HÀ ĐỒ VÀ LẠC THƯ – TU CHÂN VÀ CHI TIẾT VỀ NHỊ BÁT DỊCH VỊ

HÀ ĐỒ VÀ LẠC THƯ – TU CHÂN VÀ CHI TIẾT VỀ NHỊ BÁT DỊCH VỊ

Trong Sơn Hải Kinh có chép: "Phục Hy được Hà Đồ, người nhà Hạ dựa vào đó mà đặt tên là Liên Sơn." Chu Dịch – Hệ Từ viết: "Sông xuất hiện Đồ, sông Lạc xuất hiện Thư, bậc thánh nhân noi theo đó." Vào thời Phục Hy, có rồng ngựa xuất hiện ở sông, trên lưng có những vòng xoáy lông, tựa như hình vẽ này (xem Hình 5.1).

Chu Dịch – Hệ Từ viết: "Trời là một, Đất là hai; Trời là ba, Đất là bốn; Trời là năm, Đất là sáu; Trời là bảy, Đất là tám; Trời là chín, Đất là mười. Số Trời có năm, số Đất có năm. Năm vị trí phối hợp với nhau mà đều có sự kết hợp, số Trời là hai mươi lăm, số Đất là ba mươi. Tổng số của Trời và Đất là năm mươi lăm. Đó là cái để tạo nên sự biến hóa mà thúc đẩy quỷ thần."

  • Trời sinh số Một, Đất thành số Sáu;

  • Đất sinh số Hai, Trời thành số Bảy;

  • Trời sinh số Ba, Đất thành số Tám;

  • Đất sinh số Bốn, Trời thành số Chín;

  • Trời sinh số Năm, Đất thành số Mười.

Một, Hai, Ba, Bốn, Năm là số sinh; Sáu, Bảy, Tám, Chín, Mười là số thành. Số lẻ là Dương, số chẵn là Âm.

Biết Tam Ngũ, hiểu phối Hợp Khuê, rõ Thủy Hỏa, nhận Thê Tử, phân biệt Âm Dương, xác định Tiên Thiên và Hậu Thiên, thuận và nghịch, cơ quan ở đâu, trắng và đen có công dụng gì, nếu không hiểu, hãy mau tìm thầy.

Vào thời Phục Hy, rùa thần xuất hiện ở sông Lạc, trên mai có những vân đốm, tựa như hình vẽ này. Đội Chín đạp Một, trái Ba phải Bảy, Hai Bốn là vai, Sáu Tám là chân. Một trắng, hai đen, ba xanh, bốn lục, năm vàng, sáu trắng, bảy đỏ, tám trắng, chín tía. Con số 15 trong Lạc Thư là con số kỳ diệu: hàng ngang 15, hàng dọc 15, đường chéo cũng 15.

Âm Dương Nhị Ngũ Hỗn Hợp Đồ là công dụng của Hà Đồ. Từ Nhị Ngũ quy về Nhất Ngũ, từ Nhất Ngũ quy về Trung Ngũ, từ Năm quy về Một, từ Hậu Thiên trở về Tiên Thiên. Muốn làm được điều này, cần phải:

  • Hiểu rõ Tinh, Khí, Thần là ba loại thuốc thượng phẩm;

  • Biết rằng trong Hậu Thiên hàm chứa Tiên Thiên;

  • Biết cách rút bỏ và bổ sung (rút châm, bổ tả);

  • Biết cách lấy Khảm (Thủy) để lấp đầy Ly (Hỏa);

  • Biết cách chế ngự hồn và thu phục phách;

  • Biết rằng Thức thần là sự trói buộc của Nguyên thần;

  • Vọng ý (ý niệm vọng động) là mẹ của tham, sân, si, là mầm độc đưa người ta lạc vào bể khổ.

Hãy tìm đến bậc thiện tri thức, bái yết minh sư, thấu rõ lý tính mệnh, tu luyện đạo trường sinh cửu thị.

Hình 5.6 là sự đào sâu của Lạc Thư, cách xem đơn giản nhất đó là một sơ đồ phẳng của ngũ tạng trong cơ thể con người:

 
 
Vị trí ngũ tạngSố Lạc ThưNgũ hành
Phổi trái và phải (phía trên)4, 9Kim
Tim (lệch trên bên trái)2, 7Hỏa
Gan, Mật (lệch dưới bên phải)3, 8Mộc
Thận (phía dưới)1, 6Thủy
Tỳ (ở giữa)5Thổ

Trong ngũ tạng của cơ thể con người, vừa chứa ngũ vật và ngũ tặc của Hậu Thiên, vừa chứa phẩm chất ngũ nguyên và ngũ đức của Tiên Thiên. Bốn chữ "Khắc, Chế, Phản, Quy" (Chế ngự, Khống chế, Quay về, Trở về) chính là công phu tu luyện. Ngũ nguyên là sự vận dụng của Tiên Thiên, ngũ đức là sự thực hành của Đạo. Vì vậy, trong đồ hình này bao hàm nội dung tu chân vô cùng phong phú, lý pháp cực kỳ uyên thâm. Chỉ có trong thực tiễn của bản thân, ngẫm hiểu lặp đi lặp lại mới có thể nắm bắt được tinh hoa và đạt thành tựu.

Hà Đồ xoắn kép Âm Dương thuận hành thì ngũ hành đi vào Hậu Thiên, nghịch hành thì trở về Một, quy về Trung, tiến vào cõi Đạo.
Lạc Thư thì Nhị Bát là cơ quan của tính (tánh), Thất Cửu là công năng của mệnh.
Hà Đồ là thể, Lạc Thư là dụng, thể dụng kết hợp, cùng nhau tham ngộ; Lạc Thư quy về Hà Đồ, Hậu Thiên trở về Tiên Thiên.


Về mối quan hệ số lý và tượng số giữa Hà Đồ và Lạc Thư

0. Tiên Thiên quái và Lạc Thư có quan hệ mật thiết, thực chất Lạc Thư hoàn toàn là sản phẩm của Nhị Bát dịch vị (hoán đổi vị trí 2 và 8) từ Tiên Thiên quái. Vạn sự vạn vật khởi nguồn từ số 0 (không). Nhưng vào thời đại Lạc Thư ra đời, do chưa có khái niệm số âm và số 0, người xưa đã thông minh dùng số 5 và bội số của 5 để tượng trưng cho số 0.

Tiên Thiên quái, các quái thuộc Âm nghi (Khôn, Cấn, Khảm, Tốn) và các quái thuộc Dương nghi (Chấn, Ly, Đoài, Càn) lần lượt đối xứng với nhau, tạo thành bốn cặp quái đối ngược. Tình huống này giống hệt như các số dương và số âm có giá trị tuyệt đối bằng nhau lấy 0 làm trung tâm đối xứng. Tức là lấy 0 làm nguồn khởi, làm trung cung, coi Càn (ba vạch dương) là +4 và Khôn (ba vạch âm) là -4 (lý do vì có bốn cặp quái đối xứng, và xét theo hệ tam phân, 4 là sự khởi đầu của một tượng nguyên mới, do đó 4 thuộc về số tổng hợp của Càn và Khôn – bốn phương bao quanh biểu thị 0, hai nét bên trong biểu thị Âm Dương Càn Khôn, lấy 4 và 0 làm nền có thể sinh ra sáu quái con). Khi đó, các quái thuộc Âm nghi lần lượt là -4 (Khôn), -3 (Cấn), -2 (Khảm), -1 (Tốn); các quái thuộc Dương nghi lần lượt là +1 (Chấn), +2 (Ly), +3 (Đoài), +4 (Càn), tạo thành dãy số:
-4 (Khôn), -3 (Cấn), -2 (Khảm), -1 (Tốn), 0 (Không), +1 (Chấn), +2 (Ly), +3 (Đoài), +4 (Càn).

Áp dụng phương pháp xử lý tương tự như xử lý tín hiệu đồng dư modulo 5 cho dãy số này (cộng thêm 5 vào mỗi số), giá trị của chúng về cơ bản vẫn giữ nguyên quan hệ, và tất cả đều trở thành số dương:
1 (Khôn), 2 (Cấn), 3 (Khảm), 4 (Tốn), 5 (Không), 6 (Chấn), 7 (Ly), 8 (Đoài), 9 (Càn).
Hoán đổi vị trí số 2 và số 8 trong dãy này sẽ tạo thành Lạc Thư. Đây cũng chính là nguồn gốc số lý thực sự của Lạc Thư.

1. Trong y học cổ truyền có thuyết "Tả Can Hữu Phế" (gan trái phổi phải). Thực ra điều này có nguồn gốc sâu xa: đó là lấy Lục Thú làm bản thể, bên trái là Thanh Long, bên phải là Bạch Hổ, phía trên là Chu Tước, phía dưới là Huyền Vũ, trung ương là Thổ Hoàng, pháp tượng Hà Đồ, theo thứ tự Ngũ hành tương sinh, có quan hệ mật thiết với khí động quanh rốn và Hậu Thiên quái. Còn sự phân bố vị trí của ngũ tạng (phía trên là Kim, phía dưới là Thủy, bên trái là Hỏa, bên phải là Mộc, trung ương là Thổ) được sắp xếp theo quy luật Ngũ hành tương khắc, dựa vào bàn Lạc Thư làm dụng. Phương vị cơ thể đối chiếu với Lạc Thư phục bàn, có quan hệ mật thiết với Tiên Thiên quái (Tiên Thiên quái và Lạc Thư đều được phân bố theo quy luật Ngũ hành tương khắc, trong đó sự tương ứng giữa số Lạc Thư với Ngũ hành dựa theo định nghĩa trong sách Hồng Phạm).

Khi nghiên cứu kỹ, mối quan hệ trực tiếp giữa các tạng không thực sự rõ ràng, trong khi lục phủ về cơ bản có sự liên hệ trực tiếp với nhau và vị trí trên dưới tương đối rõ ràng, cụ thể là:
Vị (Thổ) → Tiểu trường (Hỏa) → Đởm (Mộc) → Bàng quang (Thủy) → Đại trường (Kim).
Lưu ý rằng hậu môn của đại trường là nơi bài tiết, quyết định chức năng bài tiết của đại trường và toàn bộ cơ thể, được gọi là "Phách môn", nên xếp ở vị trí cuối cùng. Về cơ bản, đây là theo trình tự Ngũ hành tương sinh của Hà Đồ (Hà Đồ và Hậu Thiên quái đều đi theo trình tự Ngũ hành tương sinh, biểu thị thời tự, như sự biến đổi bốn mùa có thể được diễn tả bằng Hậu Thiên quái).

Có nghĩa là:

  • Vị trí không gian của ngũ tạng liên quan đến Lạc Thư.

  • Trình tự vị trí của lục phủ liên quan đến Hà Đồ (pháp thời gian).

Hai chiếc "kiều" trên dưới trong cơ thể: một ở trong miệng, một ở hậu môn, cả hai đều thuộc Kim; cái trước thuộc quẻ Đoài, cái sau là Phách môn, đều vô cùng quan trọng. Phật gia cũng rất chú trọng "khẩu nghiệp" tương ứng với lời nói.

Trong hệ thống cổ đại, Nhật tượng Hà Đồ, tương ứng với sự tuần hoàn khép kín của ngũ phủNguyệt tượng Lạc Thư, tương ứng với sự tuần hoàn khép kín của ngũ tạng, điều này phù hợp với mô tả trên. Nhật Nguyệt là tượng của pháp minh (sáng), đó là Kinh (kinh vĩ). Ngũ tinh được đặt tên theo Ngũ hành, đó là Vĩ (vĩ tuyến). Nhật Nguyệt và Ngũ tinh hợp xưng là Thất Diệu (bảy vì sao sáng).

2. Thất Cửu dịch vị (hoán đổi vị trí 7 và 9)
Chỉ sự hoán đổi các số ở phía Tây Nam giữa Hà Đồ và Lạc Thư. Trong Hà Đồ (là thể), số 7 ở vị trí số 2 (phía Nam Hỏa), số 9 ở vị trí số 4 (phía Tây Kim).

Cận nhân Hàng Tân Trai (Hàng Tân Trai) cho rằng:
"Hậu Thiên, mặt trời Ly xuất hiện, Chấn ở vị trí của Ly Tiên Thiên, mà Ly Hỏa vốn thuộc Trời, gần lên trên, thăng lên vị trí Càn. Thái Nhất Tử Cung, Ly nạp giáp là số 9, Hà Đồ vị trí Nam là 2 và 7 hợp lại, số tận cùng vốn là 9. Hậu Thiên phân thể làm dụng, lấy 2 nạp cho Khôn, bèn lấy 9 ở Tây chuyển sang Nam, hoán đổi với 7, tạo thành thứ tự 6, 7, 2, 9 ở phía Tây Nam của Lạc Thư. Tại sao 7 và 9 nhất định phải hoán đổi cho nhau? Đó là điều gọi là biến lý Âm Dương, cân đong thêm bớt, để thành diệu dụng của Đạo Dịch."
"7 và 9 hoán đổi, tránh khỏi cái nóng gay gắt quá mức, tạo nên sự ôn hòa của mùa thu Kim. Đó là điều gọi là rải Ngũ hành vào bốn mùa và sau đó tháng sinh ra. Thứ tự bốn mùa: Mộc mùa xuân sinh từ Thủy mùa đông, Hỏa mùa hạ sinh từ Mộc mùa xuân, Thủy mùa đông sinh từ Kim mùa thu. Đều là con thay cha, ở vào thuận thường, không mất trật tự. Duy chỉ có Hỏa và Kim tương khắc, lấy Kim kế thừa Hỏa, chẳng khác nào người ngoài vào nhà, điều đối lập này là để nối tiếp trật tự. Cho nên nếu không nhờ Thổ ở Khôn làm trung gian thì trật tự không thể thành, vì thế 6 và 8 không hoán đổi mà 7 và 9 hoán đổi." (Dịch Số Ngẫu Đắc)

3. Nhị Bát dịch vị (hoán đổi vị trí 2 và 8)
Là nhận thức của người xưa về cấu thành của Lạc Thư. Cho rằng số 1 ở phương Bắc là gốc của vạn số, không thể lay động. Từ Bắc xoay sang trái là 1, 2, 3, 4; từ Bắc xoay sang phải là 6, 7, 8, 9; số 5 ẩn giữa. Trong đó số 2 ở Đông Bắc, số 8 ở Tây Nam. Sau khi hoán đổi vị trí tương đối, thì số 2 ở Tây Nam, số 8 ở Đông Bắc, từ đó hình thành các con số của Lạc Thư.

Cận nhân Hàng Tân Trai trong Dịch Học Tàng Thư viết:
"Vị trí của 2 và 8, trong Tiên Thiên quái là quẻ Tốn và Chấn, trong Hậu Thiên quái là quẻ Khôn và Cấn. Khôn và Cấn đều thuộc Thổ, là số 50. Vạn vật đều sinh ra từ Thổ, đều trở về với Thổ, bắt đầu và kết thúc đều ở vị trí của Cấn. Tốn và Chấn hoán đổi, đó là ý nghĩa của Lôi Phong Hằng. Tượng truyện nói: 'Lập bất dịch phương', điều này nói về thể khi chưa hoán đổi. Khi đã hoán đổi thì trở thành Tốn, Chấn, đó là ý nghĩa của Phong Lôi Ích. Tượng truyện nói: 'Tự thượng nhi hạ', nói 'Thiên thi địa sinh', đó là dụng sau khi đã hoán đổi. Khôn và Cấn là quẻ Khiêm. Khiêm – Thoán truyện nói: 'Thiên đạo hạ tế nhi quang minh, địa đạo ti nhi thượng hành', nói: 'Thiên đạo khuy doanh nhi ích khiêm'. Tượng nói: 'Bưu đa ích quả'. Tất cả những điều này đều chỉ sự huyền diệu của Âm Dương biến hóa ở hai vị trí 2 và 8."
Ông cho rằng: "Nhị Ngũ cấu tinh, diệu hàm nhi ngưng, tức là dụng của Nhị Bát giao thoa" (Học Nghiệp Dịch Bút Đàm).
Nhị Bát dịch vị thể hiện cơ quan tạo hóa của trời đất, sự diệu dụng biến hóa Âm Dương.

4. Chín đại huyệt trọng yếu trên cơ thể người phân bố theo Cửu cung như sau:

 
 
 Phía trênGiữaPhía dưới
TrênBách Hội (9)Ấn Đường (4)Nê Hoàn (Mậu 5)
GiữaNgọc Chẩm (2)Đản Trung (3)Trung Đan (10)
DướiGiáp Tích (7)Tề (8)Trung Cung (Kỷ 5)
 Mệnh Môn (6)  
  Hội Âm (1) 

Ngoài ra từ hình này có thể được gợi mở thêm: Bộ não con người cũng tượng Cửu cung, nên có sự phân bố Cửu cung lập thể. Trung cung trong cơ thể theo phân vực của Hà Đồ, mỗi vị trí tương ứng với một "nhãn" (huyệt), phù hợp với thuyết "Túc tháp Hà Lạc" (chân đạp Hà Đồ Lạc Thư).

5. Trong Cửu cung thần hành (các bước đi theo Cửu cung trong luyện công), Mật tông đàn thành (Mạn-đà-la), cũng như sự nhận thức về bản khí của tám cung trong các phương pháp luyện tập cổ xưa, đều thể hiện những đặc điểm lượng tử hóa và phân bố có trật tự rõ ràng, có thể được coi là sự khai giải trực giao cho một hệ thống hoàn chỉnh. Trong đó, Tiên Thiên quái, Hậu Thiên quái, Hà Đồ, Lạc Thư đều là những cấu trúc sắp xếp ổn định và có trật tự trong sự phân bố của Bát Khí. Có nhiều nguyên lý khoa học hiện đại đảm bảo cho điều này, như mối liên hệ giữa Lạc Thư và tỷ lệ vàng (golden ratio), nhiều số chiều fractal (fractal dimension) gần với tỷ lệ vàng, v.v.

Xét từ cấu trúc Mật tông đàn thành, cấu trúc hình vuông có liên quan đến Địa Chi. Từ sự khác biệt giữa tượng trấn cung ở bốn chính và bốn góc cũng có thể thấy được điều này.

Ngoài ra, người xưa quy định sự tương ứng giữa số Hà Lạc và Ngũ hành không phải là tùy tiện. Trong dãy 60 Hoa Giáp, việc bắt đầu bằng "Hải Trung Kim" (Vàng trong biển) và kết thúc bằng "Đại Hải Thủy" (Nước biển lớn) cũng không phải ngẫu nhiên. Điều này có liên quan trực tiếp đến sự phân bố Lạc Thư của ngũ tạng: Phổi tương ứng với hậu thiên khí, hai thận tương ứng với tiên thiên khí, một trên một dưới, ngũ hành lần lượt ứng với Kim và Thủy.

Về sự tương ứng giữa Bát quái và Ngũ hành, có thể được xác định dựa trên phương vị và thời tự. Nghĩa là xác định phương vị thời không trước, sau đó mới xác định thuộc tính Ngũ hành. Mặc dù nguồn gốc của nó vẫn chưa được xác định, nhưng cũng tuyệt đối không phải là tùy tiện.

Huyền Châu (viên ngọc huyền bí) với tư cách là Nội Thái Cực, màu sắc khí và phương vị của nó phân bố theo Hà Đồ, còn sự vận động khí cơ mà nó dẫn phát thì phân bố theo trình tự của Lạc Thư. Điều này có thể suy luận từ lý luận Đan đạo truyền thống và kết quả nội chứng của Chúc Hoa Anh.

Ngoài ra, quy luật tuần hoàn của Dinh khí trong cơ thể con người cũng theo trình tự của Lạc Thư, và trong đó nhất định có liên quan đến sự vận chuyển của Bản Đan theo quy luật Hà Đồ.

Ở một ý nghĩa nào đó, có thể rút ra kết luận:

  • Sự vận động của khí cơ trong cơ thể con người có quan hệ mật thiết với Mặt Trăng, trong đó có Lạc Thư và Tiên Thiên Bát Quái;

  • Bản Đan liên quan đến Mặt Trời, trong đó có Hà Đồ và Hậu Thiên Bát Quái.

Đứng ở vị trí Trái Đất, quan sát sự vận hóa của Mặt Trăng, tồn tại Lạc Thư, nên xưa nói "Nguyệt tượng Lạc Thư" (Mặt Trăng là tượng của Lạc Thư).
Đứng ở vị trí Trái Đất, quan sát sự vận hóa của Mặt Trời, tồn tại Hà Đồ, nên xưa nói "Nhật tượng Hà Đồ" (Mặt Trời là tượng của Hà Đồ).
Hai điều này lại cùng tồn tại không khác, có thể biến đổi lẫn nhau qua Thất Cửu dịch số (hoán đổi số 7 và 9). Trung cung phân 4 và 6, mỗi bên thêm 3 thành 7 và 9.

Màu sắc khí ban đầu của Huyền Châu pháp số Hà Đồ, Lục Thú du tẩu cũng như vậy. Sau khi tiến giai, sẽ giống như Mật tông đàn thành mà có Cửu cung. Phật tọa thần hành phía dưới có cái gọi là Cửu cung thần hành. Cuối cùng hỗn thành Thái Cực, xuất hiện tỷ lệ vàng. Dịch số Tiền Hà Đồ và Lạc Thư quy về một, tạo thành cấu trúc quy phạm.

6. Đời Nguyên, Dịch Toản Ngôn viết:
"Hà Đồ: Thời Phục Hy, sông Hoàng Hà xuất hiện rồng ngựa, sau lưng có lông xoáy thành đốm. Phía sau là 1 và 6, phía trước là 2 và 7, bên trái là 3 và 8, bên phải là 4 và 9, ở giữa là 5 và 10 – phía trước đỏ, phía sau đen, bên trái xanh, bên phải trắng, ở giữa vàng. Dùng để tượng trưng cho các đốm lông xoáy và chấm sao, mà gọi là Đồ. Phục Hy dựa vào số lẻ dương, số chẵn âm đó để vẽ quái và sinh ra thi thảo."
Dịch Toản Ngôn lại viết:
"Lạc Thư: Thời Vua Vua trị thủy, sông Lạc xuất hiện rùa thần, trên mai có các đường vân nứt. Phía trước 9, phía sau 1, bên trái 3, bên phải 7, ở giữa 5, phía trước bên phải 2, phía trước bên trái 4, phía sau bên phải 6, phía sau bên trái 8 – tạo thành bàn Lạc Thư ngang. Vì các đường vân nứt này giống như nét chữ, nên gọi là Thư. Vua Vũ dựa vào các số từ 1 đến 9 đó để sắp xếp chín điều Hồng Phạm."
Số 9 phía trước ứng với quẻ Càn, số 1 phía sau ứng với quẻ Khôn.

7. Lễ Ký – Lễ Vận: "Sông Hoàng Hà xuất hiện Mã Đồ." Khổng Tử từ trong cổ thư biết được rằng, Hà Đồ là thời Phục Hy, sông Hoàng Hà xuất hiện một con rồng ngựa, trên người có các hoa văn hình vẽ, gọi là rồng ngựa cõng đồ. Phục Hy đã ghi chép lại văn tự đó, vì nó xuất hiện ở sông Hoàng Hà nên gọi là "Hà Đồ".
Ngoài ra trong Luận Ngữ – Tử Hãn: "Khổng Tử nói: Chim phượng không đến, sông không xuất hiện đồ, ta sắp hết đời rồi!"
Đoạn giải thích trong Lễ Ký này đã di chuyển quan sát đạt được trong phép tu thân nội cầu của người xưa thành hiện tượng thực cảnh bên ngoài, thực sự khá thú vị.

Thực ra, trong phép tu thân nội cầu, bản thân đã ví tâm ý như "rồng ngựa", còn tinh khí thận ví như "rùa thần". Khi thực hành đến giai đoạn "kim phân thủy hình" (phân kim hợp thủy), sẽ xuất hiện hình ảnh toàn ảnh hình rùa. Hệ thống tuần hoàn dịch não tủy trong tủy sống của cơ thể được ví như "Tào Khê Hoàng Hà".
Khi trói được tâm viên, cột được ý mã, đi vào trạng thái định tĩnh sâu lắng, tâm dịch (bắt rồng, phục ý mã) giáng xuống, tinh khí thận (rùa thần) thăng lên (cũng gọi là phục hổ). Sau khi tinh dương trung âm trong tâm và tinh âm trung dương trong thận tự nhiên kết hợp, nhất định sẽ tự động đi vào vận chuyển bên trong tủy sống của "Hoàng Hà Tào Khê", đi ngược lên trên, tiến vào đại não, hiện ra hình ảnh trong não.
Một số ít người có thể xuất hiện toàn cảnh hình ảnh Nội Hà Đồ trong não, tương tự như hình Toàn Cực Đồ. Khi Nội Hà Đồ ổn định, chắc chắn sẽ từ điểm sáng sinh ra cột sáng, vọt ra khỏi đầu và kết nối với hình ảnh sao toàn cảnh vũ trụ; đồng thời, Hà Đồ trong vũ trụ cũng hình thành cột sáng giáng xuống, kết nối với những cột sáng này, từ đó trong trạng thái thân tâm liễu liễu nhược vô, sinh ra các hình vẽ và hình ảnh toàn ảnh tinh tế hơn (chú thích: Đỉnh Hà Đạp Lạc, tiểu chu thiên mười đường 55 mối cuối cùng sẽ kéo dài ra ngoài cơ thể, ứng với Nhật).
Việc ghi chép lại chính là nguồn gốc sinh ra Hà Đồ. Đây chính là bí mật của việc tu thân nội cầu mà có được Hà Đồ Lạc Thư, cũng là một trạng thái tu thân của thiên nhân hợp nhất.