KỲ MÔN ĐẠI THÀNH TÂM TRUYỀN

KỲ MÔN ĐẠI THÀNH TÂM TRUYỀN
Tác giả: Hoàng Mộng Đẩu, người Mân Trung (Phúc Kiến)

 

GIẢI KỲ MÔN ĐỘN GIÁP

Ta nghe Hồ Thiên Đạo Nhân nói rằng: Giáp bản thuộc Mộc, ưa thích được thổ bồi đắp, sợ bị kim khắc phạt. Bởi vậy cung khởi đầu của Kỳ Môn được đặt tên là Lục Mậu đi theo. Giáp nghịch thì Mậu cũng nghịch, Giáp thuận thì Mậu cũng thuận, nghịch thuận theo nhau, ẩn độn. Chỉ vì sợ Kim cho nên lấy em gái là Ất gả cho Canh, khiến cho vợ chồng gần gũi mà không làm hại ta. Vả lại Bính, Đinh lại là con trai, con gái của Giáp, đều thuộc thần, đều có thể khắc Kim. Bên trong có con trai con gái che chở, bên ngoài có em gái Ất hòa giải, thì hình thể của Giáp Mộc được che chở, gốc rễ vững chắc, không hề bị xâm phạm. Đó là lý do Kỳ Môn dùng thuật Độn đầu. Giáp là đầu của mười thiên can, Mậu là đầu của Lục Nghi, Ất là đầu của Tam Kỳ. Nghi và Kỳ che chở cho nhau, Giáp Mộc càng thêm an ổn. Nhà binh xem xét cẩn thận, giữ vững trọng trách, tiến lui biết thời cơ, vạn toàn thủ thắng, cũng giống như vậy. Phép Độn Giáp há chẳng phải hợp lý hay sao?

Thuật này bắt đầu từ Hoàng Đế, tạo ra bởi Phong Hậu, kế tục bởi Lã Vọng, Tử Phòng, Vũ Hầu, Quách Tử Nghi, thể dụng càng thêm thần diệu. Đến đời Tống, Bình chương Triệu Công làm bài ca Yên Ba Điếu Tẩu để giải thích ý chỉ. Đầu đời Nguyên có Lưu Thái Bảo, đầu đời Minh có Thành Ý bá Lưu Bá Ôn. Thành Ý bá truyền cho Trình Công Tế người Mân (Phúc Kiến) của ta, Công Tế truyền cho Hồ Thiên Đạo Nhân, Hồ Thiên Đạo Nhân giấu sách trong động đá Vũ Di. Ta có được, may gặp thời thịnh trị, tuyệt khẩu không nói. Nay đã chín mươi ba tuổi, tuổi đã già rồi, mang dáng hươu, lòng nghĩ đến hạc, sẽ đi về cõi thế mờ mịt, đâu còn rảnh rang chốn trần tục. Nhưng nếu truyền không đúng người thì bị trời phạt, nếu được người mà không truyền thì giấu của báu trời, tội lỗi đều như nhau. Hợp Phố ngọc về, Việt Thành kiếm ra, người đã đến rồi. Ta còn nói gì nữa, bèn kể lại những điều được truyền, gắng gượng viết thành chín thiên. Một chữ một hạt châu, thấm từng giọt tủy, mây mù ngàn xưa, nay vạch ra để dùng lớn, ấy là lân phượng thời thịnh, trụ cột của hoàng gia, dùng dao mổ trâu chẳng lo nó gãy mà chỉ lo nó nhỏ.

Niên hiệu Giáp Thân, cụ già 93 tuổi Mộng Đẩu truyền.
Học trò hậu tiến Lâm Khê Sơn kính cẩn chép.

KỲ MÔN ĐẠI THÀNH TÂM TRUYỀN
Nguyên thư chín thiên

THIÊN THỨ NHẤT: TÂM TRUYỀN TỔNG TỰ

Từ một nét vẽ của Phục Hy khởi đầu, mà tượng Càn mới rõ, từ lưỡng nghi phân, tứ tượng hiện, một trật tự phân chia. Vả trên là gió mây sấm chớp, dưới là núi sông sông lớn, cùng với chiến thắng công thành, được mất việc người, chẳng gì không ở đó. Xem xét kỹ công dụng của nó, thì chẳng ra ngoài ngũ hành sinh khắc. Tinh thông lý sinh khắc thì lục nhâm, suy ra thì kỳ môn vậy.

Quyền của Lục Nhâm do Nguyệt Tướng chủ trì, yếu của Kỳ Môn do Phù Đầu thống lĩnh. Nguyệt Tướng lấy qua cung làm chuẩn, Phù Đầu lấy siêu tiếp làm chuẩn, không biết siêu tiếp thì không rõ khởi cục. Đã biết siêu tiếp mà không biết cái nghĩa của siêu, của tiếp, chẳng khác nào người điếc với đàn, kẻ mù với trò chơi vậy! Lý âm dương bắt đầu từ Tý Ngọ, cuộc thuận nghịch phân biệt ở Khảm Ly, lý dễ hiểu, nhưng mười giờ hết thì phép biến, trải qua ba mươi sáu năm mà âm đổi thành dương, sáu Quý hết thì số dừng, qua bảy mươi hai lần thì dương lại thành âm, làm cho khí trời đất rối loạn và tiết hậu lưu chuyển cũng trở lại đảo ngược mà không thể khảo sát. Thánh nhân vì thế đặt ra phép để thông cái biến, năm có tháng nhuận để giúp cái cùng của đạo trời, số có nhuận Kỳ để đặt ra lệ dùng cục. Phép lấy Nhị Chí giao Trọng Thần làm Thượng nguyên chính thụ là vậy. Từng tiết dời đổi, hoặc bớt hoặc thêm. Tiết khí chưa đến mà Phù Đầu đến trước gọi là "Siêu". Tiết khí đã đến mà Phù Đầu chưa đến gọi là "Tiếp". "Siêu" bắt đầu từ một ngày, đến mười một ngày thì dừng, gặp chín ngày thì thi lại. "Tiếp" bắt đầu từ sáu ngày, đến bốn ngày là độ, số đủ thì về chính. Siêu dần tăng, tiếp dần giảm, xoay vần tổng quy về Tứ Trọng, nhưng siêu có thế tự nhiên mà đến, đó là hóa công; tiếp có nghĩa gắng gượng mà đạt được, đó là nhân công. Hóa công cùng thì nhân công hiện, đó là định thức ở Văn chi Lục, Vũ chi Tứ, cớ sao? Số dương hết ở Tỵ, số âm hết ở Hợi. Đặt nhuận chẳng có gì nghi ngờ.

Đặt nhuận nhất định phải trải qua ba mươi sáu tháng, qua mười tám Giáp Tý, dùng siêu dùng tiếp để phối với mười tám cuộc của Tử Phòng. Trải qua bảy mươi hai khí để phối với bảy mươi hai cuộc của Thái Công. Dùng bốn nghìn ba trăm hai mươi giờ để phối với bốn nghìn ba trăm hai mươi cuộc của Hoàng Đế. Nhỏ thành nhỏ, lớn thành lớn, và Nhật Kỳ có thể suy ra tương tự. Giờ là nhuận nhỏ, ngày là nhuận lớn. Nhuận nhỏ trải qua ba năm, nhuận lớn dùng mười hai năm. Nhuận nhỏ siêu chín ngày, nhuận lớn siêu ba mươi sáu ngày làm quy. Thời Kỳ lấy Ngũ Tử độn làm Phù Đầu, Nhật Kỳ lấy độn tuần làm Phù Đầu. Thời Kỳ đặt nhuận đầy một khí, Nhật Kỳ đặt nhuận tròn một Giáp. Thời Kỳ khởi lệ theo Mãng Chủng, Đại Tuyết mà thi lại. Nhật Kỳ khởi quy theo Cốc Vũ, Sương Giáng mà bày lại. Biết nghĩa và biết hậu, thì phép đặt nhuận lớn nhỏ rõ ràng. Đặt một nhuận lớn nhất định phải trải qua hai mươi bốn kỳ (tiết khí), để phối với hai mươi bốn khí. Trải qua bảy mươi hai Giáp Tý vẫn phối với bảy mươi hai cuộc. Dùng bốn nghìn ba trăm hai mươi ngày vẫn phối với bốn nghìn ba trăm hai mươi cuộc ngày. Phàm nhuận nhỏ bốn lần, thấy nhuận lớn một lần, thì sự phối hợp ngày giờ càng rõ. Đặt nhuận được chân truyền, vận cục mới có sự trao truyền chính xác.

Phù là trời, Sử là đất; Phù là vua, Sử là bề tôi; Phù là thân, Sử là nhà. Rồi từ đó phân trái phải, từ đó định trước sau, từ đó phân biệt trong ngoài.

Phù bị khắc thì tai họa ở vua quan, Sử bị khắc thì tai họa ở bề tôi. Nếu Phù tốt mà Sử xấu thì đạo trời ở trên mà phong cấm ... cho nên. Phù xấu mà Sử tốt thì vua chịu tai ương mà đất đai không sợ. Nếu có khắc mà chưa chắc ứng, thì sự suy vượng của chủ lưu không thể không biết (chủ tinh, lưu tinh, chủ cung, lưu cung). Không có khắc mà chưa chắc không ứng, thì hình thương của Canh Tân không thể không phân biệt. Do đó mà thần minh, mở rộng ra, việc người được lý, loài vật thông tình, nạp âm phân biệt số mục, phân dã phán đoán tinh vi, dùng loại thần thì bay lặn phân biệt trên dưới, xét sao xấu thì khắc ứng tùy theo chi can. Nhưng đây mới chỉ là suy đoán mà nói.

Dâng chương nên ở Cảnh, đánh trận lợi ở Sinh Môn. Bính Hỏa khắc Kim tinh mà múa qua thẳng lên trời. Ngọc Nữ giữ cửa phòng mà âm tư quý ở dưới đất. La Võng bốn chăng, ta ra thì không thể, địch đến thì bị bắt. Đẩu Cương chỉ hướng, nghịch thì không lợi, cưỡi thì đại thắng. Cho đến tích trữ ở Thiên Đình, phán đoán ở Thiên Ngục. Đại soái ra vào Thiên Môn, tiểu tướng quanh quẩn Địa Hộ. Đường tránh nạn đều hết ở đây, nhưng công năng vãn hồi tạo hóa thì chưa kịp.

Vào quan được tước lợi Thiên Độn, trừ quỷ đuổi tà nên Thần Độn. Hô to thì mưa ngọt khắp nơi quý ở Long Độn. Chỉ huy thì cát đá oai phong quý ở Phong Độn. Xuyên sơn đục đất, Địa Độn không thể không bàn. Treo cổ hành hình, Quỷ Độn không thể không xét. Đốt đèn bảy bảy mà dậy bệnh nặng, đào phù ba tấc mà họa bay bất trắc. Vận sầu xướng bố, mười ngày lao nhọc, cởi áo bước cương, trăm vạn quân ở đâu. Đến khi Thủy Hỏa ký tế, thuật ve sầu lò đan ở đây thấy. Khảm Ly giao cấu, phép thăng giáng huyền tẫn ở đây rõ. Hoàng Đế cưỡi Xích Long mà bay xa, Tử Phòng theo Xích Tùng ngao du. Hoặc lập công, hoặc phá địch, hoặc sai khiến thần, hoặc bắt tướng, hoặc biết soi ngàn xưa, hoặc tên ghi sổ tiên. Năng lực của Kỳ Môn đã hết.

Người biết số thì không nói, người nói số thì không biết. Ta chỉ tự cho mình là người nói đó thôi, dám đem một điều hiểu biết ra để dùng cho những người cùng chí hướng.

THIÊN THỨ HAI: PHÉP ĐẶT NHUẬN

Ngày Tân Mùi, 26 tháng 5, năm Khang Hy Nhâm Tý (năm thứ 11), là tiết Hạ chí. Theo Kỳ Môn tính toán, ngày 19 tháng 5 (Giáp Tý) đã giao Hạ chí, đến ngày 26 tháng 5 là siêu 8 ngày, nhưng mới chỉ siêu 8 ngày, chưa đến 9 ngày, không thể đặt nhuận. Đặt nhuận thì sẽ sai lầm nghiêm trọng, tóm lại dùng siêu cục. Cứ thế suy bố, đến ngày Giáp Tuất mùng 3 tháng 11, ấy là Đông chí. Theo Kỳ Môn tính toán, từ ngày Giáp Tý 23 tháng 10 đẩy đến mùng 3 tháng 11, Giáp Tý đã siêu quá 11 ngày, không dám siêu nữa, nên lập tức đặt nhuận. Liền lấy ngày Giáp Tý 23 tháng 10 làm nhuận Kỳ, bố lại Đại Tuyết thượng cục, ngày 28 bố lại Đại Tuyết trung cục, ngày mùng 3 tháng 11 (Giáp Tuất) bố lại Đại Tuyết hạ cục. Sau đó đến ngày mùng 8 (Kỷ Mão) mới bắt đầu bố Đông chí dương độn thượng cục. Nhưng ngày mùng 3 Giáp Tuất đã giao Đông chí, đến ngày mùng 8 Kỷ Mão Phù Đầu mới đến, mới bắt đầu bố Dương độn nhất cục. Đây là diệu quyết của nhuận hậu dụng tiếp, tiếp hậu phùng chính, chính hậu lại siêu. "Siêu" không quá 9 ngày, 11 ngày; "Tiếp" không quá 6 ngày, 5 ngày, 4 ngày. Ý nghĩa của nó có thể tĩnh hội, còn lại có thể suy ra tương tự.

THIÊN THỨ BA: TÂM TRUYỀN

Kỳ Môn đã xem Phù và Sử, lại nên xem bàn địa bàn của bản cung. Đây chính là tam tài (trời, đất, người) thiếu một cũng không được, cũng giống như Lục Nhâm có tam truyền. Ví như một cục, Hưu Môn đến Ly, Cảnh liền đến Khảm, bản cung bản môn đều là Thủy khắc Hỏa, đi hay ngồi đều chủ được tài. Làm sao có thể không xem bản cung? Ví dụ cầu tài, chủ môn bị khắc, chủ cung lại là khắc nó, thì ra cửa cầu tài không bằng ở nhà lợi. Hỏi chủ cung đã bị khắc, mà chủ tinh lại là khắc nó, thì chủ trong cái mất có cái được. Ví dụ cung môn của cả đời bị khắc mà chủ tinh không bị khắc, thì bốn bức tường tiêu điều, nhưng người đó ắt có thể trong cảnh khốn cùng mà đạt được. Nếu cung bị khắc, chủ không có ruộng đất tổ tiên để lại; môn bị khắc, chủ không có của cải nổi, nhà cửa v.v.

Phu Kỳ Môn là sáu Giáp ẩn dưới sáu Nghi, cần biết sáu Nghi là chỗ an thân lập mệnh của sáu Giáp, cho nên Giáp Tý ẩn dưới Lục Mậu. Giả sử Mậu được lệnh mà ở cung Càn, thì người đó ắt ở triều đình tước vị hiển hách, ra vào cấm trung. Nhâm gặp xung thì bại, Nhâm là lưới, người đó ắt là người trong tù. Đụng một chút mà hiểu rộng ra, không gì không biết, thì một người đến trước mặt, ta đã thấy gan phổi họ rồi.

Hỏi sáu Giáp thế nào? Phu Canh là thần hung, sáu Giáp sợ Canh mà ẩn trong sáu Nghi, cớ sao lại vào Canh? Đây cũng là vua vào trại giặc mà bị nguy hiểm ép buộc. Hoặc gặp vượng ắt bị tai họa máu thương hình phạt, như Nhâm vượng vậy. Mà gặp xung thì thân thoát khỏi ngục tù. Tổng không thể nói hết, ở chỗ khéo léo ngộ ra. Đây là bí mật ngàn đời không truyền.

Ví như cục thứ sáu, Giáp Tý ở cung Càn, lúc này Khai Môn làm trực sử, Thiên Tâm trực phù, Lục Giáp ở Mậu, Tuất, Hợi thuộc cung Càn. Giáp Mộc sinh tại Hợi, lại Tuất là kho lửa, Mậu Thổ là quan đới lâm ở cung Tuất Hợi, lại ở lúc Mậu vượng, Giáp lại vượng (Giáp Mộc sinh Hợi, vượng Mão), Tuất với Mão hợp, cho nên gọi là vượng, thì người đó ắt bước vào cương lĩnh triều đình. Nếu Mậu ở chỗ hưu tù, bay ra bị xung (ví như Giáp Tý là Mậu Thìn, gặp Tuất bị xung), người này ắt mất chức ở dưới. Nhưng Mậu xung, Giáp không xung, thì làm thế nào để phán đoán? Ví như Khai Môn bay đến Kinh Môn, môn và Mậu xung, người này tuy mất chức, nhưng cả đời tự có quan. Đã là cả đời có quan rồi, mà Khai Môn lại bị khắc, thì ắt sẽ tiêu dao dưới rừng. Tại sao? Ta từng nói, môn là quan chức của cải, há chẳng phải cung môn Lục Nghi xâu chuỗi lại với nhau sao?

Hỏi Giáp Tý tuần không Tuất Hợi, bản cung ngồi không, làm thế nào phán đoán? Hoặc năm tháng Tuất thì có thể không không, nếu không thì ta biết ông cha họ làm quan, nếu không thì ta biết lộc vị hư hoa của họ. Bí mật thay.

THIÊN THỨ TƯ: BẢN CUNG LUẬN ĐOÁN

Chủ Tinh giống như người có tướng mạo, Bản Can giống như người có bát tự. Tinh được vượng lệnh, người đó ắt phong hậu; Can được vượng địa, mệnh đó ắt phú quý. Nhưng điều Tinh sợ, nhất là bị khắc; điều Can sợ, nhất là bị xung cũng như tử mộ.

Ví như Chủ Tinh đã được sinh, mà Bản Can hoặc vào mộ địa hoặc bị xung, thì người đó tuy tướng mạo tốt nhưng bát tự xấu, cát hung sẽ phán đoán thế nào? Lại nên xem vận đạo của nó: chỗ Thiên Bàn Bản Can lạc là vậy. Ví dụ Bản Can là Bính, lạc tại cung Càn là mộ địa, mà Bản Bính Can bay đến cung Cấn, Ly tức là gọi là vận gặp sinh vượng. Bản Can là Bính trên được Nhâm Nghi, tức là gọi là xung, mà Thiên Bàn bay đến Địa Bàn, cung Tân Ất tức là gọi là gặp vận sinh hợp. Điều này cũng giống như bát tự của người tuy xấu, nhưng đi một vận sinh vượng, cũng có thể làm nên cơ nghiệp, phát phúc. Một bàn này chỉ xem can chi của bàn trên và bàn dưới, không cần bàn luận đến sinh khắc của tinh môn. Nếu bản cung là vượng địa, mà Thiên Bàn lại bay vào mộ cung, bản can Thiên Bàn là tương hợp, mà bản can bay vào địa bàn lại là tương xung, giống như bát tự người tuy tốt, nhưng đi một vận hưu tù, cả đời không thể phát đạt. Đây là hung trung cát, cát trung hung, danh ngôn chí lý, rõ ràng không sai, cẩn thận đừng khinh xuất tiết lộ.

Lại nói: Cát hung của Bản Can tọa cung ứng ngay trong cơ hội hiện tại, cát hung của Bản Can phi cung ứng ở tương lai. Lại nói: Cát hung của cơ hội hiện tại ứng ở việc đã thành, cát hung của tương lai ứng ở cuộc biến. Lại nói: Bản Can tọa cung đã cát, mà Thiên Bàn bay vào hung cung thì việc nên gìn giữ cơ nghiệp cũ, chớ khinh suất đổi sang đồ mới, nếu đổi sang đồ mới thì hung họa lập tức đến, vì biến cuộc là hung. Bản Can tọa cung hung không cát, mà Thiên Bàn bay ra cát thì việc nên bỏ cũ theo mới, nếu câu nệ cũ, ngại thay đổi, động ắt gặp hung, họa chẳng kịp bước. Cơ trời vạch hết, bí mật thay.

THIÊN THỨ NĂM: XEM MƯA NẮNG

Xem mưa nắng thì Phù là trọng, Sử là nhẹ. Bởi Phù là nơi thiên can ký thác, còn Sử là nơi địa chi lạc. Mưa nắng là tượng trời, cho nên nên coi trọng Phù. Xem mưa nắng lâu hay chóng thì coi trọng Phù kiêm coi trọng Sử. Bởi Phù là trước, Sử là sau, nên coi trọng Sử. Tóm lại, dùng sinh khắc của tinh môn để xem đại khái, dùng xung hợp của kỳ nghi để quyết định tinh vi. Lớn nhỏ của mưa gió theo sự suy vượng, mà sự suy vượng biến hóa sống động theo chính thời.

Ví như Thủy tinh Thủy môn lạc trên Thái Tuế thì nhiều năm mưa. Hỏa tinh Hỏa môn lạc trên Thái Tuế thì nhiều năm nắng. Thủy tinh Thủy môn, Hỏa tinh Hỏa môn lạc trên Nguyệt Kiến thì mưa nắng trong tháng cũng vậy.

Gặp Long Độn thì chủ mưa, gặp Vân Độn thì chủ âm vân, gặp Phong Độn thì chủ cuồng phong, gặp Kích Hình thì chủ sấm động. Đây là nói về cách cục.

Thiên Nhâm Sinh Môn chủ mây, Thiên Xung Thương Môn chủ sấm, Thiên Phụ Đỗ Môn chủ gió, Thiên Nhuế Tử Môn chủ âm vân, Thiên Trụ Kinh Môn, Thiên Tâm Khai Môn chủ sương móc và mưa, Thiên Bồng Hưu Môn chủ mưa. Đây là nói theo quẻ thể.

Ví như Thiên Tâm sinh Hưu Môn chủ mưa, mà Khai Môn bị Ly cung khắc thì ắt ngày mưa đêm nắng. Bởi Phù thuộc thiên can chủ dương cho nên là ngày, Sử thuộc địa chi chủ âm cho nên là đêm, cho nên mưa nắng cùng xem. Nhưng đây mới chỉ phán đoán trong ngày hôm đó. Nếu xem ngày nào mưa thì số này chẳng ngày nào mưa, nếu xem ngày nào nắng thì số này chẳng ngày nào nắng. Nhưng rốt cuộc mưa vào ngày nào, thì nên xem chỗ tương sinh; rốt cuộc nắng vào ngày nào, lại nên xem chỗ tương xung.

Ví như Thiên Tâm bị Cảnh Môn khắc, Khai Môn lạc Khảm cung, ắt ngày nắng đêm mưa. Ví như Thiên Tâm sinh Hưu Môn, Khai Môn sinh Khảm cung, ắt chủ mưa lâu, mà tinh môn vượng tướng thì lâu và to. Nếu Lục Nghi thấy Nhâm, Quý, Canh thì càng chủ mưa dầm. Gặp Huyền Vũ, Thái Âm chủ mưa dai dẳng; gặp Lục Hợp, Bạch Hổ chủ mưa to gió lớn; gặp Đằng Xà chủ điện quang; gặp Cửu Thiên, Cửu Địa thì nên phán đoán theo mưa nắng của bản khóa. Bởi mặt trời, mặt trăng, mưa gió đều ở trong trời đất, khóa nắng thì ứng nắng, khóa mưa thì ứng mưa.

Nếu Thiên Bàn có Tam Kỳ đến thì ắt chủ nắng, gặp Thủy mà đang lúc nắng thì cũng ứng cả nắng và mưa cùng lúc. Kinh nói: Trong mưa có mặt trời, đêm đến thấy sao, Sử là Đinh, chính là điều này. Nhưng lại nên xem chỗ tương xung: Nếu Ất gặp Tân, Đinh gặp Quý, Bính gặp Nhâm, ấy là trên dưới tương xung, tuy có mặt trời cũng chủ không sáng, có sao trăng cũng chủ không thấy. Ngoài ra lại nên xem hóa diệu. Nếu Ất Canh hóa Kim, Bính Tân hóa Thủy, Đinh Nhâm hóa Mộc, Mậu Quý hóa Hỏa, tuy nhật nguyệt tinh tượng sáng rõ gia lâm, tương lai ắt chủ mưa nắng thất thường.

Nếu Thiên Tâm mà gặp Sinh, Tử nhị môn thì chủ mây dày sắp mưa. Nếu gặp Cửu Thiên, Cửu Địa, Lục Nghi chỉ Mậu, Kỷ, Tân, trong khóa không có chỗ nào quyết đoán mưa nắng, thì nên lấy Nguyệt Tướng gia chính thời, xem Thanh Long, Bạch Hổ, Huyền Vũ trên trời gia lâm thì ắt chủ mưa.

Nếu Thiên Tướng không phải Thủy Hỏa các tướng, mà gặp Quý Nhân, Thái Thường chư thần thì làm thế nào? Lại nên dùng Thấu Thiên Quan khởi Ngũ Phù. Thấu Thiên Quan khởi Ngũ Phù, Thiên Tào, Địa Phủ, Phong Bá, Lôi Công, Vũ Sư, Điện Mẫu, Đường Phù, Quốc Ấn, Thiên Khuyết, Địa Nọc, Thiên Tặc. Đây là các thần dương can, âm lại xem riêng Vũ Sư, Lôi Công gia lâm trên trời thì ắt chủ mưa. Quyết này suy đoán cực kỳ tinh vi, các sách không ghi chép, bí mật thay.

THIÊN THỨ SÁU: GIA TRẠCH, THÂN MỆNH TỔNG QUYẾT

Xem cát hung, hưu cữu của gia trạch thế nào? Phù là nhà mới, Sử là nhà cũ; Phù là chính ốc, Sử là gian bên; Phù là dương trạch, Sử là âm cơ; Phù là bản thân, Sử là ruộng vườn; Phù là tôn trưởng, Sử là ti ấu; Phù là tâm quan tạng phủ, Sử là tứ thể kinh lạc. Trong đó phân mà hợp, hợp mà phân, lý diệu khó cùng. Phù bị khắc, nhà mới hung; Sử bị khắc, nhà cũ hung; Phù bị khắc, chính ốc hung; Sử bị khắc, gian bên hung; Phù bị khắc, không lợi cho tôn trưởng; Sử bị khắc, có hại cho ti ấu; Phù bị khắc, mất tổn nhân đinh; Sử bị khắc, có mất ruộng vườn. Đó là đại cương.

Nhưng mất nhân đinh, làm thế nào phân biệt cha mẹ, vợ con, anh em, chú bác, bản thân? Nên từ Cửu Tinh, Bát Môn mà phân ra suy xét kỹ. Ví như Dương nhất cục, Đông chí thượng, Thiên Bồng trực phù, Hưu Môn trực sử; Giáp Kỷ nhật, Ất Sửu thời. Hưu Môn đến Khôn địa, Thiên Nhuế Giáp Tuất thượng, tinh là Thiên Nhâm, được Bính kỳ; Bát Trá là Đằng Xà; Trực phù Thiên Bồng đến Ly, giữa là Khai Môn là phi môn, địa bàn là Ất kỳ, Ất kỳ ở Ngọ lại là trường sinh chi địa. Khóa này Bồng được sinh, Hưu Môn bị khắc, thì có thuyết hại đến ti ấu vậy. Nhưng vợ con, cháu gái đều là ti ấu, làm thế nào để phân biệt? Thiên Bồng trực phù, lấy ta khắc Thiên Anh làm vợ, Cảnh làm thiếp; ta sinh Thiên Xung làm con trai trưởng, Thương Môn làm con trai thứ; Thiên Phụ làm cháu trai, Đỗ Môn làm cháu gái. Khóa này Thương Môn đến Càn, Đỗ Môn đến Khảm, Cảnh Môn đến Cấn, trong ba môn chỉ có Thương Môn bị khắc, cho nên biết là con trai thứ bị bệnh. Bát Trá được Lục Hợp, Cửu Tinh là Thiên Phụ, bên trong mang Tân Nghi, địa bàn Càn cung là Quý Nghi, giữa là Thương Môn. Nhưng Đông cục Thủy vượng Mộc tướng, Càn Kim tiết khí, chẳng đến nỗi đại hại. Huống chi Giáp Tý tuần không Tuất Hợi, thì Càn Kim lại thuộc không vong, có gì phải sợ? Nhưng Thương Môn lạc trong tuần không, bệnh đó đều từ không mà đến, hoặc do trèo cao mà ngã, hoặc do lầm lỡ với vàng đá mà bị thương. Bát Trá được Lục Hợp, hoặc do thân quyến mà khởi. Lý rất huyền vi, bút khó tả hết. Tức lấy việc tổn đinh mà luận, làm thế nào phân biệt được là cha, anh, chú, bác? Lại nên từ Cửu Tinh suy ra. Ví như Đông chí Dương nhất cục, Hưu Môn trực sử, Thiên Bồng trực phù; dùng Giáp Kỷ nhật, Nhâm Thân thời. Thiên Bồng đến Trung cung ký Khôn, phi môn là Sinh, địa bàn là Nhâm Nghi, Sinh Môn khắc Bồng Tinh, thì biết là thuyết bất lợi cho tôn trưởng. Nhưng cha, anh, chú, bác từ đâu suy xét? Thiên Bồng là bản thân, nên lấy Thiên Tâm làm cha, Khai Môn làm mẹ, Thiên Trụ làm chú bác, Kinh Môn làm mợ thím, Thiên Nhâm làm ông, Sinh Môn làm bà. Khóa này Thiên Tâm đến Ly, phi môn được Hưu Môn, Thiên Trụ đến Tốn, phi môn được Khai Môn, hai tinh này đều tương sinh, chỉ có Thiên Nhâm đến Đoài, dưới được Thương Môn, ấy là tượng Mộc khắc Thổ. Ông nội ắt có bệnh tỳ vị, hoặc do ăn uống quá độ, hoặc trúng phong kinh quyện... Nếu ông bà đã mất thì bản thân bị khắc, bệnh nên ở bản thân.

Trước nói: Phù bị khắc ứng ở tạng phủ bị hại, Sử bị khắc bệnh ở tứ chi. Nay Phù bị khắc, là tạng phủ nào bị hại? Ví như Thiên Bồng bị khắc là kinh thận có bệnh. Tinh chủ nội, môn chủ ngoại, biết được chỗ phía dưới bị tổn, đau nhức xương lưng, hoặc đau nhức đốt ngón tay... Hưu Môn bị khắc, biết được bệnh ngoại thận, bệnh tai, bệnh miệng, chân ngón bị thương... Khóa trên chỉ chủ tinh bị khắc, bệnh đó ắt nặng, nhưng Đông chí chính Tý Thủy tư lệnh, Sinh Môn không thể khắc nó, lại có Cửu Thiên, Ất kỳ cứu trợ, không cần thuốc cũng được. Vả lại giờ Thân lại là lúc Tý Thủy được sinh, đủ để làm lo gì.

Suy rộng ra, thì Cửu Tinh Bát Môn có thể biết trước. Như Thiên Anh bị Hưu Môn khắc, là bệnh kinh tâm, bệnh lưỡi, bệnh máu... Cảnh Môn bị Khảm cung khắc, là bệnh đau đầu, đau mắt, đau lưỡi... Thiên Nhuế bị Đỗ Môn khắc, là bệnh nôn mửa, yết cách... hoặc trướng bụng, phiên vị, ngực cách khí trệ; bị Thương Môn khắc, ắt ăn uống quá độ thành bệnh tỳ vị. Tử Môn bị Tốn cung khắc, đại thế chủ bệnh tỳ vị, thận gia, hoặc bệnh da bả vai tay phải. Chấn cung khắc Tử Môn, đại thế cũng chủ tỳ gia, hoặc bị thuyền xe cầu gỗ làm bị thương... Thiên Phụ bị Kinh Môn khắc, chủ can kinh có bệnh, hoặc trúng phong, kinh phong, chừng chừng, bạo bệnh, quái chứng... Đỗ Môn bị Đoài cung khắc, hoặc tay trái bắp thịt co quắp, phạm kích giả chủ bị đánh ngã... Khai Môn và Càn cung khắc Thiên Phụ, Đỗ Môn, cũng theo đó suy ra.

Thiên Trụ, Thiên Tâm bị Cảnh Môn khắc, chủ phế kinh có bệnh, hoặc suyễn, hầu phong, hầu thuyền, và bệnh hông phải, đùi phải. Kinh, Khai chi môn bị Ly cung khắc, hoặc viêm mũi, chảy máu cam, bị lửa nước làm bị thương, da lông có bệnh... Thiên Xung bị Kinh Môn khắc, chủ can kinh bị bệnh, hoặc chừng chừng, não nộ, hông trái gân cốt co quắp... Thương Môn bị khắc, chủ bệnh tay trái, hoặc bệnh mắt trái, hoặc bị kim loại đá làm bị thương. Thiên Nhâm bị Thương, Đỗ nhị môn khắc, là bệnh tỳ gia, hoặc tả lỵ, kiết lỵ, đau bụng, hoặc đại tràng bế tắc... Sinh Môn bị Chấn, Tốn nhị cung khắc, đại thế chủ bệnh tỳ gia và bệnh da, hoặc đùi trái bị thương...

Những suy đoán trên đây có chỗ chưa nói hết, ở chỗ người học thần minh cái ý đó. Tổng lại, tinh bị khắc, bệnh đó nặng, nặng ở trong; môn bị khắc, bệnh đó nhẹ, nhẹ ở ngoài. Lại nên xem xét suy vượng, xét cát hung: ta vượng nó suy, tuy nó khắc ta cũng vô hại; ta suy nó vượng, vừa bị khắc thì ta bị thương. Vậy thì cái có thể cứu ta chẳng phải Tam Kỳ ư? Tam Kỳ, cát thần, tử tù gặp nó là Thiên Xá, bệnh nặng gặp nó là Thiên Y, phản hung thành cát, tuyệt xứ phùng sinh, lý lẽ lấy ở đây.

Cát hung của môn cũng nên xét luận: cát là Tam Cát Môn; hung là Ngũ Hung Môn. Tức như Sử môn rơi vào Sinh Môn, Sinh Môn vốn là nơi sinh khí chung đúc, tuy khắc ta cũng tự nhiên dư dả; lại như Sử môn rơi vào Tử Môn, Tử Môn vốn là nơi tử khí, tức không bị khắc cũng thành hưu phế, huống chi nó khắc ta ư? Cho nên nói nên xét cát hung.

Tuy vậy, chẳng riêng gì tinh môn bị khắc mới chủ bệnh, tức khí thoát cũng chưa hẳn không phải bệnh. Như Thiên Xung sinh Cảnh Môn, Thương Môn sinh Ly Hỏa, gặp lúc Thu Kim chính vượng, bản thân thường đã vô khí, lại gặp tử tôn để tiết khí của nó, ắt hư hỏa bốc lên mà thành chứng lao.

Nhưng địa bàn với thời can ở giá trị dưỡng, sinh, thai cung, chủ sinh con; địa bàn ở bệnh, tử, mộ địa, chủ sinh bệnh. Bát Trá bàn gặp Thái Âm, Lục Hợp cũng chủ sinh con, gặp Đằng Xà, Bạch Hổ ắt chủ sinh bệnh. Bí mật thay.

Có một loại chủ tinh tức sinh phi môn, mà địa bàn thời can lại ở sinh, dưỡng, thai khí, bát trá cung lại là Đằng Xà, Bạch Hổ, ấy là trong bệnh mà được con. Nhưng gặp Đằng Xà thì việc sinh đẻ chậm, gặp Bạch Hổ thì việc sinh đẻ rất nhanh.

Trên đây mới chỉ nói cái lẽ sâu cạn của việc sinh bệnh, mắc bệnh, điều gọi là "Sử bị khắc, âm địa hung" là thế nào? Phu Sử môn theo địa chi mà bay, cho nên âm địa nhất định phải xem Sử môn. Ví như Đông chí Dương nhất cục, Thiên Bồng trực phù, Hưu Môn trực sử, dùng giờ Sửu, Hưu Môn trực sử đến Khôn, địa bàn Nhuế Kỷ, Cửu tinh Thiên Nhâm, bên trong mang Bính kỳ, Bát Trá Đằng Xà, đây là tượng Sử môn bị khắc, âm địa chẳng tốt. Nhưng âm địa không chỉ một chỗ, rốt cuộc thuộc về mộ phần của ai? Thiên Bồng trực phù lấy Khai Môn làm mộ phần cha mẹ, lấy Sinh Môn làm mộ phần bà, lấy Cảnh Môn làm mộ phần cụ. Mộ phần thuộc về địa chi, cho nên xem môn mà không xem tinh. Ví như mộ phần cha mẹ cùng huyệt, chỉ xem môn; nếu cha ở đông, mẹ ở tây, cha xem Thiên Tâm, mẹ xem Khai Môn, đây là biến cuộc. Khóa này Khai Môn gia Ly, Sinh Môn gia Đoài, Sinh Môn sinh cung, Khai Môn bị khắc, biết được mộ phần cha mẹ không lợi. Trên là Thiên Bồng Mậu Nghi, dưới đất Ất kỳ, Khai Môn là cát, huống chi Thủy vượng Hỏa tử, Ất kỳ được đất, tuy không thể phát phúc, cũng chẳng đến nỗi đại họa. Nhưng Giáp Tý trực phù gia Ly, Tý Ngọ nhất xung, ngày khác ắt chủ tượng di dời, đây là đại lược.

Xem mộ phần, địa can nhập mộ chẳng sao, gặp hình xung thì chủ cải táng, lạc không vong thì không được huyệt, tự mang không vong thì không có long. Nhưng đây chỉ là từ khóa gia trạch mà suy rộng ra điều này, nếu một việc một xem thì lại lấy tinh làm chủ, môn thứ đến. Kinh nói: Phù cát thì ứng trước cát, môn hung thì ứng sau hung. Người có trí nghĩ đến thì tự đạt được.

THIÊN THỨ BẢY: BINH TRẤN

Phu Tinh là bản thân, chủ vậy, vua vậy, nguyên soái vậy. Môn là môn hộ, phên dậu, thành quách, bệ điện, thành trì vậy. Ví như một nhà có chủ nhân có phòng ốc cửa sổ vậy, ví như một nước có vua tôi có sông núi ... vậy. Cho nên tinh môn phù sử không phân chủ khách đều là để ta dùng. Điều xem là phi môn dưới chủ tinh, lưu cung dưới chủ môn.

Chủ tinh khắc phi môn, có thể đánh thành phá trận mà bắt soái giặc. Phi môn khắc chủ tinh, uổng công vô ích, tổn binh chiết tướng. Chủ môn khắc lưu cung, có thể kiên bích cố thủ mà đánh giặc hàng phục. Lưu cung khắc chủ môn, ắt đến mất đất mất lãnh thổ. Như ta sinh nó mà ta suy, nó ắt khỏe mà sinh; nó sinh ta mà ta vượng, nó ắt đầu hàng. Trong đó hoặc trước cát sau hung, ắt Phù khắc nó mà Sử bị khắc. Hoặc trước hung sau cát, ắt Sử khắc nó mà Phù bị khắc. Sử bị khắc thì cẩn thận tương lai, Phù bị khắc thì xét lúc khởi phát. Kinh nói: Phù cát chủ ứng trước cát, môn hung chủ ứng sau hung. Nhưng Phù Sử bị khắc gặp Lục Canh, đại tướng bị bắt, quyết không thể dùng.

Bát Trá một bàn là cảnh tượng chế tình tiên thiên: Như gặp tinh môn đều là khắc nó mà gặp Cửu Thiên thì nên xuất sư đường đường, cờ chính chính, vả Cửu Thiên chủ động, nên xuất binh nhanh mà vượt lên, ắt được toàn thắng. Gặp Cửu Địa thì nên kiên bích cố thủ, tĩnh để đợi động, vả Cửu Địa chủ tĩnh, cho nên nói dưới Cửu Địa nên lập trại. Bạch Hổ chủ xung đột kích sát, nên chọn quân tinh nhuệ để lung lay chỗ kiên cố của địch. Thái Âm chủ âm mưu bí kế, dùng hối lộ, phản gián để thắng. Lục Hợp dùng chiêu hàng và hòa thân, dùng thuyết khách để thắng. Huyền Vũ nên đánh cắp trại, dùng kỳ binh để thắng. Đằng Xà nên dùng ơn thần đặt giáo, cưỡi gió lớn mưa dông để đánh úp quân địch.

Những điều trên đây tuy cát hung khác nhau, nhưng cần lấy tinh môn khắc nó, Tam Kỳ gia lâm, rồi tùy theo tình tính của Bát Trá mà dùng, thì chiến vô bất thắng. Nếu tinh môn bị khắc, gặp Bạch Hổ thì phải phòng bị xung đột, gặp Huyền Vũ thì phải phòng bị gian tế, gặp Thái Âm, Lục Hợp thì phải phòng bị thuyết khách ly gián, gặp Đằng Xà thì phải phòng bị yêu nhân thuật sĩ. Chỉ có tinh môn tỉ hòa, gặp Thái Âm, Lục Hợp thì ắt chủ hai nước ngừng binh, hòa thân, giảng hòa.

THIÊN THỨ TÁM: LỰA CHỌN (NGÀY GIỜ)

Lựa chọn ngày giờ theo Kỳ Môn, phàm tất cả Thái Tuế, hung thần, ác sát đều không phải kiêng sợ. Bởi Kỳ là kỳ binh, Môn là môn đệ. Cát Môn ngồi đối diện, như người vào lầu son điện ngọc, thì trần khí không thể quấy; như người vào phủ tướng, nhà hầu, thì cùng đạo không thể vượt qua. Thêm vào đó Tam Kỳ gia lâm như vua ở trong, đại tướng ra cửa, tất cả các sát lui xa tránh, cho nên người chết an mà người sống cát, thì hung thần ác sát đâu đáng nói?

Thế nhưng địa Tam Kỳ mỗi kỳ ngồi năm ngày, cùng các sát ở chung, các sát đều thuần phục; thiên Tam Kỳ bỗng nhiên gia lâm, các sát dậy rồi lại lui. Địa Tam Kỳ như có chỗ thường ở quen thuộc, người ta thường không biết sợ; thiên Tam Kỳ như tuần phủ một thời, trải qua một cung mà gian tà nghe gió trốn xa, cho nên địa Tam Kỳ rốt cuộc không bằng thiên Tam Kỳ linh ứng. Lấy thiên bàn mà luận, Tam Kỳ dùng cát, thì Ất kỳ càng lợi cho ban ngày, Bính kỳ càng lợi cho ban đêm, Đinh kỳ cả ngày lẫn đêm đều dùng, bởi nó là nhật, nguyệt, tinh vậy. Kinh nói: Kỳ Môn chọn ngày khác với các nhà, chẳng luận hung thần cùng cát ... tất cả tiến tường hiến thụy, con cháu xa bền phúc vô bờ. Lại nói: Đi lại hợp Kỳ Môn, có nạn cũng qua được; di táng hợp Kỳ Môn, không đất cũng cát. Nay lấy kế vạn toàn mà luận, không gì bằng tránh cái hung sát, lại hợp đại táng cát thời, và lấy năm mệnh không hình xung mà chọn dùng, đó là cái ý cầu toàn, cầu mỹ, cẩn trọng vậy.

Ví như Hợi Long nhập thủ, Nhâm sơn Bính hướng, Khai Môn ở chính ngũ hành thì tương sinh, dùng cát; Hưu Môn phục ngâm, Sinh Môn khắc cung, quyết không thể dùng. Trước Hợi Long Nhâm huyệt kiêm Hợi Tỵ thì kề cung Càn, theo phép Kỳ Môn suy ra, gặp Đại Tuyết chọn cục đi Càn Hợi gọi là bổ vận. Như Đại Tuyết mà luận, Đại Tuyết tiết Tam Hậu dùng ba cục "Tứ, Thất, Nhất". Âm tứ cục chỉ có Giáp Ngọ tuần Hưu Môn trực sử, Âm thất cục Hưu Môn không làm trực sử, Âm nhất cục Giáp Tý tuần Hưu Môn làm trực sử. Sợ trong hai cục đó, năm mệnh hình xung không hợp, đại táng không thể chọn dùng. Qua hai ngày đó lại không phải vượng khí, thì làm thế nào? Hoặc trong Tiểu Tuyết cục chọn Hưu Môn dùng cũng được, nếu cũng không hợp, hoặc trong Lập Đông chọn Hưu Môn dùng cũng được. Bởi Lập Đông, Tiểu Tuyết, Đại Tuyết đều thuộc cung Càn quản sự, không ra ngoài một quẻ, cho nên cũng kiêm dùng. Biết điều này thì tám cung có thể suy ra tương tự.

Nhưng Long bổ vận cả hai đều đủ, thì thượng thượng đại cát. Hoặc được môn mà không được khí, có thể dùng; được khí mà không được môn, dùng không cát. Kinh nói: Thà không được khí, chứ không được mất môn, chính là nói về điều này. Đến như môn đã được rồi, mà bàn trên dưới không có Tam Kỳ gia lâm, thì chưa tốt. Tam Kỳ gia lâm mà Ất gặp Tân, Đinh gặp Quý, Bính gặp Nhâm, lại không tốt. Môn đã được rồi, trá cát rồi, mà bản cung gặp không vong, cũng chưa tốt. Những điều khác như bản mệnh thuộc Tân, địa bàn được Tân Can, thiên bàn được Kỳ Bính, gọi là Kỳ Nghi tương hợp, cực kỳ diệu; lại với bản mệnh hợp, cực kỳ diệu. Còn lại các hợp Đinh Nhâm, Ất Canh, Mậu Quý, không gì không cát. Nhưng trên cung cát môn nhất định phải có Trực Sử đến phương mới là thực cát, còn các phi cát môn đều thuộc vô ích. Nếu bản thời chính khóa được Ngũ Bất Ngộ, thời can nhập mộ, La Võng, Kích Hình các cách hung, đều không thể dùng. Nếu Cửu Độn, Tam Trá, Cửu Thiên, Cửu Địa các cách cát đều có thể chọn dùng. Tổng kết, lựa chọn lấy bản cung tọa huyệt làm chủ, long, mệnh làm phụ; môn cung chỉ có thể tương sinh, không thể tương khắc. Cung sinh môn lại không bằng môn sinh cung là cát, bởi trên sinh dưới gọi là tiến khí.

Lại như thời kỳ hợp cát, mà nhật kỳ lại hợp cát thì thượng cát; mà niên, nguyệt kỳ môn lại hợp cát môn thì đây là trải qua ngàn xưa mới gặp một lần. Nhưng trong các yếu tố đó không thể kiêm đắc: thời kỳ chủ được Hưu Môn, nhật kỳ được phi cát môn, cái trọng là ở thời kỳ, cũng xem người đó bỏ hay lấy thế nào mà thôi. Tức lấy nhật, thời nhị kỳ môn luận cũng không thể kiêm đắc. Có thể dùng nhật kỳ, tức chủ cát môn, thời kỳ được phi cát môn, cũng có thể giống; nếu đều là phi cát thì không thể dùng, nếu đều là chủ cát thì thượng thượng đại cát.

Đến như thuyết Tam Kỳ khắc ứng, lấy Trực Sử môn luận mới nghiệm. Nhưng mộ chi thì không nghiệm, tuần không thì không nghiệm, hình xung thì không nghiệm. Cái được nghiệm nhất định phải phối với bản chi, phối với Thiên Tướng, phối với cung vị, phối với suy vượng, thì mọi điều lớn nhỏ rõ ràng. Có câu: Minh nhi suy chi, tồn hồ kỳ nhân (Sáng suốt suy luận, là ở ở nơi người dùng).

Nhâm, Tý, Quý Long lợi Khai Môn; Bính, Ngọ, Đinh Long lợi Sinh Môn; Canh, Dậu, Tân Long lợi Khai, Hưu, Sinh đều lợi; Giáp, Mão, Ất Long lợi Hưu Môn; Giáp Long lợi Khai Môn; Dần Long lợi Khai Môn; Thìn, Tuất, Sửu, Mùi lợi Hưu, Sinh, Khai Môn; Tốn Long lợi Hưu Môn; Khôn Long lợi Khai Môn. Ở trên, một Long nhất định phải lấy hai hoặc ba môn là vì sao? Vừa phải với tọa huyệt tương sinh, lại vừa phải với lai long tương hợp, mới là tột tốt. Dùng điều này để chọn cát, thì đối với việc di táng không còn gì thừa nữa.

THIÊN THỨ CHÍN: KHỞI TẠO, XÂY TRẠI, XUẤT HÀNH

Như khởi tạo nhà cửa, xây dựng doanh trại, nên lấy bản cung địa bàn làm chủ. Trước nhất kỵ bản mệnh của chủ nhà bị hình xung năm; thứ hai chọn cát môn đến tọa, mới có thể khởi công phá thổ. Ví như Khảm trạch lợi dụng Khai Môn, Chấn trạch lợi dụng Hưu Môn, Ly trạch lợi dụng Sinh Môn, Đoài trạch cả ba cát môn đều có thể dùng, đến khi bế môn tắc thạch thì dùng Đỗ Môn. Còn Càn, Khôn, Cấn, Tốn tứ trạch có thể suy ra tương tự. Lại được Tam Kỳ chiếu lâm, tự nhiên các sát lui tránh, trăm phúc tề tựu. Nhưng nhất định phải có chủ cát môn đến trạch mới là thực cát, lại được nhật kỳ môn hợp cát càng là cực kỳ diệu. Khóa hợp Thiên Độn, Địa Độn, Nhân Độn và Tam Trá, Phản Thủ, Điệt Huyệt, Đăng Điện thì ắt phú quý trăm năm. Phàm bản thời chính khóa được Ngũ Bất Ngộ, thời can nhập mộ, La Võng, Kích Hình, Phục Ngâm, Phản Ngâm và tất cả các cách hung, quyết không thể dùng.

Phàm vào quan, thụ tước, gả cưới, xuất hành đều theo đó. Chỉ có xuất môn nên đi theo hướng Tam Kỳ, Tam Cát phương, mới có thể được phúc, xa tai họa. Ví như người đi đường muốn đi về phía Nam, Ly cung có kỳ môn đến thì có thể xuất hành phương này. Như trong ... sáu bước, ngoại vi sáu sáu số, cưỡi cái khí tốt, tụng chú ... thần, thì có thể đi đến chỗ mình muốn, không gì không tốt. Xuất quân phá trận, sách trước chép rất rõ, không thể tả hết; ai có chí sự công, phụ tá vương đồ, nên chú ý ở sách trước. Đây là bí mật ngàn đời không truyền, hãy quý trọng.

Cụ già 93 tuổi người Mân (Phúc Kiến) Hoàng Mộng Đẩu truyền

Bản bài viết này do bác hữu Tập Đồng Nhân chỉnh lý.

Tập Đồng Nhân án: Chín thiên Kỳ Môn Đại Thành Tâm Truyền là tinh phẩm của cổ pháp Kỳ Môn, mấy trăm năm nay chỉ được truyền bí mật dưới dạng sao chép tay. Văn bản lần này chỉnh lý dựa trên nguyên bản cuốn Kỳ Môn Tâm Truyền Yếu Quyết trong kho thư viện Thượng Hải. Nguyên văn viết bằng thảo thư hành, lại nhiều từ cổ chuyên ngành thuật số, e rằng không phải người nghiên cứu chuyên môn không thể đọc nhanh, cho nên làm văn bản này với chữ giản thể, dấu câu, dòng ngang để gửi đến quảng đại bạn hữu dịch.

Ngoài ra, chín thiên này thuộc bản người xưa sao chép, tham khảo Kỳ Môn Pháp Khiếu, Kỳ Môn Tâm Pháp Mật Toản dẫn các văn cũ Tâm Truyền, phát hiện bản chín thiên này không đầy đủ, nếu bút giả có duyên có được, ắt sẽ chia sẻ với bạn hữu dịch.

Phàm lệ chỉnh lý:

  1. Mục đích của bài này là nhận dạng, lưu trữ văn tự nguyên bản, để bạn hữu dịch phối hợp với nguyên bản tự nghiên cứu, cho nên một chữ một câu không thêm bớt, dù nguyên văn có chỗ không thông cũng vẫn chép theo.

  2. Nếu nguyên văn có chỗ sai rõ ràng thì sẽ sửa lại. Như bài Xem Mưa Nắng nguyên viết: "đương dĩ nguyệt kiến gia chính thời, xán thiên thượng thanh long, bạch hổ, huyền vũ gia lâm giả tất chủ bất vũ", chỗ này "nguyệt kiến" nên là "nguyệt tướng", "bất vũ" nên là "hạ vũ", cho nên sửa lại. Vì loại sai này trong nguyên văn cực ít, nên không chú thích lại, người đọc đối chiếu tự rõ.

  3. Vì năng lực có hạn, những chữ nguyên văn không thể nhận dạng được thì đánh dấu bằng "()". Đây là hiện tượng cá biệt, không ảnh hưởng đến việc đọc hiểu.

  4. Nguyên văn có lời chú thích nhỏ chèn giữa, nay vẫn để chữ nhỏ chèn giữa văn. Nguyên văn không có dấu câu, chia đoạn, nay theo ý mình đặt dấu câu, chia đoạn để tiện dụng.

  5. Trình độ cá nhân có hạn, hiệu đính vội vàng, khó tránh sai sót, kính mong quảng đại bạn hữu dịch tự hiệu chỉnh, chờ đợi bản hay hơn.

Dịch giới Dung Thụ Tiên chú: Có thực tiễn tổng kết, đáng giá các phái cẩn trọng tham khảo và dung hội quán thông.

 

Các bài liên quan: