KỲ MÔN MINH PHÁP HỐI HIỆU BẢN (HAI)

KỲ MÔN MINH PHÁP HỐI HIỆU BẢN (HAI)

 

Chương 2: Giải thích bí mật về bốn cung Chủ Khách mở đầu

Muốn biết trước, phải hiểu lời mở đầu,
Xem Thiên bàn, Thời Can ẩn chứa.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Muốn biết nên nói điều gì đầu tiên, bước đầu tiên là xem Thời Can trên Thiên bàn.

Thời Can chính là thần chủ tể,
Cách cục cát hung quyết định tốt xấu.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Thời Can là chủ tể của toàn bộ quẻ cục, tất cả các ứng dụng của cách cục đều xem từ cung lạc của Thời Can. Cách cục ở đây không phải là những cách như "Thanh Long phản thủ" mà chúng ta thường nói, mà là những cách cục đặc hữu trong cuốn sách này.

Cát thì cát, hung thì hung,
Tiến thoái tồn vong hé lộ trong gang tấc.
Thời Can là chủ tể của một thời, cương lĩnh của một quẻ, họa hay phúc của việc, thành hay bại của sự, đều hiện ra phía trước, có thể tiến có thể thoái, nên còn nên mất, không gì không rõ ràng trước mắt. Cùng với Thiên Ất, Thái Ất, Địa Ất sinh khắc lẫn nhau, và so sánh với Dụng thần, niên mệnh, thì lý do đầu cuối, nghiệm chứng tốt xấu, đều ở cả đây.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Cách cục cát thì nói cát, hung thì nói hung, nên tiến hay nên thoái, đều được hé lộ trong cách cục của Thời Can.
Lý Khai Nguyên chú: Thời Can là khởi đầu của cơ mật Thiên bàn, cho nên là cương lĩnh của một số (quẻ cục).

Tiếp theo mới xét kỹ cung Thiên Ất,
Sự việc ứng với thời là khởi đầu.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Bước thứ hai là xem cung lạc của Thiên Ất. Thiên Ất trên thị trường đều là tự mình suy diễn, thực tế Thiên Ất chính là Trực Phù trên Thiên bàn. Ý nghĩa của Thiên Ất là nguyên nhân khởi phát của một sự việc, giống như Sơ truyền trong Lục Nhâm.

Thái Ất (Nhân bàn) là ứng với việc đang diễn ra,
Cát hung trong nhà dùng để xét chi tiết.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Thái Ất, ý nghĩa của nó là giai đoạn giữa của sự việc, tương tự như Trung truyền trong Lục Nhâm. Mà từ "Thái Ất" là một từ mới được đề xuất ở đây, thực chất nó chính là Trực Sử mà chúng ta vẫn gọi.

Địa bàn Địa Ất là lý do cuối,
Việc chủ quản là kết quả cuối cùng.
Thiên Ất là Trực Phù trên Thiên bàn, chủ về ứng nghiệm ban đầu của việc; Thái Ất là Trực Sử trên Nhân bàn, chủ về ứng nghiệm giữa của việc, và vẻ đẹp xấu trong nhà; Địa Ất là Trực Phù trên Địa bàn, chủ về ứng nghiệm cuối của việc. Đều dựa vào cách cục cát hung của các cung đó mà luận, và tham hợp với Thời Can, niên mệnh, Dụng thần sinh khắc để quyết định.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Trực Phù trên Địa bàn chính là Địa Ất, ý nghĩa nó đại diện là kết quả của sự việc, tương tự như Mạt truyền của Lục Nhâm. Do đó có thể thấy, cái gọi là "Độn Giáp xuyên Nhâm" trên thị trường chỉ là việc thêm thắt thần sát một cách vô ích mà thôi. Dĩ nhiên, đây chỉ là cách xem Tam truyền, còn phương pháp thêm thần tướng và "xuyên Nhâm" là phải thể hiện qua "Phi chi" trong quẻ cục. Ở đây không nói, tôi sẽ không giảng giải. Các bạn có thể tham khảo cách sắp xếp thần sát trong "Phi chi" ở chương 1, để suy xét phương pháp "Độn Giáp xuyên Nhâm" trong cuốn sách này.
Lý Khai Nguyên chú: Độn Giáp Tam Ất quyết, xác định trạng thái trước sau, không có cái này thì không thể xem xét.

Bốn cung đã định, suy ra niên mệnh,
Chỗ dùng Dụng thần cần tham gia hòa hợp.
Bốn cung là: cung Thời Can trên Thiên bàn, cung Thiên Ất, cung Thái Ất, cung Địa Ất. Niên mệnh là cung niên mệnh của bản thân. Ví dụ người sinh năm Mậu, thì xem cung Mậu Tý trên Thiên bàn, người sinh năm Giáp cũng vậy. Dụng thần là việc cầu mưu, dùng cung Thời Can và cung niên mệnh sinh khắc để quyết định. Những cái khác cũng suy ra tương tự.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Thời Can, Thiên Ất, Thái Ất, Địa Ất bốn cung gọi là bốn cung mở đầu Chủ Khách. Sau khi xem xong bốn cung này, còn phải xem cung của niên mệnh, xem mối quan hệ giữa bốn cung này với cung niên mệnh, và tham xét mối quan hệ với cung Dụng thần.

Giả như người đến hỏi mưu cầu,
Thời Can và niên mệnh quyết định thịnh suy.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Giả như người đến hỏi việc mưu cầu thành hay không, chỉ cần xem mối quan hệ sinh khắc giữa Thời Can và niên mệnh để xác định là được.

Niên (năm) khắc niên mệnh thì trong năm hung,
Nguyệt (tháng) khắc niên mệnh thì trong tháng hung.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Can của năm hiện tại khắc niên mệnh của người đến, thì trong năm đó người đó sẽ không thuận. Nếu can của tháng hiện tại khắc niên mệnh, thì trong tháng đó sẽ không thuận.

Nhật (ngày) sinh niên mệnh thì trong ngày xướng,
Thời (giờ) sinh niên mệnh thì trong giờ đẹp.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Câu này ngược lại với câu trên, nói về trường hợp sinh.

Bốn thiên can năm, tháng, ngày, giờ,
Kỳ nghi trên Thiên bàn là chín cung chỉ.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Đây là nói rằng bốn thiên can năm, tháng, ngày, giờ cần xem là thiên can trên Thiên bàn, chẳng giống như có người trong chăn của mình, muốn xem thiên can trên Địa bàn, mà dám ra ngoài dạy, tự xưng là họ Quách gì đó. Hỏi ông ta nguyên nhân, ông ta nói với tôi là người đến ngồi hỏi việc, nếu đi lại hỏi việc thì xem Thiên bàn. Buồn cười thay!

So sánh với sinh khắc của niên mệnh,
Cát hung họa phúc có thể mở miệng nói.
Chiêm nghiệm vận trình năm, tháng, ngày, giờ, đều xem xét bốn cung của bốn can này, và với cung niên mệnh sinh khắc để quyết định.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Đem bốn thiên can so sánh với niên mệnh xem sinh khắc, thì phúc hay họa, cát hay hung có thể biết được.

Nếu luận sinh khắc giữa kẻ bị khắc,
Tổng thể lấy sinh ta làm cát.
Ta nếu khắc nó cũng cần xét,
Nó đến khắc ta rốt cuộc chẳng vui.
Bất kể việc gì, tổng thể lấy nó sinh ta là cát. Nếu nó đến khắc ta, cần xem xét việc đang hỏi, nếu ta đi cầu văn thư tài vật của nó, tuy thuộc về khắc ta, chủ việc ta đạt được sẽ rất nhanh, thì cũng không gọi là hung. Nếu không phải loại này, lại gặp cách hung, thì cái hại ắt rất nhanh. Còn ta khắc nó, cũng xem xét việc đang hỏi, nếu người đó đến cầu tài cầu vật với ta, mà ta tuy khắc nó, chẳng khỏi là tài vật của người khác; nếu không phải loại này, lại được cách cát, thì cát có thể nói được. Còn ta đi sinh nó, trong đó ắt là hao tổn thần khí của ta, ta khó được điều lành, thì không thể không cẩn thận. Người học quyết đoán như thế, thì không gì là không chính xác.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Vậy tình huống nào là cát hung? Thực ra sinh ta (niên mệnh) chính là cát. Nếu ta khắc nó (dụng thần hoặc bốn thiên can) thì sao? Việc này cần xem người đến hỏi việc gì, rồi phán đoán cụ thể. Nhưng ta sinh nó thì là không tốt, bởi vì điều này đang tiêu hao thể lực của ta, nên được xếp vào phạm trù không cát.

Dùng chủ dùng khách không phải như thế,
Địa bàn Địa Ất là chủ coi sóc.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Khi phán đoán chủ khách thì không xem như vậy, Trực Phù trên Địa bàn chính là chủ.

Thiên bàn Trực Phù tên gọi Thiên Ất,
Chín cung lấy đó làm nền tảng cho khách.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Trực Phù trên Thiên bàn chính là khách.

Trung nhân (người ở giữa) đều đến xem Thái Ất,
Sinh khắc giữa chủ khách nghiệm chứng tốt xấu.
Lấy Trực Phù trên Địa bàn làm chủ, lấy Trực Phù trên Thiên bàn làm khách, lấy Trực Sử trên Nhân bàn làm trung nhân. Xem xét sinh khắc giữa chủ khách, khảo xét tính chính lệch của trung nhân, sáng suốt hội ngộ, tự có thể rõ ràng trong lòng, lúc mở miệng đoán thì không gì là không thấy ngay hiệu quả.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Còn nhân hòa thì xem Trực Sử, xem nhân hòa có lợi cho ta không.

Tốt xấu định từ Thiên bàn Thời Can,
Chủ khách phân minh hư cùng thực.
Thời Can sinh Địa bàn Phù thì lợi cho quân chủ,
Thời Can sinh Thiên bàn Phù thì lợi cho quân khách.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Thời Can sinh Trực Phù Địa bàn thì có lợi cho làm chủ, Thời Can sinh Trực Phù Thiên bàn thì có lợi cho làm khách.

Nếu như Trực Sử được Thời Can sinh,
Lòng người trung nhân tự nhiên yên ổn.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Trong hai quân đối đầu, lòng người hướng về, thì xem mối quan hệ giữa Trực Sử và Thời Can.

Hoặc chủ khách cùng được sinh,
Cát hung hai bên về một mối.
Khắc khách, khắc trộm (cướp) thì khách chẳng nên,
Khắc trộm (cướp) chủ, khắc chủ thì chủ có mất.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Khách khắc Thời Can và Thời Can khắc khách đều không lợi cho khách. Tình huống tương tự ở chủ, thì chủ sẽ có tổn thất.

Chủ khách nếu đều khắc Thời Can,
Việc này rối ren không đầu mối.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Nếu chủ và khách đều khắc Thời Can, thì việc đó chẳng có đầu mối gì.

Chủ khắc Thời Can thì chủ không tình,
Khách khắc Thời Can thì khách cử động trước.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Nếu chủ khắc Thời Can, nói rõ chủ không nên cử động trước; khách khắc Thời Can, nói rõ khách nên phát động.

Thái Ất hoặc đến khắc Thời Can,
Trung nhân thị phi không chắc chắn.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Nếu Thái Ất đến khắc Thời Can, thì lòng người không có chủ kiến đứng về bên nào.

Đến niên mệnh của họ và Dụng thần,
Với Thời Can sinh khắc cũng lời này.
Chủ khách tuy đã định, nhưng cung Thời Can vẫn là quan trọng nhất. Tuy nhiên, Thời Can sinh khắc, khắc trộm (cướp), tiết hao niên mệnh, Thái Ất, chủ khách, Dụng thần, và bị niên mệnh, Thái Ất, chủ khách, Dụng thần khắc trộm (cướp), tiết hao sinh khắc, thì không thể không từng cái một xem xét kỹ.
Phàm Thời Can, là chủ tể của một quẻ, cương lĩnh của vạn quẻ, chỗ ngồi của Thượng đế, vị trí của vua chúa. Cho nên dân được nó che chở thì cát, chịu nó trách phạt thì hung, được nó sinh trợ thì còn mà hưng, bị nó khắc cướp thì mất mà bại. Bởi vậy Thời Can chế ta gọi là trời nghịch người, ta chế Thời Can gọi là người nghịch trời. Trời nghịch người, thì ta giữ lòng thành sửa lỗi, còn có thể; người nghịch trời, há có thể được ư? Cái sức người thắng trời, không có đức thì không thể đứng vững, như chẳng tu đức, mà ta cứ dùng mưu cơ khéo léo cướp lấy tạo hóa, trời há có thể dung được ư! Xin hãy bảo người chiêm nghiệm, phải coi Thời Can là chủ, thì việc có thể hay không, ắt sáng tỏ mà xác định. Nếu tự phụ tài năng mà trái với lẽ trời, thì chẳng gặp lỗi lầm, tôi không tin vậy.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Dùng trên niên mệnh và Dụng thần, thì về cơ bản phán đoán nhất quán với chủ khách.
Lý Khai Nguyên chú: Trong Kỳ Môn, đặc biệt chủ khách là quan trọng nhất. Khẩu quyết về chủ khách này cần phải xem xét kỹ lưỡng.

Thời (giờ) gặp Thiên Bồng chớ hỏi tình,
Trộm cướp nổi lên, thích xây thành.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Nếu Cửu Tinh dẫn đầu của Thời Can là sao Thiên Bồng, nói rõ sẽ có việc trộm cướp xảy ra.

Thiên Nhuế chủ nhiều kẻ gian thần nổi,
Sương mù mờ trời, thích giấu binh.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Nếu Thời Can dẫn đầu sao Thiên Nhuế, sẽ có sương mù lớn, lúc này mai phục binh lính sẽ có lợi.

Sấm sét rung động ở cung Thiên Xung,
Đầu quân, rửa oan, có quyền hành.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Nếu là sao Thiên Xung, thì nên dùng chiến thuật đánh nhanh để đánh bại kẻ địch.

Hỏi đạo, khởi binh và tu tạo,
Sao Phụ chủ quản, gió Tốn reo vang.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Nếu là sao Thiên Phụ, thì việc đi tìm thầy hỏi đạo hoặc tu tạo là có lợi.

Tế lễ Hoàng Thiên và chôn cất,
Thiên Cầm chiến thắng, mặc sức tung hoành.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Nếu là sao Thiên Cầm, thì thích hợp tế lễ và hạ táng.

Viết phù, hợp thuốc, cầu thần thánh,
Tuyết bụi bay đến, lòng có tiếng vang.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Nếu là sao Thiên Tâm, thì nên viết bùa cầu thuốc.

Nếu như trời âm, mưa nhỏ giọt,
Mưu kế cố thủ ở bên cạnh quân Trụ.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Nếu là sao Thiên Trụ, thì trời sẽ âm u mưa nhỏ, dùng để mưu kế cố thủ doanh trại.

Mây mọc, hơi thở khi gặp Thiên Nhậm,
Yết quỷ, tế thần, chỗ này tinh.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Sao Thiên Nhậm, thích hợp giải hạn gặp quỷ, lại nhiều mây.

Nhóm lửa hỏi nắng và hiến kế,
Hạn hán gay gắt suy ở Thiên Anh.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Sao Thiên Anh, thì thích hợp trời nắng hoặc hiến kế.

Lý Khai Nguyên chú: Chín sao xem ứng nghiệm thời tiết, lấy Cửu Tinh mà Thời Can đạt được mà xác định.

Chín sao trên đây là ứng nghiệm lúc gặp thời (Thời Can), để chủ về việc thời tiết.

Cửu Thiên gặp thời thì tốt ra quân,
Cửu Địa tiềm tàng có thể lập doanh.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Đoạn này nói về Cửu Thần. Lúc Cửu Thiên thì nên ra quân, lúc Cửu Địa thì nên ẩn náu đóng trại. Cần nhớ ở đây đều nói là Cửu Thần của Thời Can, đừng bắt cung nào rồi áp vào.

Phục binh thì phải xét đất Thái Âm,
Lục Hợp giao đến lợi cho giấu tên.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Mai phục binh lính dùng Thái Âm, Lục Hợp lợi cho việc ẩn danh.

Lúc Chu Tước thì phải điều thuyết (hòa giải),
Hỏa công, Đằng Xà thích ma quỷ.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Gặp Chu Tước có thể tiến hành hòa giải, Đằng Xà thì dùng cho hỏa công.

Câu Trần quyết định sai người bắt,
Bạch Hổ giao phong, chết đánh nhau.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Câu Trần có thể sai người bắt giữ thủ lĩnh, Bạch Hổ thì phải liều chết chiến đấu.

Huyền Vũ gặp thì đi cướp trại,
Thái Thường dùng rượu mê bọn lâu la.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Thời Can Huyền Vũ thì phải lén đi cướp doanh trại địch, gặp Thái Thường thì có thể dùng rượu thức ăn để mê hoặc kẻ địch.

Trực Phù quý nhất, chiêu an tốt,
Đây là ca vận dụng Cửu Thần.
Tống Kỳ Hồng bình chú: Nếu là Trực Phù, thì bạn có thể dùng để chiêu an.

Lý Khai Nguyên chú: Cửu Thần xem địa lý cát hung, lấy phương vị của Thời Can xác định.
Chín thần chuyên về địa lý, cho nên nhà binh coi trọng nó, để khắc Thời Can lúc gặp thời.

Tống Kỳ Hồng bình chú: Các loại khắc ứng cũng là những gì chỉ thấy văn mà không biết cách dùng, cái gọi là bí pháp. Ở đây nói rất rõ ràng, xem cung lạc của Thời Can bên trong cửa gặp phải khắc ứng gì.

Can (Thời Can) gặp Khai Môn phân biệt quan hợp,
Cầu danh ứng thí định đỗ khoa.
返本還无 chú: Rơi vào Khai Môn thì có thể xác định là cầu danh thi cử.

Hưu Môn là vui vẻ, hợp việc đẹp,
Sinh Môn làm ruộng, chữa bệnh lành.
Thương Môn thích săn bắt và đòi nợ,
Đỗ Môn tốt ẩn nấp và che chắn.
Phá trận, đầu thư cần xét Cảnh Môn,
Hành hình, chết chóc qua nhà tang.
Kinh Môn có thể kiện tụng, hành lừa dối,
Trung Ngũ không cửa, nên giữ ổ.
Tám cửa, chín đường (cung), xét ở Thời Can,
Họa phúc ưu vu, làm sao được?
Tám cửa chủ về việc người, khắc ứng gặp lúc Thời Can thì ưu vu có thể biết được.
Lý Khai Nguyên chú: Tám cửa chủ về việc người, cũng lấy cửa mà Thời Can lâm vào để xác định. Như vậy ba tài (Thiên, Địa, Nhân) đã đủ, chuyên tâm suy đoán, lâu ngày ắt có linh cơ.

 

Các bài liên quan: