DỊCH ĐỈNH KHẮC GIA KỲ MÔN – TAM HỢP BÀN BÍ KÍP

DỊCH ĐỈNH KHẮC GIA KỲ MÔN – TAM HỢP BÀN BÍ KÍP

Bí kíp, còn gọi là bí tịch, mật kỹ. "Bí kíp" khác với các văn bản và đối tượng thông tin công khai khác, có tính không công khai và giá trị thực dụng nhất định. Là những phương pháp, quyết khiếu quan trọng trong Kỳ Môn Độn Giáp. Thời xưa, bí kíp thường tập trung trong tay các triều đình, gia tộc lớn, nhiều phần đã thất truyền. Trong xã hội ngày nay, từ "bí kíp" thường xuất hiện trong các tài liệu mang tính tiểu thuyết như võ hiệp, tu chân, một phần xuất hiện trong game và trong tay một số ít nghệ nhân, tính thần bí và không công khai của nó cũng đã giảm đi nhiều so với thời xưa. Trong Dịch học Trung Quốc và Kỳ Môn Độn Giáp, "bí kíp" rất ít khi thấy, chủ yếu là sao chép từ sách cổ sang sách khác, đánh cắp danh "bí kíp", có thể thấy khắp nơi trên mạng, đại đồng tiểu dị, còn "bí kíp" thực sự vẫn chưa xuất hiện.

Kẻ hèn này không dám nói ngoa, tự xưng là "bí kíp", nhưng thực tế hiện nay tôi chưa thấy hoặc chưa nghe nói có phương pháp nào hay hơn, tiện lợi hơn, phù hợp với quy luật vũ trụ hơn, gần gũi với đạo pháp tự nhiên hơn phương pháp này. Mọi người không tin thì hãy cùng tìm hiểu nội dung và tính thực dụng của nó, xem có khác biệt hay không, có giá trị đến mức nào. Ở đây xin tuyên bố, các phương pháp, kỹ xảo dưới đây sẽ được phân tích tương ứng, phần quan trọng vẫn giữ nguyên ý nghĩa "bí kíp", người hữu duyên tự ngộ.

Tam Hợp Bàn là sự kết hợp tinh hoa của ba hệ thống lớn: Thiên, Địa, Nhân; phát huy ưu thế mạnh mẽ của tổ hợp ba hệ thống Kỳ Môn, Lục Nhâm, Khắc Thần; cấu thành ba yếu tố lớn: dự đoán, điều lý, hóa giải làm một; góp thêm một viên min châu phương Đông cho văn hóa Dịch học; cung cấp nền tảng rộng lớn hơn cho sự phát triển khoa học; phục vụ cho sự xây dựng văn minh nhân loại, mãi tỏa sáng.

Bản "Bí kíp" này không dài, toàn là chân kinh, không bàn về tượng ý, không luận cát hung, chỉ có Hàng Long Thập Bát Chưởng (mười tám chương) và Huyền Nữ Tam Bộ Khúc. Không dùng chương, tiết, đoạn, vào thẳng vấn đề, nói thẳng không kiêng dè.

HÀNG LONG THẬP BÁT CHƯỞNG

Chưởng thứ nhất: Sắp xếp Ngũ Trụ

  1. Lấy can chi của năm hiện tại làm Niên trụ.

  2. Lấy can chi của tháng hiện tại làm Nguyệt trụ.

  3. Lấy can chi của năm sinh người cầu đoán làm Nhật trụ.

  4. Lấy giờ hiện tại làm chi của giờ (Thời chi), lấy can năm sinh làm can ngày (Nhật can) để tìm ra can của giờ (Thời can), làm thành Thời trụ.

  5. Lấy giờ và phút hiện tại làm cơ số để tìm ra Khắc thần (chi), làm Khắc trụ.

Chưởng thứ hai: Xác định số cục

Đầu tiên, dựa vào Ngũ trụ đã sắp xếp ở chưởng thứ nhất, cộng số thứ tự của năm địa chi lại, sau đó lấy 9 làm số chia, số dư chính là số cục. Số dư là mấy thì là cục đó. Nếu chia hết, thì là cục 9.

Chưởng thứ ba: Xác định cục Âm Dương

Căn cứ theo hai tiết khí Đông Chí và Hạ Chí. Tức là: Sau Đông Chí đến trước Hạ Chí là Dương cục; Sau Hạ Chí đến trước Đông Chí là Âm cục.

Chưởng thứ tư: Xác định cung ký sinh cho Trung Ngũ cung

  1. Trước hết xem can chi của ngày (Nhật can chi) là can chi gì, thuộc Âm hay thuộc Dương.

  2. Nếu là ngày Dương can, thì Trung cung ký sinh vào cung Khôn số 2.

  3. Nếu là ngày Âm can, thì Trung cung ký sinh vào cung Cấn số 8.

Chưởng thứ năm: Tìm Tuần thủ, Tuần không

  1. Dựa vào thứ tự sắp xếp của can chi giờ để tìm ra Tuần thủ, xem nó thuộc Lục Giáp nào, Giáp đó chính là Tuần thủ.

  2. Tìm Tuần không dựa vào thứ tự sắp xếp của Tuần thủ, Thập Can và Thập Nhị Địa Chi. Ví dụ: Trong tuần Giáp Tý, gồm Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tỵ, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu. Hai chi còn lại là Tuất, Hợi là Tuần không. Những tuần khác cũng suy ra tương tự.

Chưởng thứ sáu: Tìm Nguyệt Tướng

Nguyệt tướng phân làm Thiên Nguyệt tướng (tức Thái Dương) và Địa Nguyệt tướng (tức Nguyệt kiến).

Thiên Nguyệt tướng là:

  • Tháng giêng: Hợi

  • Tháng hai: Tuất

  • Tháng ba: Dậu

  • Tháng tư: Thân

  • Tháng năm: Mùi

  • Tháng sáu: Ngọ

  • Tháng bảy: Tỵ

  • Tháng tám: Thìn

  • Tháng chín: Mão

  • Tháng mười: Dần

  • Tháng mười một: Sửu

  • Tháng mười hai: Tý

Chúng ta sử dụng Thiên Nguyệt tướng, bởi vì Thiên Nguyệt tướng là Thái Dương, nơi nào nó đến đều có thể hướng cát tránh hung. Thiên Nguyệt tướng luận theo cách Thái Dương quá cung, một số mắt xích quan trọng như Thiên Tam Môn, Địa Tứ Hộ sẽ được dùng sau.

Thiên Nguyệt tướng luận theo khí, không luận theo tiết. Tức là:

  • Tháng giêng: sau tiết Vũ Thủy đến trước tiết Xuân Phân.

  • Tháng hai: Xuân Phân

  • Tháng ba: Cốc Vũ

  • Tháng tư: Tiểu Mãn

  • Tháng năm: Hạ Chí

  • Tháng sáu: Đại Thử

  • Tháng bảy: Xử Thử

  • Tháng tám: Thu Phân

  • Tháng chín: Sương Giáng

  • Tháng mười: Tiểu Tuyết

  • Tháng mười một: Đông Chí

  • Tháng mười hai: Đại Hàn đến Vũ Thủy

Chưởng thứ bảy: Xác định Quý Nhân

Quý Nhân là hóa thân của thần linh, cung nào nó đến sẽ nhận được sự ủng hộ của cấp trên và sự giúp đỡ của bạn bè.

Quý Nhân được tìm ra từ Ngũ trụ đã sắp xếp, dựa vào Nhật can. Bài ca: Giáp Mậu Canh dương ngưu (Sửu, Mùi), Ất Kỷ chuột khỉ (Tý, Thân), Bính Đinh heo gà (Hợi, Dậu), Nhâm Quý rắn chứa (Tỵ, Mão), Lục Tân gặp ngựa hổ (Ngọ, Dần), đây là chỗ Quý nhân.

Chưởng thứ tám: Vẽ Cửu cung cách

  1. Toàn thân thả lỏng, tập trung tinh thần, nhất tâm nhất ý niệm thầm: "Vô cực sinh Thái cực, Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái, Bát quái định Càn Khôn, Càn Khôn nhiệm ngã hành". Bắt đầu niệm "Vô cực sinh Thái cực", vẽ một hình vuông, giữa các đường không được đứt nét, bốn góc phải khít, không được có khe hở.

  2. Niệm thầm: "Thái cực sinh Lưỡng nghi", sau đó vẽ hai đường kẻ ngang chia đều trong hình vuông.

  3. Niệm thầm: "Lưỡng nghi sinh Tứ tượng", đồng thời vẽ hai đường kẻ dọc.

  4. Niệm thầm: "Tứ tượng sinh Bát quái, Bát quái định Càn Khôn, Càn Khôn nhiệm ngã hành", vừa niệm vừa dùng bút vẽ ba vòng tròn trên không trên bảng Cửu cung.

Chưởng thứ chín: Sắp xếp Tam Kỳ Lục Nghi Địa bàn

  1. Trước hết xem số cục đã định là mấy cục, sau đó theo số cục tìm cung tương ứng để viết Giáp Tý Mậu (Mậu). Ví dụ: cục 1 thì viết Mậu ở cung Khảm 1, nếu là cục 3 thì viết Mậu ở cung Chấn 3.

  2. Thứ tự sắp xếp thuận nghịch: Dương cục đi thuận theo thứ tự cung 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9. Nếu là Dương 1 cục thì đi thuận, lần lượt: cung Khảm viết Mậu, cung Khôn viết Kỷ, cung Chấn viết Canh, cung Tốn viết Tân, cung Trung viết Nhâm, cung Càn viết Quý, cung Đoài viết Đinh, cung Cấn viết Bính, cung Ly viết Ất.

  3. Nếu là Âm cục thì phải đi nghịch, tức là cung 1, 9, 8, 7, 6, 5, 4, 3, 2. Giả sử là Âm 1 cục, đi nghịch lần lượt: cung Khôn viết Mậu, cung Ly viết Kỷ, cung Cấn viết Canh, cung Đoài viết Tân, cung Càn viết Nhâm, cung Trung viết Quý, cung Tốn viết Đinh, cung Chấn viết Bính, cung Khôn viết Ất (Lưu ý: cung Khôn đã có Mậu, cần kiểm tra lại thứ tự, có thể ý tác giả là viết xong một vòng 9 cung, mỗi cung một chữ, bắt đầu từ cung có số cục). Thực ra cách bố trí chuẩn: Âm độn bắt đầu từ cung có số cục (ví dụ Âm 1 cục bắt đầu từ cung Khảm 1), nhưng đi nghịch theo số cung 1, 9, 8, 7, 6, 5, 4, 3, 2. Tuy nhiên ví dụ trong bài hơi khó hiểu, tôi dịch sát nguyên văn: "Nếu là Âm một cục, nghịch hành lần lượt là cung Khôn viết Mậu, cung Ly viết Kỷ, cung Cấn viết Canh, cung Đoài viết Tân, cung Càn viết Nhâm, cung Trung viết Quý, cung Tốn viết Đinh, cung Chấn viết Bính, cung Khôn viết Ất." Có thể thấy có hai lần cung Khôn, có lẽ là sai sót. Tôi xin dịch chính xác nội dung tác giả viết. Những cái khác suy ra tương tự.

Chưởng thứ mười: Xác định Trực Phù, Trực Sử

Trực Phù và Trực Sử là bước then chốt trong Kỳ Môn, nếu sai thì toàn bộ sẽ sai. Trực Phù ở Địa bàn còn gọi là Thiên Ất Quý Nhân.

  1. Trực Phù được xác định dựa vào Tuần thủ. Tuần Giáp Tý ở Mậu, Giáp Tuất ở Kỷ, Giáp Thân ở Canh, Giáp Ngọ ở Tân, Giáp Thìn ở Nhâm, Giáp Dần ở Quý. Quy luật: Giáp Tý Mậu, Giáp Tuất Kỷ, Giáp Thân Canh, Giáp Ngọ Tân, Giáp Thìn Nhâm, Giáp Dần Quý.

  2. Sao ở cung mà Tuần thủ rơi vào là Trực Phù, cửa ở cung đó là Trực Sử. Ví dụ: Giáp Tý Mậu rơi cung Khảm, thì Trực Phù là sao Thiên Bồng, Trực Sử là Hưu Môn. Cứ thế suy ra.

Chưởng thứ mười một: Sắp xếp Tam Kỳ Lục Nghi Thiên bàn

Bước 1: Dựa theo nguyên lý "Trực Phù thường sai (phái) gia Thời Can" (Trực Phù đi theo Thời Can), xem Thời Can là can gì và rơi vào cung nào, sau đó viết Tam Kỳ Lục Nghi ở cung của Trực Phù lên phía trên Thời Can.
Bước 2: Theo thứ tự cung Địa bàn: Khảm 1, Cấn 8, Chấn 3, Tốn 4, Ly 9, Khôn 2, Đoài 7, Càn 6. Đem Tam Kỳ Lục Nghi của Địa bàn đặt vào các cung bắt đầu từ Trực Phù, tạo thành Thiên bàn.

Chưởng thứ mười hai: Sắp xếp Bát Thần

Tám thần là: Trực Phù, Đằng Xà, Thái Âm, Lục Hợp, Bạch Hổ, Huyền Vũ, Cửu Địa, Cửu Thiên. Thứ tự sắp xếp Bát Thần là cố định, không thay đổi. Chỉ cần biết quy tắc sắp xếp là Dương thuận, Âm nghịch.
Bát Thần sắp xếp theo Dương độn thì đi thuận: Đầu tiên viết Trực Phù lên phía trên Tuần thủ của Thời Can ở Địa bàn, sau đó theo chiều kim đồng hồ viết bảy thần còn lại vào các cung khác. Theo thứ tự: Khảm 1 → Cấn 8 → Chấn 3 → Tốn 4 → Ly 9 → Khôn 2 → Đoài 7 → Càn 6 → Khảm 1.
Nếu là Âm độn thì đi nghịch theo thứ tự: Khảm 1 → Càn 6 → Đoài 7 → Khôn 2 → Ly 9 → Tốn 4 → Chấn 3 → Cấn 8 → Khảm 1.

Chưởng thứ mười ba: Sắp xếp Cửu Tinh

Chín sao là: Thiên Bồng, Thiên Nhậm, Thiên Xung, Thiên Phụ, Thiên Anh, Thiên Nhuế, Thiên Trụ, Thiên Tâm, Thiên Cầm. Trong đó, sao Thiên Cầm có danh mà không thực, trong thực tế ứng dụng nó ký sinh theo Trung cung, không viết, chỉ viết tám sao còn lại.
Trước hết xem sao nào là Trực Phù, viết sao đó lên phía trên bên phải trong cung của Trực Phù, sau đó theo quỹ đạo vận hành của Cửu Tinh, đi thuận tám cung. Tức là theo thứ tự: Khảm 1 → Cấn 8 → Chấn 3 → Tốn 4 → Ly 9 → Khôn 2 → Đoài 7 → Càn 6 để viết.

Chưởng thứ mười bốn: Sắp xếp Bát Môn

Trước hết xem Tuần thủ ở Địa bàn rơi vào cung nào, cung đó chính là cung mà Trực Sử rơi vào tại thời điểm tuần thủ đó. Sau đó xem thời điểm dự đoán là giờ nào, ở cung nào, rồi tìm ra cung mà Trực Sử rơi vào. Ví dụ: Giờ Giáp Thìn, Trực Sử ở cung Khôn 2; giờ Ất Tỵ ở cung Chấn 3; giờ Bính Ngọ ở cung Tốn 4; giờ Đinh Mùi ở cung Trung 5; giờ Mậu Thân ở cung Càn 6; giờ Kỷ Dậu ở cung Đoài 7; giờ Canh Tuất ở cung Cấn 8. Ở đây, việc tìm cung rơi của Trực Sử theo thứ tự cung vị: Dương cục theo thứ tự số cung 1,2,3,4,5,6,7,8,9,1; Âm cục theo thứ tự 9,8,7,6,5,4,3,2,1,9.
Sau khi tìm ra cung rơi của Trực Sử, viết Bát Môn theo thứ tự cố định không đổi: Hưu Môn → Sinh Môn → Thương Môn → Đỗ Môn → Cảnh Môn → Tử Môn → Kinh Môn → Khai Môn. Dù là Âm cục hay Dương cục, khi viết các cửa khác đều theo chiều kim đồng hồ. Ở đây, chiều kim đồng hồ là chỉ theo thứ tự: Khảm 1 → Cấn 8 → Chấn 3 → Tốn 4 → Ly 9 → Khôn 2 → Đoài 7 → Càn 6 → Khảm 1, chứ không phải thứ tự số cung.

Chưởng thứ mười lăm: Sắp xếp Ẩn Can

Nguyên tắc sắp xếp Ẩn Can là: Đem Thời Can đặt lên Trực Sử, sau đó theo thứ tự Thiên bàn hoặc thứ tự Tam Kỳ Lục Nghi Địa bàn để sắp xếp một vòng. (Xem thêm phép Kỳ Môn Độn Giáp của Dịch Đỉnh Khắc Gia).

Chưởng thứ mười sáu: Tuần không và Mã Tinh

Tra Tuần không theo trụ giờ:

  • Tuần Giáp Tý: Tuất, Hợi không → cung Càn không.

  • Tuần Giáp Dần: Tý, Sửu không → cung Khảm và cung Cấn không.

  • Tuần Giáp Thìn: Dần, Mão không → cung Cấn và cung Chấn không.

  • Tuần Giáp Ngọ: Thìn, Tỵ không → cung Tốn không.

  • Tuần Giáp Thân: Ngọ, Mùi không → cung Ly và cung Khôn không.

  • Tuần Giáp Tuất: Thân, Dậu không → cung Khôn và cung Đoài không.

Tra Mã Tinh theo trụ giờ:

  • Giờ Hợi, Mão, Mùi → Mã Tinh ở cung Tốn.

  • Giờ Thân, Tý, Thìn → Mã Tinh ở cung Cấn.

  • Giờ Dần, Ngọ, Tuất → Mã Tinh ở cung Khôn.

  • Giờ Tỵ, Dậu, Sửu → Mã Tinh ở cung Càn.

Chưởng thứ mười bảy: Sắp xếp Nguyệt Tướng

Đầu tiên, trên quẻ Kỳ Môn đã sắp xếp, tìm ra cung tương ứng với thời gian cầu đoán. Sau đó, tại vị trí của giờ tương ứng, khởi Nguyệt kiến (tháng), xếp thuận 12 sao Kiến (Thập nhị Kiến tinh).
Lấy 12 sao Kiến đã xếp làm cơ sở, sau đó đem Nguyệt tướng đã tìm được ở chưởng thứ sáu viết bên trái (hoặc phía trên) chữ Kiến, theo chiều kim đồng hồ sắp xếp 11 vị thần tướng còn lại.

Chưởng thứ mười tám: Xác định Thiên Môn, Địa Hộ

Thiên môn có ba: Tùng Khuê (Dậu), Tiểu Cát (Mùi), Thái Xung (Mão) – ba vị này là Thiên Tam Môn.
Địa tứ hộ có bốn: các chữ Trừ, Nguy, Định, Khai.
Thiên tam môn hề địa tứ hộ, vấn quân thử pháp như hà xử, Thái xung tiểu cát dữ tùng khuê, thử thị thiên môn tư xuất lộ, địa hộ trừ nguy định dữ khai, cử sự giai tòng thử trung khứ.
(Tạm dịch: Ba cửa trời, bốn cửa đất, hỏi người pháp này làm thế nào, Thái xung, Tiểu cát cùng Tùng khuê, ấy là cửa trời đường riêng lẻ, cửa đất Trừ, Nguy, Định và Khai, làm việc đều từ đó mà ra.)
Phương pháp tìm Thiên tam môn, Địa tứ hộ: Lấy Nguyệt kiến đặt lên bản giờ (giờ hiện tại), xem các chữ Trừ, Nguy, Định, Khai ở đâu, đó chính là Địa tứ hộ. Xem ba vị trí Dậu, Mùi, Mão (tức Tùng Khuê, Tiểu Cát, Thái Xung) ở đâu, đó chính là vị trí Thiên tam môn. Bảy vị trí này là phương xuất nhập cát lợi. Nếu Địa tứ hộ và Thiên tam môn cùng một cung thì càng cát lợi, hỷ sự thành đôi.

HUYỀN NỮ TAM BỘ KHÚC

Bộ thứ nhất: Hành vận (Hành trình, lộ tuyến, phương hướng)

  1. Dùng số cung mà Nhật Can rơi vào để xác định tuổi bắt đầu giao vận.

  2. Lấy cung tiên thiên của địa chi năm sinh làm bước vận đầu tiên. Căn cứ vào quy tắc: nam sinh năm Dương đi thuận, nữ sinh năm Dương đi nghịch; nữ sinh năm Âm đi thuận, nam sinh năm Âm đi nghịch để xác định hướng của đại vận. Mỗi vận 10 năm, một cung, tổng cộng 8 bước đại vận.

  • Đi thuận: Khảm 1 → Cấn 8 → Chấn 3 → Tốn 4 → Ly 9 → Khôn 2 → Đoài 7 → Càn 6.

  • Đi nghịch: Khảm 1 → Càn 6 → Đoài 7 → Khôn 2 → Ly 9 → Tốn 4 → Chấn 3 → Cấn 8.

Bộ thứ hai: Sắp xếp Tam truyền (Điểm, đường, góc)

  1. Lấy Khắc thần (chi của khắc) làm Sơ truyền.

  2. Lấy Nhật chi (chi của ngày) làm Trung truyền.

  3. Lấy Lưu niên chi (chi của năm hiện tại hoặc năm cần xem) làm Mạt truyền.

Tam truyền chủ yếu để xem cát hung, thành bại của từng năm. Nếu cần tra việc của năm nào thì lấy chi của năm đó viết vào Mạt truyền, phân tích tổng hợp tình hình chi tiết của từng năm.

Bộ thứ ba: Xác định Dụng thần (Vòng tròn, mặt phẳng, khối thể)

  1. Lấy năm sinh làm Dụng thần.

  2. Lấy Thời can làm bệ đỡ (nền tảng) cho sự việc.

  3. Lấy Khắc thần làm phương tiện (môi giới).

Lời bàn của người biên soạn:

Dịch Đỉnh Khắc Gia Kỳ Môn Tam Hợp Bàn Bí Kíp, gọi tắt là: 《Dịch Đỉnh Tam Hợp Bàn》.

Khi bạn bế tắc không có cách nào, ắt có người khuyên bạn nên thay đổi môi trường. Thay đổi môi trường thường có thể mang lại lợi ích lớn cho nhiều mặt của bạn, nhiều nỗi sầu muộn thường được giải quyết dễ dàng. Đây là điều Kinh Dịch đã nói: "Cùng thì biến, biến thì thông".

Trong sự thay đổi tuy có biến, nhưng cũng có tốt xấu. Kinh Dịch nói: "Động giả, sinh cát hung". Tại sao động có thể sinh cát hung? Thực ra là do sự phối hợp giữa thời gian và không gian sinh ra sự khác biệt. Phối hợp khéo léo thì tự có cát tường, phối hợp không khéo thì có hung sự.

Thời gian là ngày lành giờ tốt. Không gian là phương vị. Hai thứ kết hợp lại, người xưa gọi là thuật "Kỳ Môn Độn Giáp".

"Kỳ Môn Độn Giáp" là một trong ba đại bí thuật của nước ta, tức "Kỳ Môn", "Lục Nhâm", "Thái Ất" là ba môn cổ truyền. Người nào "tinh thông tam thức" được coi như thần tiên.

《Dịch Đỉnh Tam Hợp Bàn》 hội tụ tinh túy của "tam thức", làm sáng tỏ các nguyên lý Âm Dương, Ngũ Hành, sinh khắc chế hóa trong Kinh Dịch, loại bỏ các luận tạp của các phái khác nhau và sự khác biệt trong sư thừa của mỗi người, bảo lưu chân lý của sự kế thừa bí kíp.

《Dịch Đỉnh Tam Hợp Bàn》 thời xa xưa được bí mật coi là môn học cướp đoạt tạo hóa của trời đất, vì vậy không dễ dàng tiết lộ, đều là truyền khẩu bí mật của sư phụ. Ngày nay, tri thức hiện đại đã sáng tỏ, các thuật thần bí phần nhiều được công khai, vì thế 《Dịch Đỉnh Tam Hợp Bàn》 cũng để cho các học giả trong thiên hạ nghiên cứu. Tôi thuận theo tự nhiên mà bước vào hàng ngũ đó.

Thời xưa, Kỳ Môn Độn Giáp được ứng dụng nhiều nhất trong binh học, bởi vì Kỳ Môn Độn Giáp có thể dự đoán địa lý nhỏ, có thể tính toán thời điểm tác chiến, lựa chọn thời gian và phương pháp có lợi, như vậy mới có thể đánh địch đông bằng ít quân, lấy yếu thắng mạnh.

Trong xã hội hiện đại, Kỳ Môn Độn Giáp cũng có thể ứng dụng vào nhiều mặt, nổi bật nhất như "thương trường" và "khảo trường". Tục ngữ nói: "Thương trường như chiến trường, khảo trường như sát trường". Ngoài việc dựa vào thực lực bản thân, yếu tố "vận khí" cũng rất quan trọng.

Có một cửa hàng, ngày thường uy tín rất tốt, không ngờ năm ngoái làm ăn rất kém, đến than thở với tôi. Nói: Trước kia gửi điện tín đi là có khách hàng đặt hàng, nay đều như bỏ đá xuống biển, có đi không về. Tôi dùng 《Dịch Đỉnh Tam Hợp Bàn》 để chọn cho anh ta phương vị và thời gian gửi điện tín, anh ta làm theo pháp của tôi quả nhiên đại thành công.

Tôi có một người bạn làm việc trong ngân hàng, nay cho vay rất đau đầu, quy định ai cho vay người đó phải thu hồi, không xong thì chẳng những không lấy được lương mà còn bị đuổi việc. Anh ấy thường xuyên học Kỳ Môn Độn Giáp với tôi, lợi dụng Kỳ Môn để chọn thời gian và nhân vật có lợi, đều đạt hiệu quả gấp đôi, các nhân viên ngân hàng đều ghen tị với anh ấy.

Học sinh thi cử càng có lợi không có hại, 《Dịch Đỉnh Tam Hợp Bàn》 không biết đã giúp bao nhiêu học sinh chọn trường, định hướng, tiếp thêm động lực. Có một thí sinh họ Lưu, thi hai năm liền đều rớt, bố mẹ anh ta dẫn tôi đến nhà anh ta để điều lý, tôi dựa theo tượng ý của Tam Hợp Bàn để chỉ điểm cho anh ta, và tính toán thời gian thi và phương vị vào trường, năm thứ ba anh ta thi vào Đại học Nam Kinh.

Các việc khác như kiện tụng, cầu y, xuất hành, chọn ngày lành... đều có thể ứng dụng phương vị và thời gian của Kỳ Môn để đạt được nguyện vọng của mình.

Do đó có thể thấy, sự phối hợp giữa "thời gian" và "không gian", sự phối hợp giữa "nhân sự" với trời và đất, tồn tại thứ công năng thần kỳ đến nay chưa thể giải thích được.