BÀN LUẬN VỀ THUYẾT THIÊN NHÂN CẢM ỨNG VÀ THUẬT SỐ

BÀN LUẬN VỀ THUYẾT THIÊN NHÂN CẢM ỨNG VÀ THUẬT SỐ

 

Tư tưởng "Thiên nhân cảm ứng" (Trời và người cảm ứng) đã manh nha từ thời Tiên Tần. Đến thời Tây Hán, Đổng Trọng Thư đã kết hợp học thuyết Âm Dương Ngũ Hành với cương thường luân lý Nho giáo, đồng thời tiếp thu những thành tựu khoa học về thiên văn quan trắc đương thời, từ đó phát triển học thuyết về mối quan hệ Trời – Người thành một hệ thống lý luận đồ sộ và có tổ chức: "Vũ trụ toàn hệ lý luận" (thuyết toàn ảnh vũ trụ). Nhờ có lý lẽ trong Kinh Dịch: "Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu" (cùng âm hưởng thì ứng với nhau, cùng khí chất thì cầu nhau), mới xuất hiện câu nói: "Đồng Sơn tây băng, Linh Chung đông ứng" (Núi Đồng phía tây sụp đổ, chuông linh phía đông vang hưởng ứng).

Trong quá trình quan sát thiên tượng, người xưa đã đặt tên cho các vì sao và phân loại chúng. Khi đặt tên, có những tên phản ánh trực tiếp đời sống sản xuất, sinh hoạt của thời đại du mục, đồng thời liên quan đến chữ tượng hình cổ, như sao Ngưu Lang (Chức Nữ), sao Cơ (cái chõ), sao Đẩu (vật đựng rượu), sao Khuê (lợn rừng lớn), sao Lâu (nơi chăn nuôi), sao Tất (đồ săn có lưới), sao Trương (lưới bắt chim), sao Dực (cánh chim), sao Chẩn (đuôi chim)... Trong quá trình phát triển lịch sử, do xã hội phân chia đẳng cấp, tên các vì sao dần xuất hiện những tên gọi tượng trưng cho cơ cấu nhà nước, kiến trúc như Thái tử, Hậu phi (Câu Trần), Thiên lao, Hoa cái... Các bậc tiên triết đã gọi những vì sao có vị trí tương đối cố định trên bầu trời là hằng tinh (sao cố định), lấy đó làm tham chiếu để quan sát quy luật vận hành cơ bản của các thiên thể.

Người xưa cho rằng, hàng ngàn vì sao trên trời đều sắp xếp có trật tự và vận hành từ đông sang tây, chỉ có sao Bắc Cực là bất động, dường như các vì sao khác đều xoay quanh nó. Bộ lịch đầu tiên của Trung Quốc, Hạ Tiểu Chính, có ghi: "Cán sao Đẩu chỉ về đông, thiên hạ đều là mùa xuân; chỉ về nam, thiên hạ đều là mùa hè; chỉ về tây, thiên hạ đều là mùa thu; chỉ về bắc, thiên hạ đều là mùa đông". Bảy sao Bắc Đẩu với chức năng định thời bằng cách xoay cán sao đã được gán cho là xe của Ngọc Hoàng. Như Khổng Tử trong Luận Ngữ đã nói: "Làm chính trị bằng đức, ví như sao Bắc Thần, ở yên vị trí mà muôn sao hướng về". Lời của Khổng Tử có thể chứng minh cho thuyết "Sao Đẩu là xe của Ngọc Hoàng". Sử Ký - Thiên Quan Thư viết: "Sao Đẩu là xe của Ngọc Hoàng, vận hành ở trung tâm, giám sát bốn phương, phân định âm dương, thiết lập bốn mùa, điều hòa ngũ hành, thay đổi tiết độ, định ra các kỷ cương, tất cả đều gắn với sao Đẩu". Kinh Dịch - Thoán Truyện gọi rằng: "Quan sát thiên văn, để xét sự biến đổi của thời tiết".

Bàn luận về thuyết Thiên Nhân Cảm Ứng và thuật số chi học

Trong thuật số cổ đại, Kỳ Môn Độn Giáp chính là dựa vào sự vận hành của thiên thể, sự biến đổi của bốn mùa cũng như quy luật tự nhiên về sự thay đổi của thời gian và không gian, đem vạn vật trong vũ trụ đưa vào một phạm trù thời không đặc định, sử dụng các tham số nguyên thủy hiển thị trong hệ thống mô hình ký hiệu để suy diễn số lý, từ đó quyết đoán cát hung. Bí mật của nó nằm ở chỗ tổ hợp ba chiều: Thiên – Địa – Nhân (tam tài chi đạo, trong Kỳ Môn gọi là tam bàn) tạo thành một hệ thống vĩ mô, và thứ chi phối sự vận hành của hệ thống này chính là các ký hiệu mật mã vũ trụ mô phỏng vạn vật như Âm Dương, Ngũ Hành, Thiên Can, Địa Chi, Cửu Tinh, Bát Môn... Thông qua các thông tin liên quan hiển thị từ các ký hiệu mật mã này, có thể xem xét quá khứ và suy đoán tương lai. Đây là thế giới quan và phương pháp luận độc đáo của văn hóa Hoa Hạ.

Như Kinh Thị Dịch Truyện đã nói: "Sự sinh ra ý nghĩa cát hung, bắt đầu từ Ngũ Hành, kết thúc ở Bát Quái. Từ không vào có, thấy tai họa ở các vì sao. Nghĩa lý Âm Dương phân chia theo năm tháng. Năm tháng đã phân, cát hung định rõ. Cho nên nói Bát Quái thành tượng, tượng ở trong đó; sáu hào trên dưới, trời đất âm dương, vận chuyển tượng có không, phối hợp với việc người. Bát Quái ngửng lên nhìn, cúi xuống xét là ở con người; sự ẩn hiện của điềm lành, tai họa là ở trời; khảo xét thời tiết, quan sát việc người là ở quẻ."