LUẬN VỀ LỰA CHỌN TRONG DỰ ĐOÁN KỲ MÔN ĐỘN GIÁP

LUẬN VỀ LỰA CHỌN TRONG DỰ ĐOÁN KỲ MÔN ĐỘN GIÁP

 

Kỳ Môn lựa chọn: Phàm Thái Tuế, Tam Sát, hung thần ác sát đều không cần kiêng kỵ, bởi vì "Kỳ" là kỳ binh (binh lạ), "Môn" là môn đệ (cửa nhà, dòng dõi). Cát Môn đến chỗ ngồi (tọa sơn) cũng như người vào lầu son điện ngọc, thì bụi trần không thể quấy nhiễu; như người vào phủ tướng quân, cửa nhà hầu tước, thì trộm cướp chẳng thể nổi lên. Thêm vào đó tam kỳ gia lâm, cũng như vua chúa ở bên trong, đại tướng giữ cửa, tất cả các loại sát khí đều lánh xa, cho nên kẻ chết được sống, người sống gặp lành, thì còn sợ gì hung thần ác sát đáng kể nữa. Tuy nhiên, tam kỳ dưới đất (Địa bàn tam kỳ) mỗi kỳ ngự trị năm ngày, cùng ở chung với các sát khí, các sát khí đều được thuần phục. Tam kỳ trên trời (Thiên bàn tam kỳ) bỗng nhiên gia lâm, các sát khí nổi dậy rồi lại lui. Tam kỳ dưới đất như có quan chức tại sở, ở lâu nơi quen thuộc, người ta thường coi thường mà không biết sợ. Tam kỳ trên trời như tuần phủ, một thời đi qua một cung, kẻ gian tà nghe gió phải trốn xa. Vì vậy, tam kỳ dưới đất rốt cuộc không bằng tam kỳ trên trời linh ứng. Do đó, chỉ cần luận về tam kỳ trên trời. Ất Kỳ đặc biệt có lợi vào ban ngày, Bính Kỳ đặc biệt có lợi vào ban đêm, Đinh Kỳ cả ngày lẫn đêm đều tốt như nhau, bởi chúng tượng trưng cho Nhật, Nguyệt, Tinh (Mặt trời, Mặt trăng, Các vì sao).

Kinh rằng:

Kỳ Môn chọn ngày khác các nhà,
Không gặp hung thần với cát hoa,
Mọi điều tốt lành, may mắn đến,
Con cháu dài lâu, phước chẳng qua.

Lại rằng:

Đi đường hợp Kỳ Môn, có nạn cũng tránh được;
Di táng hợp Kỳ Môn, không đất cũng lành.
Nay luận điều toàn vẹn, chẳng bằng tránh tai sát,
Lại hợp giờ tốt đại táng,
Và chọn người có mệnh không bị hình xung,
Chọn lấy dùng thì đó là điều tốt đẹp trọn vẹn,
Thể hiện ý khó khăn, cẩn trọng vậy.

Ví dụ: Long (rồng) Hợi nhập thủ, làm hướng Nhâm Sơn Bính Hướng. Hợi chính ngũ hành thuộc Thủy, tam hợp ngũ hành thuộc Mộc. Được Mộc Môn (cửa Mộc) đến thì Thủy sinh Mộc, gọi là "phù long" (nâng đỡ rồng) diệu kỳ. Được Khai Môn đến, tuy tương khắc với tam hợp ngũ hành (Khai Môn thuộc Kim, Kim khắc Mộc) nhưng thực tế lại tương sinh với chính ngũ hành (Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc) gọi là "đệ sinh" (sinh liên tiếp), cũng có thể dùng. Nếu Sinh Môn đến (Sinh Môn thuộc Thổ), thì Thổ khắc Thủy, tuyệt đối không thể dùng.

LUẬN VỀ LỰA CHỌN TRONG DỰ ĐOÁN KỲ MÔN (tiếp)

Trước kia nói về Long Hợi, huyệt Nhâm, kiêm Hợi Tỵ thì nương theo cung Càn (khôn), kiêm Tý Ngọ thì nương theo cung Khảm. Theo cách suy luận của Kỳ Môn, nương theo cung Càn gặp cục Đại Tuyết (Tuyết lớn), vận hành Càn Hợi, gọi là "bổ vận" (bổ sung vận mệnh). Nương theo cung Khảm, theo cách suy luận của Kỳ Môn, gặp cục Đông Chí (Đông chí), vận hành Nhâm Tý, cũng gọi là "bổ vận". Tuy nhiên, xét về cục Đại Tuyết, khí Đại Tuyết kết thúc, bốn cục 4, 1, 7, 3: âm cục 4 chỉ có giáp Ngọ tuần, Hưu Môn làm Trực Sử; âm cục 7 Hưu Môn không làm Trực Sử; âm cục 1 giáp Tý tuần Hưu Môn làm Trực Sử. E rằng trong hai ngày đó, nếu năm mệnh có hình xung, không hợp đại táng thì không thể dùng. Hoặc hai ngày đó lại không có khí vượng thì biết làm thế nào? Có thể chọn trong tiết Tiểu Tuyết (Tuyết nhỏ) mà dùng Hưu Môn cũng được. Nếu vẫn không hợp, thì chọn trong cục Lập Đông (Lập đông) mà dùng Hưu Môn cũng được. Bởi vì Lập Đông, Tiểu Tuyết, Đại Tuyết đều thuộc cung Càn quản sự, không ra ngoài một quẻ, cho nên nên kiêm dùng. Biết được điều này thì tám cung có thể suy ra tương tự.

Tuy nhiên, cả "phù long" (nâng đỡ long mạch) và "bổ vận" (bổ sung vận mệnh) đều đầy đủ thì là thượng thượng đại cát. Hoặc được Môn nhưng không có khí (vận khí) thì có thể cân nhắc dùng. Được khí nhưng không được Môn thì dùng không tốt. Thà không có khí chứ đừng để mất Môn, chính là nói như vậy. Đến như được Môn nhưng trên dưới bàn không có tam kỳ đến thì chưa tốt; tam kỳ gia lâm nhưng Ất gặp Tân, Đinh gặp Quý, Bính gặp Nhâm thì lại càng chưa tốt; được Môn rồi, được Kỳ rồi, được Trá Cách (giả cách) tốt rồi, nhưng gặp Không vong thì cũng chưa phải là tốt đẹp hoàn toàn!

Nếu hóa mệnh thuộc Tân, địa bàn được Tân, thiên bàn được Bính Kỳ, gọi là "Kỳ Nghi tương hợp" cực kỳ diệu, lại cùng với bản mệnh kết hợp thì càng diệu. Đến như Đinh hợp Nhâm, Ất hợp Canh, Mậu hợp Quý thì đều tốt. Tuy nhiên, trên cung có Thượng Cát Môn, nhưng phải được Trực Sử Môn đến mới là chân chính cát, còn các loại "Phi cát môn" đều là vô ích. Nếu giờ chính khóa (bản thời chính khóa) gặp các cách "Ngũ bất ngộ thời", "Can nhập mộ", "La võng", "Kích hình" đều là hung cách, không thể dùng. Nếu gặp các cát cách như "Cửu độn", "Tam trá", "Cửu thiên", "Cửu địa" đều có thể chọn dùng.

Tóm lại, lựa chọn lấy bản cung của huyệt (tọa huyệt) làm chủ, long mệnh làm phụ trợ. Môn và cung chỉ có thể tương sinh, không thể tương khắc. Đến như thuyết "Tam kỳ khắc ứng" thì phải luận trên Trực Sử Môn mới nghiệm. Tuy nhiên, những trường hợp sau sẽ không nghiệm: gặp "Mộ chi" (địa chi nhập mộ), gặp "Tuần không" (trong tuần không vong), gặp "hình xung". Những trường hợp nghiệm được thì nhất thiết phải phối hợp với bản chi, phối hợp với Thiên tướng, phối hợp với cung vị, phối hợp với vượng suy, khi đó dù to hay nhỏ cũng rõ ràng. Có câu rằng: "Thần nhi minh chi, tồn hồ kỳ nhân" (Điều thần diệu và sáng suốt là ở nơi con người).

Ví dụ:

  • Long Nhâm, Tý, Quý: lợi Khai Môn và Hưu Môn.

  • Long Bính, Ngọ, Đinh: lợi Sinh Môn.

  • Long Canh, Dậu, Tân: lợi Hưu, Khai, Sinh Môn.

  • Long Giáp, Mão, Ất: lợi Hưu Môn.

  • Long Cấn: lợi Khai Môn và Sinh Môn.

  • Long Tốn: lợi Hưu Môn và Khai Môn.

  • Long Khôn: lợi Sinh Môn và Khai Môn.

  • Long Càn: lợi Hưu, Khai, Sinh ba môn.

  • Long Hợi: lợi Hưu Môn và Khai Môn.

  • Long Tỵ: lợi Sinh Môn và Khai Môn.

  • Long Thân: lợi Hưu, Khai, Sinh ba môn.

  • Long Dần: lợi Sinh, Cảnh, Hưu ba môn.

  • Long Thìn, Tuất, Sửu, Mùi: lợi Sinh Môn.

Đối với mỗi loại long trên, nếu cần lấy hai hoặc ba môn, thì phải vừa tương sinh với tọa huyệt, vừa hợp với lai long mới là tốt đẹp trọn vẹn. Dùng cách này để chọn ngày lành thì việc di táng (cải táng, an táng) không còn gì sót lại!

Ví dụ như khởi công xây dựng nhà cửa, đắp lũy, nên lấy bản cung của địa bàn làm chủ. Trước hết kiêng kỵ hình xung với niên mệnh của chủ nhà; sau đó chọn cát môn đến tọa sơn thì có thể khởi công động thổ.

Ví dụ:

  • Nhà Khảm: lợi Khai Môn và Hưu Môn.

  • Nhà Chấn: lợi Hưu Môn.

  • Nhà Ly: dùng Sinh Môn.

  • Nhà Đoài: cả ba cát môn đều có thể dùng, đặc biệt lợi Khai Môn.

  • Riêng việc "bế hộ tắc môn" (đóng cửa, bịt cửa) thì lợi dùng Đỗ Môn đến phương.

Đối với bốn nhà Càn, Khôn, Cấn, Tốn có thể suy ra tương tự. Lại được tam kỳ chiếu lâm thì tự nhiên các sát khí đều lui tránh, trăm phúc cùng đến. Tuy nhiên, nhất thiết phải có các cát môn đến nhà mới thực sự là cát.

Phàm vào quan, nhận chức, cưới hỏi, xuất hành đều có thể suy theo cách này. Xuất hành nên đi từ phương có tam kỳ và tam cát (ba cát môn) thì mới nhận được phước lành, tránh được tai họa. Ví dụ: nếu muốn đi về hướng Nam, cung Ly có Kỳ Môn đến, thì có thể đi ra từ phương này. Như trong sân sáu bước, ngoài đồng sáu trượng... Thừa lúc khí lành, tụng thần chú, ngưng thần, thì có thể đi đến bất cứ đâu, đều gặp cát lành!

 

Các bài liên quan: