KỲ MÔN ĐỘN GIÁP  –  ĐỊNH ỨNG KỲ

KỲ MÔN ĐỘN GIÁP  –  ĐỊNH ỨNG KỲ

Trong dự đoán Kỳ Môn, đối với người hỏi, nhu cầu tâm lý quan trọng nhất là "ứng kỳ" (thời gian ứng nghiệm), luôn muốn biết trước thời gian cụ thể của cát hoặc hung, điều này có thể hiểu được. Nguyên tắc chung để đoán ứng kỳ là:

Thứ nhất Trực Phù, thứ hai Trực Sử, thứ ba Dụng Thần, thứ tư Thời Mã, thứ năm cái khác.

Tức là:

  • Trước hết xem Trực Phù có bị hình, xung, hợp, mộ, không hay không.

  • Nếu không, tiếp theo xem Trực Sử có phục, phản, mộ, không, sinh, khắc hay không.

  • Nếu không, thứ ba xem Dụng Thần có nội, ngoại, phục, phản, mộ, không, xung, hợp hay không.

  • Thứ tư xem Thời Can, Mã Tinh.

  • Thứ năm xem cái khác.

Với tư cách là người dự đoán, cần nắm vững kỹ năng "dự đoán ứng kỳ".


VỀ CÁCH PHÁN ĐOÁN ỨNG KỲ TRONG DỰ ĐOÁN KỲ MÔN

Trong sách Kỳ Môn Pháp Khiếu của Tích Mạnh Hy đời Thanh có một đoạn luận thuật, có thể để chúng ta tham khảo. Đại ý đoạn văn này như sau:

Một bàn Kỳ Môn, sự sinh khắc của sao và cửa, cát hung của kỳ nghi, tuy nhiên là xác định, nhưng năm, tháng, ngày, giờ ứng nghiệm, sự việc xa gần, hoặc ứng vào năm tháng, hoặc ứng vào ngày giờ, phán đoán từ sự suy vượng của sao, cửa, kỳ, nghi, cần phải thần diệu mà hiểu rõ, không thể cố chấp. Trước hết xác định địa chi, sau đó phối thiên can. Phương pháp có được can chi, chỉ ở trong chính thời.

Ví dụ:

  • Giáp Tý Trực Phù gia Ly Cửu cung: là Tý Ngọ tương xung. Tý hợp với Sửu. Ứng nghiệm nên ở năm, tháng, ngày, giờ Sửu.

  • Giáp Ngọ Trực Phù gia Khảm Nhất cung: cũng là Tý Ngọ tương xung. Ngọ hợp với Mùi. Ắt ứng vào ngày Mùi.

  • Giáp Dần Trực Phù gia Khôn Nhị cung: là Dần Thân tương xung. Dần hợp với Hợi. Ứng nghiệm ở ngày Hợi.

  • Giáp Thân Trực Phù gia Cấn Bát cung: cũng là Dần Thân tương xung. Tị hợp với Thân. Ứng ở ngày Tị.

  • Giáp Tuất Trực Phù gia Tốn Tứ cung: là Thìn Tuất tương xung. Mão hợp với Tuất. Ứng nghiệm ở ngày Mão.

  • Giáp Thìn Trực Phù gia Càn Lục cung: cũng là Thìn Tuất xung. Thìn hợp với Dậu. Ứng nghiệm ở ngày Dậu.


CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐOÁN ỨNG KỲ

Phương pháp đoán ứng kỳ dưới đây dựa trên phép chiếm đoán của phái Vô Nhuận (không dùng nhuận pháp). Những người chủ trương phép Trí Nhuận và Chiết Bổ xin vui lòng tham khảo tùy nghi.

  1. Lấy ngày, giờ xung và hợp với dụng thần làm ứng kỳ. Ví dụ: xem việc khai trương, lấy ngày, giờ xung và hợp với Khai Môn làm ứng kỳ.

  2. Xem vật, lấy thời mã động làm ứng kỳ; xem người, lấy nhật mã động làm ứng kỳ. Bốn mã (năm, tháng, ngày, giờ) nên xem xét kết hợp; Tuế mã (mã của năm) thường ứng với sự động của quốc gia.

  3. Trong một giờ, có hai địa chi không vong, lấy địa chi so sánh với thời để dùng. Dương so sánh với dương, âm so sánh với âm.

  4. Lấy can của dụng thần lộ ra (thấu xuất) làm ứng kỳ.

  5. Lấy lưu chi (địa chi của năm tháng ngày giờ đang xét) làm cung của dụng thần làm ứng kỳ.

  6. Lấy hình, xung, hợp, hóa của can của dụng thần để định ứng kỳ. Ví dụ lấy hợp can làm ứng kỳ, v.v. (những điều người xưa chưa trình bày).

  7. Cục phục ngâm lấy xung định ứng kỳ; cục phản ngâm lấy hợp xử (nơi hợp) định ứng kỳ.

  8. Lấy ngoại ứng định ứng kỳ. Ví dụ: ngồi xe đi về phía nam, có thể lấy năm, tháng Ngọ làm ứng kỳ. Phía bắc có người đốt pháo, lấy năm, tháng  làm ứng kỳ. Nghe thấy hai tiếng động, lấy cung Khôn (Mùi, Thân) làm ứng kỳ. Ứng sự cũng nên như vậy.

  9. Ứng kỳ và ứng sự cùng một lẽ. Cho nên có tượng của sự việc, có tượng của vật, có tượng của thời, có tượng của phương sở, các tượng này đều là một lẽ. Vì vậy, phương pháp đoán ứng kỳ và phương pháp đoán ứng sự là thống nhất. Đoán sự đã chính xác thì đoán ứng kỳ cũng sẽ không sai.

  10. Lấy hai giờ Tý, Ngọ để phân nội ngoại nhị bàn, không câu nệ ở Đông chí và Hạ chí. Ví dụ: xem việc vào buổi chiều, các cung 9, 2, 7, 6 là nội bàn, xem việc thì gần, xem thời thì nhanh, xem vật thì ở trong, v.v. Những cái khác cũng suy ra như vậy.


NGUYÊN TẮC CHUNG ĐỊNH ỨNG KỲ TRONG KỲ MÔN ĐỘN GIÁP

Căn cứ xác định thời gian xa gần, nhanh chậm của ứng kỳ:

  • Xem trường sinh, vượng, suy, mộ, tuyệt của dụng thần.

  • Xem cung vị của dụng thần ở nội bàn hay ngoại bàn.

  • Xem bàn cục là phục ngâm hay phản ngâm.

  • Thời Can, Nhật Can rơi nội bàn chủ gần, nhanh; rơi ngoại bàn chủ xa, chậm.

  • Dụng thần rơi nội bàn chủ nhanh, ngoại bàn chủ chậm; dụng thần rơi Tứ Duy cung (bốn góc: Cấn, Tốn, Khôn, Càn) cũng chủ chậm.

  • Phục ngâm chủ gần, chậm; phản ngâm chủ xa, nhanh.

  • Xa, chậm thì đoán năm, tháng; gần, nhanh thì đoán ngày, giờ.

  • Trước định địa chi, sau phối thiên can, lấy địa chi làm chủ, kiêm xem thiên can.

  • Gặp không vong, lấy lấp đầy (điền thực), xung thực làm ứng kỳ.

  • Mã Tinh độngxung động Mã Tinh làm ứng kỳ.

  • Dụng thần nhập mộ, lấy xung mộđáo mộ làm ứng kỳ.

  • Sinh thì gặp lúc sinh, khắc thì gặp lúc khắc.

  • Dụng thần trường sinh, vượng tướng làm ứng kỳ.

  • Dụng thần tử, mộ, tuyệt làm ứng kỳ (đối với việc đoán ngày chết của người bệnh nặng, niên mệnh, dụng thần nhập mộ là ứng kỳ).

  • Lấy địa chi mà thiên bàn Lục nghi mang theo, xem xung hợp của nó:

    • Gặp hợp thì lấy xung định địa chi.

    • Gặp xung thì lấy hợp định địa chi.

  • Ứng kỳ theo Can cách: phương pháp này thường dùng cho việc phá án, người mất tích, tìm đồ thất lạc.

  • Cục phục ngâm, dụng thần bị xung làm ứng kỳ.

  • Can mà Trực Sử môn lâm là ứng kỳ; số của cung lạc Trực Sử môn, Thời Can là kỳ hạn (khoảng thời gian).

  • Khi một cục có nhiều phương pháp ứng kỳ rõ ràng, cần phân tích phương pháp nào liên quan nhất đến sự việc, đồng thời xét đến trước thì ứng trước.


BA LOẠI HÌNH LỚN CỦA ĐỊNH ỨNG KỲ TRONG KỲ MÔN ĐỘN GIÁP

1. Phương pháp định ứng kỳ cho loại sự việc THÀNH CÔNG

Nếu phán đoán sự việc có thể thành công, ví dụ: hôn nhân có thể thành, trường có thể đỗ, công việc có thể nhận, chức vụ có thể thăng, cầu tài có lợi, bệnh có thể khỏi, v.v.

  • Lấy lúc dụng thần vượng tướng, đương lệnh làm ứng kỳ.

  • Dụng thần cần sinh, lấy lúc có thể sinh làm ứng kỳ.

  • Dụng thần cần khắc, lấy lúc khắc được làm ứng kỳ.

  • Dụng thần tuần không, lấy lúc lấp đầy hoặc xung thực làm ứng kỳ.

  • Dụng thần nhập khố, lấy lúc xung khố làm ứng kỳ.

  • Dụng thần gặp hình, xung, lấy lúc hợp làm ứng kỳ; gặp hợp lấy lúc xung làm ứng kỳ.

  • Mã Tinh đương lệnh hoặc xung động Mã Tinh làm ứng kỳ.

  • Cung lạc của Trực Sử môn hoặc Thời Can, số chứa trong cung đó thường là kỳ hạn ứng nghiệm (khoảng thời gian cần), như cần bao nhiêu năm, tháng, ngày, giờ. Can mà Trực Sử môn hoặc Thời Can lâm cũng có khi là ứng kỳ.


2. Phương pháp định ứng kỳ cho loại sự việc THẤT BẠI

Nếu phán đoán sự việc không thể thành công, ví dụ: yêu đương không thành, thi rớt, thăng chức vô vọng, cầu tài lỗ vốn, bệnh nặng không qua khỏi, v.v.

  • Lấy lúc dụng thần hưu, tù, tử, mộ, tuyệt làm ứng kỳ.

  • Lấy lúc kỵ thần vượng tướng, đương lệnh, dụng thần bị khắc làm ứng kỳ.

  • Dụng thần tuần không, lấy lúc lấp đầy làm thời gian ứng không, thời gian thất bại.

  • Dụng thần bị hợp, lấy lúc xung làm ứng kỳ; dụng thần gặp hình, xung, lấy lúc hợp làm ứng kỳ.

  • Mã Tinh đương lệnh hoặc xung động Mã Tinh làm ứng kỳ.

  • Cung lạc của Trực Sử môn hoặc Thời Can, số chứa trong cung đó thường là kỳ hạn của sự thành bại.

  • Can mà Trực Sử môn hoặc Thời Can lâm cung cũng có khi là ứng kỳ.


3. Phương pháp định ứng kỳ cho loại sự việc PHÁ HOẠCH, TÌM KIẾM, NGĂN CHẶN

Trong Kỳ Môn, Giáp và Canh là một cặp mâu thuẫn chính. Canh được gọi là trở ngại chi thần (vị thần ngăn trở). Nói cách khác, Canh là ký hiệu chủ về sự việc bị ngăn trở. Việc tốt bị ngăn trở tự nhiên là không cát, như mạch máu bị ngăn trở là trúng phong, mạch máu não bị ngăn trở là nhồi máu não, tắc mạch, mạch vành bị ngăn trở là nhồi máu cơ tim, thực quản bị ngăn trở là u thực quản, dạ dày bị ngăn trở là u dạ dày, ruột bị ngăn trở là tắc ruột, ung thư ruột; sự nghiệp bị ngăn trở, khó thăng chức; buôn bán bị ngăn trở, khó tránh phá tài; niên can bị ngăn trở, lưu niên bất lợi; nguyệt can bị ngăn trở, tháng đó không thuận; nhật can bị ngăn trở, ngày hôm đó không thuận; thời can bị ngăn trở, lúc đó không thuận, v.v.

Còn đối với việc xấu, cần chặn lại, ngăn trở, thì gặp Canh lại trở thành việc tốt. Cho nên, trong Kỳ Môn gặp Canh không phải đều là hung, đều không cát; cần phát huy tác dụng ngăn trở của Canh thì Canh là ký hiệu cát. Đó là biện chứng logic của sự vật.

Từ đó có thể biết, phàm những sự việc cần phá hoạch, chặn bắt, ngăn cản, ngăn trở, phương pháp định ứng kỳ phải dùng phương pháp Canh cách. Những sự việc này như: điều tra phá án, bắt giữ tội phạm trốn tránh, tìm người đi lạc, tìm đồ thất lạc, v.v.

 

Các bài liên quan: