TIẾT KHÍ LÀ NỀN TẢNG CỦA QUỐC HỌC

TIẾT KHÍ LÀ NỀN TẢNG CỦA QUỐC HỌC
KỲ MÔN ĐỘN GIÁP MINH PHÁP PHI BÀN

"Âm dương nhị độn phân thuận nghịch, nhất khí tam nguyên nhân mạc trắc.
Ngũ nhật đô lai hoán nhất nguyên, siêu thần tiếp khí vi chuẩn đích."

(Âm dương hai độn phân chia thuận nghịch, một khí ba nguyên người khó dò.
Năm ngày đều đổi một nguyên, Siêu thần Tiếp khí là chuẩn đích.)

Tiếp theo chúng ta bắt đầu giảng giải câu: "Âm dương nhị độn phân thuận nghịch, nhất khí tam nguyên nhân mạc trắc." Chữ "Khí" trong "nhất khí" ẩn chứa huyền cơ. Ngày xưa, khi đi theo sư phụ, không có tài liệu nào khác, chỉ để hiểu cho được chữ "Khí" mà ngày ngày phải làm công quét dọn cho sư phụ, rất là cực khổ. Bây giờ các bạn thấy tôi nói một cách dễ dàng, mang nó ra chia sẻ với mọi người, nhưng đối với các bạn, cần phải coi trọng nó.

"Khí" chính là ý nghĩa của Tiết khí. Ranh giới trong tiết khí chính là Hạ chí và Đông chí. Người xưa của chúng ta quy định, từ Hạ chí đến Đông chí là Âm, từ Đông chí đến Hạ chí là Dương. Như vậy, Âm Dương trong một năm đã được phân định ra. Thực ra, trong một ngày cũng có "Âm Dương", ví dụ từ giờ Tý đến giờ Tỵ là Dương, từ giờ Ngọ đến giờ Hợi là Âm. Bạn xem Hoàng Đế Nội Kinh viết: "Pháp vu âm dương, hợp vu thuật số" chính là nói về Đông chí, Hạ chí, và hai giờ Tý, Ngọ này. Chữ "Pháp" này có nghĩa là "bắt chước, làm theo", ý nói quy luật sinh hoạt của con người phải bắt chước sự vận hành của trời đất tự nhiên. Chúng ta có tuổi thanh niên, tráng niên, trung niên, lão niên, bản thân sinh mệnh này vốn đã thống nhất với trời đất tự nhiên. Từ sáng sớm đến ban đêm, đó là điều cố định, không ai có thể thay đổi được. Lão Tử nói "Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên" chính là đạo lý này. Ngày nay chúng ta nói về "tự nhiên" đã bị các từ ngữ được dịch thuật từ văn hóa phương Tây làm sai lệch đi. "Tự nhiên" bây giờ là danh từ do người Nhật dịch cho "Natural Science" (Khoa học tự nhiên). Đến nỗi khi nhắc đến "tự nhiên", người ta liền nghĩ đến cảnh đẹp nơi này, không khí trong lành nơi kia, v.v... và vì thế "tự nhiên" đại diện cho một thực thể không gian.

Tiết khí là nền tảng của Quốc Học - Kỳ Môn Độn Giáp Minh Pháp Phi Bàn

Còn "tự nhiên" mà Lão Tử nói là một quy luật, là một thứ vô hình, là tổng hòa bao hàm sự đối lập nhị nguyên Âm Dương. Tất cả mọi cách vận hành đều xuất phát từ tự nhiên và quay trở về tự nhiên. Vì vậy nói về đạo lý "Âm Dương", dù có nói cả năm cũng không hết, quả thực rất "huyền diệu". Giới trẻ ngày nay không thích văn hóa truyền thống Trung Quốc, bởi vì xã hội đang nóng vội, trong khi bản thân Quốc Học rất uyên thâm, hai thuộc tính này về bản chất vốn là một cặp mâu thuẫn. Tiết khí là tinh hoa của Quốc Học, tính thực tiễn rất cao. Hồi tôi còn ở trong quân đội, mỗi đơn vị đều có vườn rau, thời điểm nào gieo trồng, thời điểm nào thu hoạch đều phải tuân theo tiết khí, không lệch ngày nào. Nếu bạn dùng lịch Tây Dương (dương lịch phương Tây), thì sẽ thê thảm lắm, chẳng có thứ gì mọc nổi cả.

Vừa nãy chúng tôi đã nói, từ Hạ chí đến Đông chí là Âm, từ Đông chí đến Hạ chí là Dương. Theo trình tự Âm Dương này, khi là Dương, khí sẽ vận hành thuận; khi là Âm, khí sẽ vận hành nghịch. Trong Đông y có một phái gọi là "Phù Dương phái" (phái Bổ Dương), cốt lõi của phái này là phù trợ "Dương" bên trong cơ thể con người, tức là để nó vận hành thuận chứ không thể vận hành nghịch, thông qua y thuật, làm cho khí được lưu thông thuận lợi, không bị trệ ngược. Đây chính là bí mật cao nhất của Phù Dương phái. Bởi vì rất nhiều thầy thuốc Đông y cho rằng bổ dương là phù trợ dương khí trong cơ thể. Điều đó là sai lầm. Hôm nay ở đây có vài vị là đại y sư, các bạn có thể về nhà thử nghiệm, nghiên cứu sách vở của mình theo cách tôi nói, nhất định sẽ sáng tỏ ngay.

Tiết khí có tất cả 24 cái. Ở trên chúng tôi đã nói, một năm có 12 tháng, một tháng có 30 ngày, 5 ngày gọi là "Nhất hầu" (một hầu), 3 hầu gọi là "Nhất khí" (một khí), 6 hầu gọi là "Nhất tiết" (một tiết). "Hầu" ở đây chính là Nguyên. Một năm có 72 hầu, mỗi tháng có một tiết, một khí, một năm có 12 tiết, 12 khí, tổng cộng có 24 tiết khí. Đây là cách phân chia thời gian của người xưa. Người nay nói về âm lịch, dương lịch, cho rằng dương lịch chính là Tây lịch. Điều này không đúng. Ở trong nước (Trung Quốc), dương lịch thực chất là thời gian tính theo sự di chuyển của Mặt Trời qua các cung, còn âm lịch là thời gian Mặt Trăng đi qua các độ. Đây là sự phân chia Âm Dương. Bạn xem Hoàng Đế Nội Kinh viết: "Nữ tử thất tuế thận khí thịnh, xỉ canh phát trường. Nhị thất nhi thiên quý chí, nhậm mạch thông, thái xung mạch thịnh, nguyệt sự dĩ thời hạ, cố hữu tử." Chữ "Thiên Quý" ở đây, nói về kinh nguyệt của con gái. Đây là lấy thời gian của Mặt Trăng để phân chia độ. Việc tính Bát tự (Tứ trụ) của chúng ta lấy 24 tiết khí làm chuẩn. 24 tiết khí là thái dương lịch (lịch Mặt Trời), còn âm lịch lấy sự mọc lặn của Mặt Trăng cùng sự lên xuống của thủy triều làm chuẩn. Vì vậy, từ Quảng Đông đến bờ biển Đông Bắc, những người sống ở ven biển đều hiểu câu: "Dần Thân trướng, Mão Dậu bình" (Giờ Dần, Thân nước lên; giờ Mão, Dậu nước ròng). Chỉ một câu nói ấy thôi, lên triều xuống triều đều nằm trong đầu. Người xưa bảo chúng ta, mùng Một, ngày Rằm ra đi tàu thuyền, "Trời ơi! Tàu chạy mất chưa?" Xem giờ, vẫn chưa, vội vàng chạy ra vẫn kịp, nước triều chưa rút, có thể lên tàu được. Tri thức khoa học thường thức này đã trở thành thói quen dân gian rồi. Người sau không cần phải động não cũng có thể biết được. Vì vậy, 24 tiết khí là sự thống kê của Mặt Trăng trong hệ thống Thái Dương của vũ trụ.