CÁCH HỌC KỲ MÔN ĐỘN GIÁP  – ÂM DƯƠNG, VƯỢNG SUY, CÁT HUNG CỦA MƯỜI THIÊN CAN

CÁCH HỌC KỲ MÔN ĐỘN GIÁP  – ÂM DƯƠNG, VƯỢNG SUY, CÁT HUNG CỦA MƯỜI THIÊN CAN

 

1. Âm Dương của Mười Thiên Can

Trong Kỳ Môn Độn Giáp của chúng ta, mười thiên can được phân làm hai nửa: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu – năm can đầu là Ngũ Dương CanKỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý – năm can sau là Ngũ Âm Can.

  • Khi giờ gặp Ngũ Dương Can: Lợi cho khách, không lợi cho chủ. Làm việc nên hành động trước. Ngũ Dương là hỉ thần (thần vui mừng). Xuất quân chinh chiến, đi xa cầu tài, dời nhà xây cất, trăm việc đều có thể làm và được lợi. Người trốn chạy không thể bắt được. Người xưa nói: "Gặp Dương Can thì bay đi không dừng, lợi cho khách, nên hành động trước."

  • Khi giờ gặp Ngũ Âm Can: Lợi cho chủ, không lợi cho khách. Làm việc nên hành động sau. Ngũ Âm là ác thần (thần xấu). Cất quân chống địch, đợi địch động rồi mình mới động thì có thể quyết thắng. Không nên nhận chức, dời nhà, cưới hỏi, đi xa, làm trăm việc. Nên án binh bất động, bí mật mưu hoạch, ngồi chờ thu lợi. Người trốn chạy có thể bắt được. Người xưa nói: "Gặp Âm Can lợi cho chủ, phục tàng không dấy động thì có lợi."

2. Quan hệ Xung khắc và Hóa hợp giữa các Thiên Can

  • Xung khắc: Giáp – Canh xung, Ất – Tân xung, Nhâm – Bính xung, Quý – Đinh xung. Ngoại trừ Mậu, Kỷ là Thổ trung ương, thì giữa các hành có sự tương khắc. Dương khắc Dương, Âm khắc Âm gọi là "xung".

  • Lục hợp (hóa hợp):

    • Giáp hợp Kỷ hóa Thổ – gọi là Trung Chính chi hợp.

    • Ất hợp Canh hóa Kim – gọi là Nhân Nghĩa chi hợp.

    • Bính hợp Tân hóa Thủy – gọi là Quyền Uy chi hợp.

    • Đinh hợp Nhâm hóa Mộc – gọi là Dâm Đãng chi hợp.

    • Mậu hợp Quý hóa Hỏa – gọi là Vô Tình chi hợp.

3. Sinh Vượng Tử Tuyệt (Trạng thái vượng suy của mười Thiên Can)

Bảng sinh vượng tử tuyệt của mười thiên can giống với bảng dùng trong dự đoán Tứ Trụ. Cụ thể:

  • Giáp Mộc: Trường sinh tại Hợi, Đế vượng tại Mão, Tử tại Ngọ, Mộ tại Mùi, Tuyệt tại Thân.

  • Ất Mộc: Âm tử dương sinh, đi nghịch 12 cung. Trường sinh tại Ngọ, Đế vượng tại Dần, Tử tại Hợi, Mộ tại Tuất, Tuyệt tại Dậu.

  • Hỏa và Thổ tương đồng:

    • Bính Hỏa và Mậu Thổ: Trường sinh tại Dần, Đế vượng tại Ngọ, Tử tại Dậu, Mộ tại Tuất, Tuyệt tại Hợi.

    • Đinh Hỏa và Kỷ Thổ: Đi nghịch 12 cung. Trường sinh tại Dậu, Đế vượng tại Tỵ, Tử tại Dần, Mộ tại Sửu, Tuyệt tại Tý.

  • Kim:

    • Canh Kim: Trường sinh tại Tỵ, Đế vượng tại Dậu, Tử tại Tý, Mộ tại Sửu, Tuyệt tại Dần.

    • Tân Kim: Đi nghịch. Trường sinh tại Tý, Đế vượng tại Thân, Tử tại Tỵ, Mộ tại Thìn, Tuyệt tại Mão.

  • Thủy:

    • Nhâm Thủy: Trường sinh tại Thân, Đế vượng tại Tý, Tử tại Mão, Mộ tại Thìn, Tuyệt tại Tỵ.

    • Quý Thủy: Đi nghịch. Trường sinh tại Mão, Đế vượng tại Hợi, Tử tại Thân, Mộ tại Mùi, Tuyệt tại Ngọ.

Từ đó có thể thấy: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là bốn cái kho (Tứ khố), cũng là bốn cái mộ (Tứ mộ).

  • Thìn: vừa là mộ của Nhâm Thủy, vừa là mộ của Tân Kim.

  • Tuất: vừa là mộ của Bính Hỏa và Mậu Thổ, vừa là mộ của Ất Mộc.

  • Sửu: vừa là mộ của Canh Kim, vừa là mộ của Đinh Hỏa và Kỷ Thổ.

  • Mùi: vừa là mộ của Giáp Mộc, vừa là mộ của Quý Thủy.

4. Cát Hung và tính chất của mười Thiên Can

Người xưa cũng tổng kết cát hung của mười thiên can và đặt tên:

  • Giáp: là Thiên Phúc (Phúc lành của trời). Nên ban ơn, thi hành ân đức, tiến đức, thưởng quan.

  • Ất: là Thiên Đức (Đức của trời). Nên ban ơn, thưởng đức, vỗ về an ủi.

  • Bính: là Thiên Uy (Uy quyền của trời). Nên phát hiệu, ra lệnh để hiển thị uy hùng.

  • Đinh: là Thái Âm, còn gọi là Ngọc Nữ. Nên ở yên, không lo lắng, chớ giận dữ, trách phạt.

  • Mậu: là Thiên Vũ (Võ của trời). Nên phát hiệu ra lệnh, hành hình, giết chóc.

  • Kỷ: là Lục Hợp, lại gọi là Minh Đường. Nên làm sáng tỏ việc cũ, sửa sang đất đai, thành quách.

  • Canh: là Thiên Ngục (Ngục của trời), lại gọi là Thiên Hình. Nên quyết đoán hình ngục, giết kẻ gian ác.

  • Tân: là Thiên Đình (Đình của trời). Nên chính trị, trị tù, chớ làm việc tốt lành.

  • Nhâm: là Thiên Lao (Lao của trời). Nên xử kiện, quyết tù, việc tốt chớ làm.

  • Quý: là Thiên Tàng (Chốn cất giấu của trời), lại gọi là Thiên Võng. Nên dương uy, trách phạt, tích trữ, thu liễm.

5. Ca quyết xuất hành theo Thiên Can

Người xưa còn tổng kết ca quyết xuất hành theo giờ Thiên Can:

Lục Giáp xuất môn tối cát lợi,
Vàng ngọc, đường chỉ, gặp quý nhân.
Cưỡi theo Lục Ất ra cửa ấy,
Người hói, quan lại suốt đời yên.
Cưỡi ngựa, cầm cung, ngựa bắn tên,
Ấy là do thời cưỡi Lục Bính hành.
Quan châu, huyện lại ra mặt đó,
Chỉ vì lúc đi chính gặp Đinh.
Nếu gặp Mậu, Kỷ xuất hành đi,
Hai người đàn bà mặc áo xanh.
Canh, Tân, Nhâm giờ là ác nhất,
Đại hung, vô cát, có tai ương.
Lục Quý xuất môn gặp cưỡi bắn,
Nhiều gặp ẩn sĩ đất rừng xanh.

Tất nhiên, cát hung khi xuất hành không chỉ phụ thuộc vào thời gian, ca quyết của người xưa chỉ để tham khảo.