được thay bằng Mậu, Giáp Tuất thay bằng Kỷ, Giáp Thân thay bằng Canh, Giáp Ngọ thay bằng Tân, Giáp Thìn thay bằng Nhâm, Giáp Dần thay bằng Quý. Đúng là sáu tuần thủ được thay thế bằng Lục Nghi, thứ tự của chúng cũng giống nhau. Như ví dụ trên "tuần Giáp Tý" được thay bằng Mậu, sau khi bạn bày xong Địa bàn, Mậu ở cung nào, thì cung đó, cửu tinh Thiên bàn tương ứng ban đầu là Trực Phù, bát môn Nhân bàn là Trực Sử. Vị trí ban đầu của các bàn tôi không nhắc lại, tôi nghĩ một người học Kỳ Môn chắc hẳn phải nhớ rất kỹ.
4. Diễn cục Thiên bàn. Thiên bàn xoay theo Trực Phù, phải tuân theo can chi của giờ. Bởi vì Trực Phù là thủ lĩnh của Thiên bàn, Thiên bàn luôn xoay theo chiều thuận, bất kể Âm hay Dương độn. Tìm ra Kỳ Nghi đã được bày ở Địa bàn của Thời Can, sau đó xoay Trực Phù đến cùng cung với Thời Can, rồi cho các Cửu Tinh khác theo vào chỗ, theo đúng thứ tự xoay bàn của các cung ban đầu, lần lượt vào cung cùng Trực Phù. Sau khi xoay xong Cửu Tinh Thiên bàn, thì viết Kỳ Nghi Địa bàn ở trong cung cố định ban đầu của Cửu Tinh đi cùng, đó chính là Tam Kỳ Lục Nghi của Thiên bàn. Tức là các Kỳ Nghi tồn tại ở cung vị ban đầu của Cửu Tinh.
5. Diễn cục Nhân bàn. Nhân bàn, theo như đã nói ở trên về Cửu Tinh, lấy Trực Sử làm thủ lĩnh để bày. Nhân bàn là Trực Sử xoay theo cung của giờ. Chúng ta cần phải suy tiếp cung của giờ. Tìm cung của giờ dựa vào tuần thủ của giờ, xem nó cách tuần thủ bao nhiêu tổ can chi thì sẽ xác định được. Số cung cách giữa cung của giờ và tuần thủ = số thứ tự thiên can của giờ (trừ) số thứ tự thiên can của tuần thủ. Ví dụ: giờ Bính Dần, tuần Giáp Tý. Cung Thời Can cách tuần thủ mấy cung? Số thứ tự của Bính là 3 trừ số thứ tự của Giáp là 1 = 2, cách 2 cung. Lại vì Giáp Tý là Mậu, nghĩa là nó cách Địa bàn Mậu 2 cung. Căn cứ vào Dương độn, đếm thuận 2 cung; Âm độn, đếm nghịch 2 cung. Ví dụ Mậu ở cung 8, là Dương độn, cách 2 cung, Dương độn đếm từ nhỏ đến lớn 2 cung, tức là đến cung 1, vậy là đã tìm ra vị trí cung của giờ. Sau đó xoay Trực Sử đến cùng cung với cung giờ, rồi theo chiều thuận kim đồng hồ xoay bàn, lần lượt vào cung, thì việc diễn cục Nhân bàn kết thúc.
6. Diễn cục Thần bàn. Về diễn cục Thần bàn. Thực ra theo truyền thống cổ xưa của Thời gia chuyển bàn Kỳ Môn, bàn này gọi là "Bát Trá bàn", có hai mặt, có thể lật. Một mặt dùng khi Dương độn, một mặt dùng khi Âm độn. Kỳ Môn Độn Giáp hiện nay đã biến đổi Thần bàn, chỉ còn một mặt. Thực ra tôi cho rằng sự biến đổi này không nhiều, chỉ cần dùng một mặt gộp lại là được. Truyền thống chẳng qua là khi Âm độn thì: dùng Câu Trần thay Bạch Hổ, dùng Chu Tước thay Huyền Vũ. Ý nghĩa lấy tượng của chúng cũng tương tự, không cần tranh cãi nữa. Diễn cục Thần bàn: Tiểu Trực Phù xoay theo Đại Trực Phù. Dương độn xoay thuận, Âm độn xoay nghịch. Cũng theo chuyển bàn, khi Tiểu Trực Phù cùng cung với Đại Trực Phù, các thần khác lần lượt xoay vào cung. Diễn cục Thần bàn cũng hoàn tất.
7. Bày Ám Can. Sau khi đã bày xong cả 4 bàn Thiên, Địa, Nhân, Thần, chúng ta bày Ám Can. Ám Can là những Kỳ Nghi ẩn giấu, bên trong ẩn chứa nhiều huyền cơ không thể lộ ra. Thực ra chúng ta đã khởi xong một quẻ Kỳ Môn thông thường, nhưng tôi vẫn bày thêm Ám Can, bên trong có một số thông tin. Ám Can nhảy theo cung của Trực Sử, cách bày tương tự như cách bày Kỳ Nghi Địa bàn. Dương độn nhảy theo thứ tự cửu cung từ cung nhỏ đến cung lớn, Âm độn ngược lại. Thứ tự Kỳ Nghi giống như khi bày Địa bàn: Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, Đinh, Bính, Ất.
8. Bày Ẩn Can của Nhân bàn. Thứ này cũng phản ánh cho chúng ta một số thông tin, chúng ta có thể không cần viết lên quẻ Kỳ Môn. Tự mình tính nhẩm là được. Ví dụ, Khai Môn ở cung 2, Kỳ Nghi Địa bàn của cung 6 là Ất, thì cung vị ban đầu của Khai Môn là cung 6, do đó Ẩn Can của Khai Môn là Ất, những cái khác cũng suy ra tương tự.
9. Tìm Tuần Không (hư không). Về Tuần Không, tôi cho rằng chỉ cần lấy Tuần Không của giờ làm chính. Cổ pháp cũng theo cách này, lấy Tuần Không của ngày làm phụ trợ. Bởi vì Thời gia Kỳ Môn chú trọng lấy giờ để định cục, lấy Trực Phù và Trực Sử làm thủ lĩnh diễn cục, nên giờ là chính. Lại vì phải căn cứ vào ngày để tìm tiết khí, định cục tự nhiên, nên ngày không thể bỏ qua, có thể dùng làm phụ trợ. Tuần Không có nghĩa là: thời cơ chưa đến, không có lực, ví như tướng quân chưa ra lệnh, lính tự ý hành động. Biểu thị hình tượng bất lực, thường dùng để phán đoán trạng thái của sự việc và thời gian ứng kỳ. Cổ pháp dân gian gọi là "cung hư". Cung Tuần Không còn gọi là "cung hư". Cung đối diện với nó là "cung cô", bên trong ắt có huyền cơ.
10. Xác định cung vị của Mã Tinh. Chủ yếu dựa vào "Địa chi tam hợp": (Dần, Ngọ, Tuất) giờ ở cung Thân; (Tỵ, Dậu, Sửu) giờ ở cung Hợi; (Thân, Tý, Thìn) giờ ở cung Dần; (Hợi, Mão, Mùi) giờ ở cung Tỵ. Mã Tinh chủ yếu biểu thị: sự vận động, trạng thái, phán đoán trạng thái ứng kỳ.
11. Bày Thời Can Phi Cung. Thời Can đặt vào Trung cung, Âm Dương độn bay thuận nghịch. Dùng để phán đoán thời gian ứng kỳ và trạng thái phụ trợ.
12. Ký sinh Trung cung. Trung cung không có Bát Môn, Bát Thần. Cách ký sinh có sự khác biệt. Âm độn ký sinh vào cung 8 (Cấn), Dương độn ký sinh vào cung 2 (Khôn). Quẻ Khôn tượng trưng cho đại địa. Ký sinh cần linh hoạt.
13. Khởi Quý Thần, định Địa Tư Môn. Nói đến khởi Quý Thần, chúng ta sẽ nghĩ đến Đại Lục Nhâm. Thực ra Kỳ Môn Độn Giáp và Đại Lục Nhâm đối lập nhau. Điểm khác nhau trong cách khởi Quý Thần giữa Kỳ Môn và Lục Nhâm là sự thuận nghịch của giờ khác nhau. Địa chi trong Kỳ Môn: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Hợi là Dương Quý Nhân; địa chi Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất là Âm Quý Nhân. Đem Thời Can đặt lên Nguyệt Tướng, còn phương pháp lấy Quý Thần thì giống Lục Nhâm. Lục Hợp, Thái Âm, Thái Thường rơi vào cung nào là phương tốt của Địa Tư Môn. Thực ra muốn có thành tựu trong Lục Nhâm hay Kỳ Môn, hai thứ này là đối lập nhau.
14. Bày 12 Thần Tướng. Điều này giống với Lục Nhâm. Có câu: "Kỳ Môn không Lục Nhâm thì không linh, Lục Nhâm không Độn Giáp thì không nghiệm". 12 Thần Tướng đại diện cho một số trạng thái của sự việc. Kỳ Môn thịnh hành trong xã hội hiện nay ít dùng, nhưng trong dân gian, đó là thứ không thể thiếu khi đoán việc. Địa bàn và Thiên bàn phải phối hợp với Thần Tướng để đoán mới linh. Ý nghĩa cụ thể của Thần Tướng như sau:
| Tên Thần Tướng | Số | Công năng | Cát Hung | Ý tượng |
|---|---|---|---|---|
| Tý Thần Hậu | 1 | Quý Thần | Cát | Quý nhân, quan viên, tiền tài |
| Sửu Đại Cát | 2 | Thiên Nạn | Hung | Bệnh tật, trở ngại, phá tài, thất kiện |
| Dần Công Tào | 3 | Quyền hoành | Cát | Uy quyền, quyền lực, quân đội, công kiểm pháp |
| Mão Thái Xung | 4 | Phá hoại | Hung | Phá tài, tiêu pha, rộng rãi |
| Thìn Thiên Cương | 5 | Gian tư | Bán Hung | Ích kỷ, gian trá, âm mưu, mờ ám |
| Tỵ Thái Ất | 6 | Văn Khúc | Cát | Thông minh ham học, văn thư ấn tín, bốn trụ phạm nặng thì ham học mà vô thành |
| Ngọ Thắng Quang | 7 | Thiên Phúc | Cát | Quan phương, văn ước, thư tín, phụ nữ, tiệc rượu, bốn trụ có đây là người có phúc, gặp tam hợp có hỷ sự hôn nhân |
| Mùi Tiểu Cát | 8 | Dịch Mã | Thứ Cát | Biến động, xuất hành, phụ nữ, rời nhà |
| Thân Truyền Tống | 9 | Lao Cô | Bán Hung | Bận rộn, lao khổ, cô đơn, bốn trụ có đây thuộc ngành dịch vụ |
| Dậu Tòng Khuê | 10 | Tính táo | Hung | Sinh khí, khẩu thiệt kiện cáo, nắm thực quyền |
| Tuất Hà Khuê | 11 | Kỹ xảo | Cát | Kỹ thuật, nghệ thuật, khéo tay, cơ khí kim loại |
| Hợi Đăng Minh | 12 | Trường thọ | Thứ Cát | Dây dưa, chậm chạp, khó khăn, cứng đầu, không dứt khoát |
15. Dân gian định "Tam truyền" trong Kỳ Môn Độn Giáp. Trong Lục Nhâm có Tam Truyền đại diện cho hiện tại, quá khứ và tương lai. Kỳ Môn Độn Giáp cũng không ngoại lệ, có: Sơ truyền, Trung truyền, Mạt truyền. Sơ truyền là Địa bàn Trực Phù, Trung truyền là Thiên bàn Trực Phù, Mạt truyền là Trực Sử.
16. Nguyệt Tướng không thể coi thường, phương vị không thể coi thường. Thiên địa hoạt bàn phải dùng linh hoạt. Lục Nhâm và Kỳ Môn là một thể, không phải là "Độn Giáp xuyên Nhâm" gì cả. Về lý thuyết, các cụ già nói là một thể.
Về việc Kỳ Môn Độn Giáp khác với các môn huyền học khác, bởi vì Kỳ Môn Độn Giáp chú trọng chủ khách. Tôi không tán thành việc sử dụng Kỳ Môn Độn Giáp như một nghề dự đoán để dự đoán việc này việc kia, làm như vậy bạn chắc chắn sẽ bị tổn thương. Bởi vì Kỳ Môn là một "môn huyền học về chủ khách". Bạn ngày nào cũng giúp người này làm chiến lược, người đó được nhờ, nhưng khi bạn giúp anh ta, bạn lại làm tổn thương người khác. Khi làm chiến lược cho anh ta, bạn tương đương với một "chủ hoặc khách", rốt cuộc sẽ làm hại chính mình. Bởi vậy, dân gian luôn coi đây là thuật không truyền.
