THIÊN NHUẾ TINH
THIÊN NHUẾ TINH
Tên đầy đủ của Thiên Nhuế Tinh là Dương Tông Phu Khánh Thiên Lưỡng Động Minh Tả Phụ Tinh, gọi tắt là Tả Phụ Tinh, tự Tử Thành.
Đặc điểm của Thiên Nhuế Tinh: sao này ứng với cung Khôn (Khôn nhị cung) ở phía Tây Nam, là Âm tinh, hành Thổ. Do Thiên Nhuế Tinh tương ứng với Tử môn (cửa Tử) trong Bát môn, vì vậy người ta cho rằng sự xuất hiện của nó có liên quan đến sự lưu hành của bệnh tật, cho nên gọi nó là Bệnh tinh, Hung tinh. Nếu Thiên Nhuế Tinh lâm cung, thích hợp cho việc thụ nghiệp sư trưởng, kết giao bằng hữu, đóng quân cố thủ; không thích hợp dùng binh, cưới gả, kiện tụng, dời nhà, xây dựng, v.v. Và dễ gặp phải những việc kinh hoàng, ngay cả khi gặp Tam kỳ cũng khó hóa giải. Vì vậy, mọi việc đều nên tính đường lui trước.
Thiên Nhuế Tinh đại diện cho khá nhiều phương diện, chủ yếu có 4 khía cạnh:
Bệnh tật: suy rộng ra là vấn đề, khuyết điểm, và từ đó suy ra nhân viên y tế. Điều này chủ yếu bắt nguồn từ việc trong Kỳ Môn Độn Giáp khi xem xét bệnh tật, lấy Thiên Nhuế làm Bệnh tinh.
Học sinh, sinh viên.
Kết giao, kết nghĩa: hai điểm này chủ yếu từ sách cổ Kỳ Môn Độn Giáp nói Thiên Nhuế Tinh "nên kết giao bằng hữu, thụ nghiệp sư trưởng".
Nữ thần: điểm này chủ yếu từ tượng quẻ của cung Khôn (Khôn nhị cung) nơi Thiên Nhuế Tinh tọa thủ. Khôn là mẹ già, ba hào của quẻ Khôn đều là âm, là nơi âm cực thịnh, vì vậy là Nữ thần. Ví dụ như Vương Mẫu Nương Nương, Cửu Thiên Huyền Nữ, Thánh Mẫu Maria, Mẫu Tổ (Mazu) được thờ phụng phổ biến ở vùng Mân – Đài, cũng như Quán Thế Âm Bồ Tát thị hiện nữ tướng. Khi điều chỉnh phong thủy dương trạch, nếu cục Kỳ Môn cho thấy Thiên Nhuế Tinh khởi tác dụng tốt, có thể dựa theo tín ngưỡng của mình, cung phụng một trong số các vị Bồ Tát hoặc thần minh nêu trên tại phương vị tương ứng trong nhà.
Hơn nữa, Thiên Nhuế Tinh thực chất là Thiên Thoái Tinh (sao Thoái lui). Bên trong là tiểu nhân, bên ngoài là quân tử. Đạo tiểu nhân thịnh, đạo quân tử suy, nội bộ xuất hiện vấn đề, do đó không thích hợp để phát triển ra bên ngoài, đặc biệt không thích hợp cho việc xuất quân, mưu cầu kinh doanh. Vì bên trong đạo tiểu nhân thịnh, nên cần quay lại giải quyết các vấn đề nội bộ và nội tâm. Phương pháp giải quyết vấn đề nội bộ hiệu quả và bền vững nhất không gì bằng đạo đức và giáo hóa. Do đó, Thiên Nhuế Tinh “nên sùng thượng đạo đức, kết giao bằng hữu, thụ nghiệp sư trưởng”. Vì vậy, đối với cơ thể, Thiên Nhuế Tinh có thể đại diện cho những nơi không khỏe mạnh bên trong, do đó có thể đại diện cho bệnh tật nội tạng, cũng có thể đại diện cho nơi tà khí thịnh bên trong, nhưng không thể đại diện cho bệnh tật bên ngoài. Đối với doanh nghiệp, nó đại diện cho một doanh nghiệp có vấn đề nội bộ, cần tăng cường quản lý và giáo hóa nội bộ, lúc này không thích hợp để mở rộng ra bên ngoài.
TƯỢNG Ý
Ngũ hành: Thổ. Ở trên không trung phương Khôn.
Trạng thái bốn mùa: Mùa xuân: tù; mùa hạ: phế; mùa thu: vượng; mùa đông: hưu; tháng Tứ Duy: tướng.
Trạng thái Cửu cung: cung Chấn, Tốn: tù; cung Ly: phế; cung Càn, Đoài: vượng; cung Khảm: hưu; cung Khôn, Cấn: tướng.
Khái niệm: Âm tính, bà lão, bằng hữu, kết giao, hợp tác, bệnh tật, nan bệnh, suy yếu, khám thờ Phật, sai lầm, phiền phức, cổ xưa, tích tụ, bác đại, dục vọng, lòng dạ hẹp hòi, keo kiệt, đồng ruộng hoang dã, ngu muội, thuận theo, độc ác, hèn mọn, vô năng, chậm chạp, khởi đầu của vạn vật, kết thúc của vạn vật.
Việc nên – việc kiêng: Thiên Nhuế vi giáo sư, bằng hữu, cố nghi thụ đạo kết giao, thụ nghiệp sư trưởng, đồn binh cố thủ; bất nghi dụng binh giao chiến, cưới gả, di dời, kiện tụng, xây dựng. Dù có được Kỳ môn cũng khó cát. Thiên Nhuế vi Thổ tinh, mùa Thu Đông dụng cát, mùa Xuân Hạ dụng hung.
Hình thái: Mặt vuông có đốm, miệng rộng, bụng to.
Tính tình: Cố chấp, chậm chạp, nhu nhược.
Bộ phận cơ thể: Tỳ, vị, ruột, bụng, vai, rốn, cơ quan sinh dục nữ.
Động vật: Bò cái, ngựa cái, dê, cừu, gia súc.
Nhân vật: Bà lão, mẹ, bà chủ, người phụ nữ béo, người bụng to, quần chúng, mưu sĩ, cố vấn, trợ thủ, giáo viên, bác sĩ, học sinh, trẻ nhỏ, phụ nữ mang thai, phụ nữ sau sinh, nông dân.
Thực vật: Hoa màu, nông sản, khoai tây, khoai lang.
Địa lý: Thành quách, thôn làng, đồng hoang, bãi chăn nuôi, sân vận động, trường học, bệnh viện, học phủ, nhà thấp, kho hàng, góc phòng.
Đồ vật tĩnh: Thiết bị y tế, thuốc men, bông y tế, quần áo, bọt biển, ghế sofa, phương tiện vận tải, thi thể.
THIÊN NHUẾ TINH GẶP MƯỜI HAI THỜI THẦN
Giờ Tý: Mùa Thu Đông dụng cát, mùa Xuân Hạ dụng hung. Có thú dữ đánh nhau kinh hãi, phía Đông Bắc có lửa sáng, hai người đuổi nhau làm ứng nghiệm. Sau cảm ứng, chủ mèo chó điên dại cắn người, gây việc quan. Trong 60 ngày có nữ nhân tự tử. Mùa Thu Đông dụng thì được tài sản của người âm Vũ phát vượng và việc tang của phụ nữ là tốt.
Giờ Sửu: Có tiếng trống từ phía Đông Nam đến. Trong 7 ngày chủ rùa ba ba từ trong rừng đến nhà, trong 60 ngày chủ bị trộm cướp, kiện tụng, phá tài, hung.
Giờ Dần: Chủ người phụ nữ gầy mang thai đến. Mùa Hạ Thu chủ người mặc áo tơi đến, mùa Xuân chủ người mặc áo da đến làm ứng nghiệm. Sau cảm ứng, nếu được Kỳ môn vượng tướng, trong 60 ngày trâu vào nhà, được tài huyết, tài quan lộc đến, con cháu xương thịnh, đại phát.
Giờ Mão: Chủ nữ nhân mặc áo màu đưa đồ, và quý nhân cưỡi ngựa đến, hai chó cắn nhau, trâu kêu làm ứng nghiệm. Sau cảm ứng, trong 60 ngày nhận được tài sản của người phương Tây, chó làm hại trẻ nhỏ, được tài sản (liên quan sinh nở?), trong ba năm phụ nữ khó sinh, hung.
Giờ Thìn: Có cây đổ ở phía Tây Nam làm bị thương người, tiếng nhạc khúc, nữ nhân mặc áo đỏ đến làm ứng nghiệm. Quạ quanh nhà bay kêu, vì trộm cướp phá tài. Sau cảm ứng, 60 ngày có người bị bệnh chân đến nhà chây ì, sau khi kết hôn sinh quý tử, phát vượng.
Giờ Tỵ: Có phụ nữ và trẻ con gái cùng đến làm ứng nghiệm. Sau cảm ứng, 40 ngày nhận được điền khế của người tuyệt hộ, trong một năm nhờ nước lớn mà phát gia.
Giờ Ngọ: Có người môi sứt mặc áo trắng đến, phụ nữ mang thai đi qua làm ứng nghiệm. Sau cảm ứng, 60 ngày mèo cắn người, nhờ giao dịch mà đại phát gia, nhận được tài sản của người hàng xóm phía Đông, đại phát.
Giờ Mùi: Có người đi săn đến, tăng ni mặc áo trắng mang trà đi qua làm ứng nghiệm. Sau cảm ứng, 7 ngày có quạ quanh nhà cây kêu râm ran, trong một năm phát sinh ôn dịch, lửa cháy nhà cửa, tan bại.
Giờ Thân: Chủ phía Tây có người cầm lọng che đi qua, tăng ni, người có râu đến làm ứng nghiệm. Chủ trâu ngựa làm bị thương người, chó cắn người. Sau cảm ứng, trong 100 ngày nhận được tài sản của người âm Vũ, trong một năm trâu nước vào nhà, chim hoang vào nhà, gia chủ mắc bệnh.
Giờ Dậu: Chủ phía Tây có ngựa đi qua, bầy chim kêu bay làm ứng nghiệm. Sau cảm ứng, trong 100 ngày tăng ni làm môi giới, nhận được tài sản của người âm Thương, sinh quý tử, phát vượng.
Giờ Tuất: Có ông lão chống gậy đến, phía Tây mưa sấm, người có râu gánh đồ đến làm ứng nghiệm. Sau đó có chó trắng tự đến, 60 ngày nhặt được binh khí, được tài lộc bất ngờ, đại phát.
Giờ Hợi: Có trẻ con kéo đến thành đàn, phụ nữ mặc đồ tang đến làm ứng nghiệm. Sau đó 60 ngày nhờ trộm cướp mà được tiền, sau ba năm nhờ nước phù phép, thuốc men mà phát gia.
