NHẬN THỨC VỀ KỲ MÔN XUYÊN NHÂM SAU NHIỀU NĂM HỌC TẬP

NHẬN THỨC VỀ KỲ MÔN XUYÊN NHÂM SAU NHIỀU NĂM HỌC TẬP

Học Kỳ Môn nhiều năm, thực sự đã giúp tôi hiểu được một đạo lý: "Người học đạo thì ngày càng thêm, người hành đạo thì ngày càng bớt". Học rất nhiều, nhưng cùng với sự hiểu biết ngày càng sâu sắc, tôi cảm thấy càng ngày càng phải bỏ bớt những phương pháp đoán phức tạp. Có lẽ điều này đúng với bản chất Kỳ Môn là của Đạo gia. Cách đoán quẻ của tôi ngày càng trở nên đơn giản, xem bàn cũng nhanh và gọn nhẹ. Nói thật, sự nhận thức về tính giản dị này quả thực có được không dễ dàng.

Trong nhóm "Ngũ thuật thiên địa", thường có người đưa bàn sử dụng "Kỳ Môn xuyên Nhâm". Thực chất chỉ là một dạng giản lược của sự hợp nhất giữa Nhâm và Độn. Nhưng cũng giống như phương pháp đoán của Lục Nhâm truyền thống, Kỳ Môn xuyên Nhâm lấy Kỳ Môn làm thể, Lục Nhâm làm dụng; Kỳ Môn làm chủ đạo, Lục Nhâm làm phụ trợ. Lục Nhâm mang ý nghĩa dẫn dắt, xúc tác và khẳng định, nó thêm một chiếc ống nhòm cho phương pháp đoán của Kỳ Môn.

Khác với Lục Nhâm truyền thống, cái "Nhâm" trong Kỳ Môn xuyên Nhâm không coi "Tứ khóa, tam truyền" là phương pháp duy nhất và tuyệt đối. Nó có thể hình thành một hệ thống độc lập, có thể kết hợp với từng cung riêng lẻ để luận bàn mối quan hệ. Trong đó, thần sát của Lục Nhâm càng là trọng tâm. Dĩ nhiên, quan hệ lục thân vẫn cần xem xét, nhưng có cảm giác hơi giống bóng dáng của "Kim khẩu quyết". Có lẽ đây chính là thứ mà trong sách Kim Hàm Ngọc Kính có người cho rằng mình đã phát hiện ra yếu tố Kim Khẩu trong Kỳ Môn.

Nếu sự việc không rõ ràng, thì bắt buộc phải xem đến cách dùng của Tứ khóa và Tam truyền. Tất nhiên, điều đó liên quan đến tầng sâu hơn của phương pháp. Bản thân Kỳ Môn đã có lượng thông tin rất lớn, còn Kỳ Môn xuyên Nhâm có lẽ đã nâng lượng thông tin lên ít nhất gấp đôi. Kỳ Môn chủ về công, mang nhiều tính linh hoạt, có công năng "tiên phát chế nhân" (ra tay trước chế người), tượng của nó san sát, muôn việc đều có thể, tựa như một "biến hình kim cương". Lục Nhâm chủ về thủ, lấy tĩnh chế động, lấy bất biến ứng vạn biến, pháp thân vô tượng, ứng vật hiện hình, có cái diệu của "đẩu chuyển tinh di". Hai bên một công một thủ, một động một tĩnh, chọn chỗ mạnh tránh chỗ yếu, bổ trợ lẫn nhau. Đó là niềm vui của Dịch đạo, là may mắn của Tam thức.

Thực ra, tinh thông một môn là quan trọng nhất. Kỳ Môn thuần thục, Lục Nhâm thuần thục, rồi mới hợp hai làm một, thì mới gọi là Kỳ Môn xuyên Nhâm. Bằng không, chỉ có cái bàn suông, không được cái pháp, dùng thì ích gì? Hay hay dở của Kỳ Môn xuyên Nhâm nằm ở chỗ người học Dịch cắt gọt cho phù hợp. Yêu cầu về năng lực phân tích và tổ hợp thông tin của người học Dịch là rất cao. Có thể nói thế này: dùng tốt thì cả một vùng rực rỡ, dùng không tốt thì hỗn độn nhằng nhịt.

Vì nó có tên gọi là "Kỳ Môn xuyên Nhâm", tôi nghĩ người xưa không đặt tên bừa. Bằng không, họ có thể gọi là "Lục Nhâm xuyên Kỳ" – nói vui thôi. Thực ra, tâm pháp lớn nhất của Kỳ Môn xuyên Nhâm là đồng hóa nguyệt tướng và quý thần của Lục Nhâm với sao, cửa, thần, nghi của Kỳ Môn, cùng nhau dùng làm ký hiệu của Kỳ Môn. Dùng Lục Nhâm nhưng không câu nệ vào Lục Nhâm, bắt chước Kỳ Môn nhưng không hoàn toàn phục tùng Kỳ Môn. Tách ra thì mỗi bên tự làm một doanh trại, hợp lại thì hóa thành một thể. Quan sát thì dò xét nơi sâu xa, dùng thì không phương không thể.

Hãy học tập cơ bản một cách vững chắc, sử dụng Lục Nhâm thuần thục rồi mới có thể bàn đến Kỳ Môn xuyên Nhâm.

Nếu không hiểu những điều trên đây, mà muốn dùng Kỳ Môn xuyên Nhâm một cách bừa bãi, thì chẳng khác nào vẽ hổ không thành lại ra giống chó vậy.

 

Các bài liên quan: