BÀI GIẢNG RIÊNG VỀ "YÊN BA ĐIẨU TẨU CA" (KỲ MÔN ĐỘN GIÁP) – PHẦN 1

BÀI GIẢNG RIÊNG VỀ "YÊN BA ĐIẨU TẨU CA" (KỲ MÔN ĐỘN GIÁP) – PHẦN 1

ÂM DƯƠNG THUẬN NGHỊCH, DIỆU KHÔN CÙNG

 

Bài giảng thứ nhất: Một bức tranh đẹp

Vốn dĩ, cái gọi là Dịch học chẳng có gì đáng để giảng giải. Toàn bộ nằm ở trí tuệ, học thức và thực hành của người học. Hôm nay viết bài này, chẳng qua rảnh rỗi sinh nông nổi, tạm thời nói ra, tạm thời nghe đó, coi như chuyện tiêu khiển giải trí là đủ!

Trước hết hãy nói về cái tựa đề này. Người xưa sau khi hoàn thành một bài văn, một tác phẩm, điểm nhãn hứng của toàn bộ đều đặt vào tựa đề. Dĩ nhiên, có tác phẩm tựa đề khoa trương cũng chẳng qua để câu khách. Trong tựa đề "Yên Ba Điếu Tẩu Ca" của chúng ta, chữ Yên và chữ Ba thực chất ẩn chứa Thủy và Hỏa, tức là hai quẻ Khảm và Ly. Cách tạo chữ của người xưa phần lớn hàm chứa hình ý: chữ Yên (煙) gồm bộ Hỏa (火) và bộ Nhân (因) – khói lửa là do lửa mà có. Khói bốc lên trên, cũng là hành của Hỏa. Chữ Ba (波) gồm bộ Thủy (水) và bộ Bì (皮) – cái "da" của nước, chính là làn sóng nước. Hai chữ Yên Ba, ẩn chứa dụng ý của quẻ Khảm và Ly.

Nói đến hai quẻ Khảm Ly, trước hết cần đề cập sơ qua về Tiên Thiên Bát Quái và Hậu Thiên Bát Quái. Tiên Thiên Bát Quái là thể, sự kết hợp của tám quẻ giống như thể chế trong một tập thể, trong đó hai quẻ Càn Khôn là cốt lõi. Hậu Thiên Bát Quái là dụng, sự kết hợp của tám quẻ giống như cơ chế trong một đội ngũ, trong đó hai quẻ Khảm Ly là cốt lõi. Cái diệu dụng của hai quẻ Khảm Ly, nếu viết một chuyên luận riêng sẽ rất dài, ở đây không bàn chi tiết. Sự sống, hiện tượng, khí hậu, quy luật... trên thế giới này, mối quan hệ của chúng đều liên quan đến nội hàm của hai quẻ Khảm Ly. Xét về mặt trời, hai quẻ này đại diện cho Mặt Trời và Mặt Trăng. Vận động của Mặt Trời và Mặt Trăng ảnh hưởng trực tiếp đến mọi sinh vật trên thế giới này. Xét về mặt đất, hai quẻ Khảm Ly đại diện cho sự phóng thích và hấp thu năng lượng của Trái Đất. Quẻ Ly nói lên Trái Đất phóng thích hết nhiệt năng ra ngoài, bên trong đều là âm. Thời kỳ này cũng chính là mùa Hè, khi ấy khí hậu nóng, ngược lại dưới lòng đất lại tương đối mát. Quẻ Khảm nói lên Trái Đất thu hút và tích trữ toàn bộ nhiệt năng vào bên trong, bên ngoài thì lạnh lẽo. Thời kỳ này cũng chính là mùa Đông, khi ấy khí hậu bên ngoài lạnh giá, ngược lại dưới lòng đất lại tương đối ấm áp. Xét về mặt con người, Khảm Ly đại diện cho tim và thận. Thận là nguồn gốc sinh lực của con người, tim là căn bản phát huy công năng sống của con người. Về hai quẻ này, trong ứng dụng Kỳ Môn càng diệu dụng vô cùng, trong nội dung sau, chúng ta sẽ bàn lại về chúng.

Hai chữ "Điếu Tẩu" (ông già câu cá) tương đối dễ hiểu. Nói thông tục thì chỉ là một ông lão câu cá, như ông Khương Tử Nha ngồi câu bên sông. Năm chữ "Yên Ba Điếu Tẩu Ca" nhìn lên giống như một bức tranh đẹp, càng là một cảnh giới thảnh thơi tự tại của nhân sinh. Mấy chữ này rõ ràng là vẽ nên một bức tranh: một ông lão đang câu cá bên hồ, mặt nước lấp loáng, xa xa khói bếp bay lượn, thỉnh thoảng lại có tiếng ca vọng lại. Nếu phải cảm hoài về ý cảnh của tựa đề này, đối với tôi, đó là khi con người bước vào tuổi già, cảm thán nhân sinh như khói như sóng, có hình như vô tướng, biến hóa theo cùng với thủy chung, lại như một bài ca, giai điệu trầm bổng, tinh hoa ở ngay tại khoảnh khắc hiện tại. Tựa đề xin dừng ở đây, tiếp theo xem câu đầu tiên của "bài ca" này.

Âm dương thuận nghịch diệu nan cùng
Nhị chí hoàn hương nhất cửu cung

Người xưa thể hiện nhiều tác phẩm dưới hình thức "ca", người có tâm nên thể sát sự khổ tâm trong lập ý của người xưa. Với sự thể nghiệm và cảm ngộ của cá nhân tôi về Dịch học và nhân sinh trong nhiều năm qua, việc học tập, ứng dụng Dịch học cũng giống như lập thân xử thế ở đời. Lấy thái độ "ca" mà đối đãi, đó là một cảnh giới khá cao. Khi con người hát ca, họ chân thành nhưng không chấp trước, dấn thân nhưng không mê muội. Bài ca có thanh có vận, rót vào những ca từ nhàm chán một linh hồn phong phú. Ngoài ra, thông qua cảm ngộ và nghiên cứu về âm thanh, cá nhân tôi phát hiện rằng, âm thanh thực ra là tầng hiển hiện thứ ba ngoài hai tầng thể và tượng của vật chất. Nói cách khác, bất kỳ vật chất nào cũng có âm thanh. Âm thanh và tượng là hai mặt hiển hiện từ thể của vật chất. Ví dụ, chúng ta nhận biết một miếng ngọc, có thể từ màu sắc mà nhận ra chất lượng, nhưng cũng có thể từ âm thanh va chạm của miếng ngọc mà phân biệt được chất lượng. Người xưa nói: "Bậc thượng sĩ nghe tiếng, bậc trung sĩ xem khí, bậc hạ sĩ xem tướng". Xem tướng âm thanh và xem tướng hình mạo của một người đều là điều kiện để quan sát bản tính bên trong của người đó.

Bài giảng riêng về "Yên Ba Điếu Tẩu Ca" (Phần 1)

Chúng ta xem câu đầu tiên: "Âm dương thuận nghịch diệu nan cùng" (Âm Dương thuận nghịch, diệu khôn cùng). Ở đây, Âm và Dương là thể, Thuận và Nghịch là dụng. Thể Âm Dương và dụng Thuận Nghịch tương tác với nhau tạo thành Tứ Tượng. Các bạn học Kỳ Môn đều biết Kỳ Môn có hai bàn: một là Thiên Bàn, một là Địa Bàn. Về mặt thể, Thiên Bàn và Địa Bàn là mối quan hệ Âm Dương. Về mặt dụng động, chúng là mối quan hệ Thuận Nghịch. Thực ra Kỳ Môn có ba bàn. Để giải thích vấn đề này, cần phải nhắc lại hai quẻ Khảm Ly, tức là Mặt Trời và Mặt Trăng. Như chúng ta đều biết, khi nhìn từ Trái Đất, Mặt Trăng quay ngược chiều với Trái Đất, chu kỳ một tháng, mỗi giai đoạn 5 ngày. 5 ngày cũng chính là một Nguyên để bày Địa Bàn trong Kỳ Môn. Địa Bàn cứ 5 ngày lại biến hóa một lần. Vì vậy Địa Bàn vận hành theo Mặt Trăng. Còn khi nhìn từ Trái Đất, Mặt Trời quay xuôi theo chiều quanh Trái Đất (nói về hiện tượng có thể thấy được lấy Trái Đất làm trung tâm), chu kỳ một ngày, mỗi một canh giờ là một giai đoạn. Vì vậy Thiên Bàn mỗi một canh giờ lại biến hóa một lần. Cả Mặt Trăng và Mặt Trời đều vận động, nhưng vận động này được quan sát lấy Trái Đất làm trung tâm, cho nên còn có một bàn nữa biểu thị cho chính bản thân Trái Đất. Bàn này chính là bản đồ 9 cung, 8 phương vị trên Trái Đất là tương đối vĩnh viễn không thay đổi. Vì vậy, ba bàn trong Kỳ Môn chính là sự mô phỏng quy luật của Mặt Trăng, Trái Đất và Mặt Trời.

Trong ứng dụng thực tế của Kỳ Môn, người ta sử dụng việc sắp xếp bàn cục để hiểu mối quan hệ vận động giữa ba hành tinh này, từ đó lựa chọn thời gian và phương vị, mượn lực lượng quy luật vận động của các vì sao để cát tị hung. Đôi khi còn có thể lợi dụng nó để dự đoán. Xin đưa ra một ví dụ thực tế: Đúng vào lúc tôi đang viết bài giảng này, có người muốn dự đoán tài vận. Lấy thời điểm đó lập bàn như sau:

Người hỏi việc lấy Nhật Can Ất (乙) để đại diện. Ất có hai vị trí là Thiên Bàn và Địa Bàn. Vì hỏi về tài vận gần đây, động tượng tương đối rõ rệt, nên dùng Thiên Bàn Ất để xem tình hình tài vận hiện tại của anh ta.

Thiên Bàn Ất ở cung 3 được lộc vị, người này không phải hạng tầm thường. Lâm trước môn Đỗ Môn là ẩn mà không phát. Vì hỏi tài lộc, Mộc khắc giả vi tài, trước hết lấy Mậu (戊). Mậu có hai vị trí Thiên bàn và Địa bàn. Thiên bàn là Dương, dương tính hiển. Thiên bàn Mậu đại diện cho nguồn tài hiện tại. Nay Thiên bàn Mậu ở cung 7 lâm Không vong, xung khắc Thiên bàn Nhật can, hiện tại không có nguồn tài nào vào (Mậu lâm Khai Môn, công ty không có lợi nhuận kinh doanh). Địa bàn là Âm, âm tính tàng. Địa bàn Mậu đại diện cho tiền tích trữ. Ở cung 1, Địa bàn Mậu sinh Thiên bàn Ất, mắt thấy vẫn còn tiền tích trữ. Mậu ở cung 1 là thai địa, không vượng, nhưng lâm tháng Tý (tháng con) lệnh tháng hiện tại vượng, tiền tích trữ hợp số 1, 6. Nhưng Địa bàn Mậu ở cung 1 bị Thiên bàn Canh (庚) ở cung 1 thoát tiết. Canh là Nguyệt can (Nguyệt can đại diện cho bạn bè, người thân), rất nhiều tiền tích trữ bị bạn bè và người thân mượn. Thiên bàn Kỷ (己) là thiên tài ở cung 4 tỷ hòa với Nhật can. Lâm Cảnh Môn (Cảnh Môn là sự hoạch định), nhờ phương diện hoạch định mà có thiên tài. Nhưng cung 4 Địa bàn không (Thìn Tỵ tuần không), lúc có lúc không. Các tháng Thìn, Ngọ, Dậu, Hợi có thiên tài.

Qua phản hồi được biết, hoàn toàn phù hợp với tình trạng hiện tại của người cầu đoán.

Thời gian công lịch: 9 giờ ngày 1 tháng 1 năm 2007
Thời gian âm lịch: Ngày 13 tháng 11, giờ Tân Tỵ, Thượng Nguyên Đông Chí
Tiết khí trong tháng: 1 tháng 1, 1 giờ 32 phút (đã qua Đông Chí, sắp đến Tiểu Hàn)
Ngày tháng can chi: Bính Tuất, Canh Tý, Ất Mùi, Tân Tỵ
Tuần không: Thìn Tỵ (Nhật), Thân Dậu (Thời)
Dương độn 1 cục, Trực Phù Thiên Nhuế lạc cung 4, Trực Sử Tử Môn lạc cung 9

┌─────────┬─────────┬─────────┐
│ Trực Phù │ Đằng Xà │ Thái Âm │
│Nhâm Cảnh Môn Kỷ│ Tử Môn Đinh │ Kinh Môn Quý│
│ Cầm Thiên Nhuế Tân│ Thiên Trụ Ất │ Thiên Tâm Kỷ │
├─────────┼─────────┼─────────┤
│ Cửu Thiên │ │ Lục Hợp │
│ Đỗ Môn Ất │ │ Khai Môn Mậu│
│ Thiên Anh Canh│ Nhâm │ Thiên Bồng Đinh│
├─────────┼─────────┼─────────┤
│ Cửu Địa │ Huyền Vũ │ Bạch Hổ │
│ Thương Môn Tân│ Sinh Môn Canh│ Hưu Môn Bính│
│ Thiên Phụ Bính│ Thiên Xung Mậu│ Thiên Nhâm Quý│
└─────────┴─────────┴─────────┘

Ba chữ "Diệu nan cùng" (diệu khôn cùng) là nói về điều phía trước "Âm dương thuận nghịch". Chỉ riêng bốn chữ "Âm dương thuận nghịch" mà trong ứng dụng Kỳ Môn đã có thể biến hóa vô cùng. Tiết sau chúng ta sẽ giảng về "Chủ khách tứ dụng" của "Âm dương thuận nghịch" trong Kỳ Môn. Bài giảng này xin khép lại tại đây.