KỲ MÔN DỰ ĐOÁN BỆNH TẬT – TƯỢNG Ý CỦA THIÊN CAN RƠI CỬU CUNG
KỲ MÔN DỰ ĐOÁN BỆNH TẬT – TƯỢNG Ý CỦA THIÊN CAN RƠI CỬU CUNG
Một. Tượng ý của Thiên can rơi Cửu cung
Thiên can thường đại diện cho trạng thái bệnh tật của cơ thể người được dự đoán.
Tượng ý bệnh tật của Thiên can trong Cửu cung:
Giáp (Mậu): Vết thương, đau đầu, xương cốt, bệnh ngoài da.
Ất: Gan, cổ họng, khí quản, dây chằng, thần kinh, đau nhức.
Bính: Mắt, viêm nhiễm, sốt, huyết áp cao, tim mạch.
Đinh: Mắt, lưỡi, răng, miệng, viêm loét, phỏng.
Mậu: Dạ dày, lá lách, tụy, khối u, mỡ máu.
Kỷ: Lá lách, tụy, cơ bắp, phù thũng.
Canh: Phổi, ruột già, xương sườn, đau đớn dữ dội, ung thư.
Tân: Phổi, khí quản, mũi, da, bệnh về hạt, sỏi.
Nhâm: Thận, bàng quang, máu, nước tiểu, mồ hôi, dịch thể.
Quý: Thận, bàng quang, sinh dục, tai, nước mắt, nước bọt.
Hai. Tượng ý đoán bệnh của Bát môn
Bát môn thường đại diện cho trạng thái bệnh tật của người được dự đoán.
Hưu môn: Hành vi của người bệnh: lười biếng, uể oải, suy nhược. Bệnh ở trạng thái phục hồi, điều dưỡng, ngủ đông, tiềm phục, hoặc ngừng lại.
Sinh môn: Hành vi: tràn đầy sức sống, khỏe khoắn, năng động. Bệnh ở trạng thái hoạt động mạnh, đang phát triển.
Thương môn: Hành vi: quyết đoán, mạnh mẽ, chủ động tấn công. Bệnh ở trạng thái tổn hại, tiêu hao, gây cản trở.
Đỗ môn: Hành vi: suy nghĩ trước khi hành động, thận trọng, chu đáo. Bệnh ở trạng thái ẩn giấu, tắc nghẽn, tính chất không rõ, không thông suốt.
Cảnh môn: Hành vi: ảo giác, nóng nảy, gấp gáp. Bệnh ở trạng thái hoạt động mạnh, sốt, phát nhiệt, bỏng.
Tử môn: Hành vi: yên tĩnh, cứng nhắc, không linh hoạt. Bệnh ở trạng thái mất chức năng, chuyển biến tính chất.
Kinh môn: Hành vi: gây chấn động, ăn nói giỏi, giọng to. Bệnh ở trạng thái đau từng cơn, co giật, lan tỏa cảm giác chua, tê, căng, ho, thở gấp.
Khai môn: Hành vi: tính cách cởi mở, tư duy thoáng, tích cực. Bệnh ở trạng thái tính chất rõ ràng, dễ nhận biết, dễ chẩn đoán.
Ba. Tượng ý đoán bệnh của Cửu tinh
Cửu tinh thường đại diện cho đặc tính bệnh tật của người được dự đoán.
Thiên Bồng: Đặc tính bệnh: bệnh thay đổi, chuyển hóa, di căn. Điều trị cần linh hoạt thay đổi.
Thiên Nhâm: Đặc tính: bệnh phát triển chậm. Điều trị chậm, kéo dài.
Thiên Xung: Đặc tính: bệnh tiến triển nhanh, hoặc bùng phát đột ngột. Điều trị cần dùng thủ pháp nhanh.
Thiên Phụ: Đặc tính: lây nhiễm, truyền nhiễm. Điều trị cần cắt nguồn lây.
Thiên Anh: Đặc tính: bệnh ở bề mặt, triệu chứng bên ngoài, ảo. Điều trị nên trị ngọn.
Thiên Nhuỵ: Đặc tính: ổ bệnh, vị trí bệnh, nguyên nhân. Điều trị nên trị gốc.
Thiên Trụ: Đặc tính: điều kiện mắc bệnh, môi trường sinh bệnh, nguyên nhân bên ngoài.
Thiên Tâm: Đặc tính: căn nguyên bệnh, yếu tố nội tại, nguyên nhân bên trong.
Bốn. Tượng ý đoán bệnh của Bát thần
Bát thần thường đại diện cho tình trạng tổng thể bệnh tật.
Chỉ Phù: Tình trạng bệnh rõ ràng, biểu hiện đau đớn khó chịu. Dễ phân biệt và điều trị.
Đằng Xà: Bệnh thay đổi bất thường, biểu hiện hoảng hốt, rối loạn, mất ngủ, ác mộng, quái dị. Cần phương pháp điều trị cao minh.
Thái Âm: Bệnh ở bên trong, tích tụ lâu ngày, biểu hiện yếu ớt, tinh thần suy sụp. Tác dụng thuốc chậm.
Lục Hợp: Bệnh tổng hợp, biểu hiện chóng mặt, đau người, nôn mửa, tê bì – nhiều loại bệnh. Cần điều trị nhiều mặt.
Bạch Hổ: Bệnh vào giai đoạn nguy kịch, biểu thị thương tổn, bệnh nặng, tai họa. Điều trị khó khăn.
Huyền Vũ: Chóng mặt, mê muội, biểu hiện nôn mửa, quái dị. Điều trị không đúng bệnh.
Cửu Địa: Bệnh dần ổn định, là chứng âm, biểu hiện huyết áp thấp, hôn mê, lười nói.
Cửu Thiên: Bệnh dần nặng thêm, là chứng dương, biểu hiện huyết áp cao, hưng phấn, hiếu động.
Ngày nay, y học phương Tây phát triển vượt bậc, có những thành tựu đáng tự hào trong chẩn đoán và điều trị bệnh, đặc biệt là về giải phẫu sinh lý cơ thể người – cực kỳ chính xác và tỉ mỉ. Trong chẩn đoán bệnh, y học hiện đại có những bước phát triển mang tính bước ngoặt nhờ các thiết bị, dụng cụ tiên tiến như ống nghe, nhiệt kế, huyết áp kế, siêu âm B, máy X-quang, CT, MRI, v.v.
Nhiều tên bệnh cũng khác xa với thuật ngữ Đông y. Tuy nhiên, dù thay đổi thế nào cũng không thoát khỏi khuôn khổ của hệ thống y học. Kỳ Môn Độn Giáp có thể mô phỏng chính xác các hệ thống, cơ quan, tổ chức từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài của cơ thể con người, cũng như các loại bệnh tật liên quan, bởi vì tất cả đều nằm trong phạm vi của âm dương ngũ hành.
Cửu cung của Kỳ Môn là quy luật của vũ trụ, có thể mô phỏng trời, mô phỏng đất, mô phỏng người, mô phỏng vạn vật trong tự nhiên. Cửu cung có thể mô phỏng toàn bộ cơ thể người (Lạc Thư cửu cung: Đái Cửu lý Nhất, tả tam hữu thất, nhị tứ vi kiên, lục bát vi túc – 9 đội đầu, 1 đạp chân, trái 3 phải 7, 2 và 4 là vai, 6 và 8 là chân). Cửu cung cũng có thể mô phỏng từng cơ quan, bộ phận của cơ thể: toàn bộ dạ dày, toàn bộ tim, đầu, bàn tay, v.v.
Dựa trên tính mô phỏng tượng – số – lý của y học, dùng phương pháp so loại lấy tượng, chỉ cần biết suy luận, xúc loại bàng thông, là có thể đọc chính xác các thông tin phản ánh trong cục Kỳ Môn.
Năm. Tư duy đoán bệnh trong Kỳ Môn
Đoán bệnh trong Kỳ Môn chia làm hai trường hợp: phương pháp toàn cục và phương pháp đơn cung. Phương pháp truyền thống là xem cung rơi của sao Thiên Nhuỵ – cách này quá phiến diện, hẹp hòi, không nên dùng.
Khi một người hỏi về bệnh tật của mình, có thể xem cung rơi của sao Thiên Nhuỵ, lấy Thiên Nhuỵ làm Dụng thần chính để đoán bệnh, kết hợp phân tích cung rơi của Nhật can. Đồng thời, Thời can phản ánh trạng thái hiện tại của bệnh. So sánh sinh khắc chế hóa giữa cung Thiên Nhuỵ, cung Thời can với cung Nhật can, sau đó tổng hợp phán đoán: tính chất bệnh, vị trí, trong ngoài, mức độ, nguyên nhân, bệnh lý, diễn biến, v.v.
Khi người dự đoán hỏi về bệnh của người khác (hỏi thay), thì không xem Thiên Nhuỵ, mà xem cung rơi của Dụng thần tương ứng. Ví dụ: hỏi bệnh của bố mẹ xem Niên can, hỏi bệnh của anh chị em xem Nguyệt can, hỏi bệnh của con cái hoặc người dưới xem Thời can, v.v.
Nếu gặp cung không vong hoặc phục ngâm, chứng tỏ ban đầu bệnh phản ánh ở cung này, sau đó bệnh đã biến đổi, ổ bệnh di chuyển. Nên dùng phép "không vong chuyển cung" để tra trạng thái.
Ẩm can ở ngoài cung là cái dẫn dắt để tra bệnh. Trước hết phân tích ẩm can để tìm nguyên do. Nói chung, ẩm can là nguyên nhân khởi phát bệnh. Sau đó phân tích bên trong cung: thần, sao, môn, kỳ nghi và thuộc tính của cung – mỗi yếu tố phản ánh từ góc độ khác nhau về tình trạng bệnh. Khi phân tích phải lý luận gắn với thực tế, cụ thể hóa vấn đề, dùng phương pháp loại trừ để khoanh vùng mục tiêu và đi đến kết luận, không được liên hệ mơ hồ không có cơ sở. Làm được vậy mới đảm bảo độ chính xác của dự đoán.
Tất nhiên, nếu có kiến thức Đông y và Tây y tương đối vững, thì dự đoán càng thêm thuận lợi, như hổ mọc thêm cánh. Vì vậy, học hỏi một số kiến thức y học cần thiết là điều bắt buộc.
Tóm tắt:
Nhật can là người.
Thiên Nhuỵ là bệnh.
Thời can là xu hướng phát triển chung của bệnh.
Người khắc bệnh → bệnh dễ khỏi.
Bệnh khắc người → bất lợi cho người, bệnh khó lành.
Thiên Tâm, Ất kỳ là bác sĩ, thuốc men.
Thiên Tâm là Tây y, dược phẩm Tây y.
Ất kỳ là Đông y, dược phẩm Đông y.
Nếu Thiên Tâm, Ất kỳ lâm Chỉ Phù → thuốc cao cấp, bệnh viện danh tiếng.
Lâm Đằng Xà, Huyền Vũ → nhiều giả dối, thuốc giả, thầy lang giả.
Lâm Đằng Xà, Tử môn cũng chỉ bà đồng, thầy cúng, cô đồng.
Huyền Vũ chủ thầy thuốc giả, thuốc giả.
Thiên Tâm, Ất kỳ lâm Đỗ môn + Bạch Hổ → y thuật xuất sắc, kỹ thuật vững vàng.
Lâm Thái Âm → bác sĩ tâm lý tỉ mỉ, cẩn thận.
Lâm Khai môn, Đinh kỳ → phẫu thuật, mổ xẻ.
Dù là thầy thuốc tồi hay lương dược, chỉ cần khắc được cung bệnh tinh rơi, thì việc chữa trị ắt có công hiệu.
Lục nghi kích hình chủ tai bệnh:
Giáp Thìn Nhâm lâm cung Tốn (4) → tứ chi tổn thương hoặc đau chân.
Giáp Dần Quý lâm cung Tốn (4) → tứ chi tổn thương hoặc đau chân.
Giáp Thân Canh lâm cung Cấn (8) → thường bị tai nạn xe cộ.
Giáp Tý Mậu lâm cung Chấn (3), Giáp Ngọ Tân lâm cung Ly (9), Giáp Tuất Kỷ lâm cung Khôn (2) → nói chung là tai bệnh, đau ốm.
Phản ngâm đại diện cho bệnh cấp tính, tình trạng bệnh thay đổi, tái phát.
Phục ngâm đại diện cho bệnh lâu ngày, bệnh mãn tính, thời gian mắc bệnh dài, khó chữa khỏi trong thời gian ngắn.
Khi điều trị bệnh, có thể dùng khởi môn để chọn phương vị có lợi để chữa bệnh, cũng như chọn loại bác sĩ (tuổi, hình dáng đặc trưng, v.v.) nhằm chữa lành bệnh nhanh và hiệu quả hơn. Khi chọn, ưu tiên cung khắc được cung bệnh thần rơi, tốt nhất là dương khắc dương, âm khắc âm, vì cùng tính khắc nhau mạnh hơn, hiệu quả điều trị tốt hơn.
Sáu. Các bệnh cụ thể trong Kỳ Môn
Cảm mạo (cảm cúm):
Nhật can lâm Bính, hoặc can Bính, Đinh, hoặc Thiên Nhuỵ lâm Bính, Đinh → triệu chứng sốt.
Mậu + Nhâm hoặc Mậu + Quý → triệu chứng chảy nước mũi.
Quai bị (viêm tuyến mang tai):
Liên quan đến Mậu và Kỷ; cung Khôn, Tốn xuất hiện sao Bính; Nhật can và Thời can cộng lên Mậu, lâm cung Tốn, Khôn.
Viêm gan:
Ất + Đinh, Bính → viêm gan.
Ất + Canh → xơ gan.
Nếu Thời can, Nhật can, Thiên Nhuỵ có thông tin này, kết hợp tổ hợp để đoán bệnh.
Viêm tủy sống:
Tủy sống là Thiên Trụ. Nếu Thiên Nhuỵ, Nhật can, Thời can lâm cung Ly + Canh → sốt, đau đầu.
Lâm cung Đoài gặp Kinh môn hoặc Thiên Trụ → ho.
Mậu + Kỷ + Canh + Quý + Nhâm → chảy nước mũi.
Canh + Bính → buồn nôn.
Canh + Kỷ → nôn mửa.
Nhâm, Quý (Thủy) là mồ hôi, lâm vượng địa → người nhiều mồ hôi.
Canh + Mậu → chán ăn.
Ất + Nhâm, Quý rơi cung Khảm → phân lỏng, tiêu chảy.
Kỷ + Nhâm → tiểu đường.
Tiểu đường (đái tháo đường):
Ắt có Thủy (Nhâm, Quý là máu).
Ắt có Thổ (Thổ đại diện cho chất ngọt, thành phần máu không tốt).
Ắt có Thiên Nhuỵ. Nếu không có Thiên Nhuỵ thì dù sống trăm tuổi cũng không sao; tổ hợp máu nhớt, liên quan đến tiểu đường.
Lỵ (kiết lỵ):
Thiên Nhuỵ, Nhật can, Thời can rơi cung Khảm; Thiên Tâm lâm Canh cũng rơi trong đó.
Mậu + Canh → nôn mửa.
Thiên Tâm + Canh → buồn nôn.
Thiên Nhuỵ rơi cung Khôn, Khảm, lại có Bạch Hổ hoặc Nhâm, Quý → đau bụng, tiêu chảy.
Lục Hợp → số lần đi ngoài nhiều (Lục Hợp là nhiều lần).
Nếu có các đặc điểm trên → lỵ thể thấp nhiệt.
Lao hạch cổ (hạch ở cổ):
Ất + Tân → lao hạch.
Ất + Tân lâm Đằng Xà, Thiên Nhuỵ, Mậu + Quý hoặc Kỷ + Quý → thối rữa, mưng mủ.
Tân càng vượng thì hạch càng to.
Lao phổi:
Thiên Nhuỵ, Nhật can, Thời can rơi cung Càn hoặc Đoài, có Tân và Bạch Hổ → lao phổi.
Sốt rét (malaria):
Triệu chứng: sốt cao, nôn, rét run.
Ất + Canh rơi cung Ly → cổ cứng.
Nhật can, Thời can lúc này có Mậu + Canh hoặc Quý + Canh → nôn mửa.
Đinh + Tân lâm Cảnh môn → bực bội, khó chịu.
Bính, Đinh lâm cung Đoài → khát nước.
Trúng nắng (say nắng):
Nhật can, Thời can, Thiên Nhuỵ: nếu có Giáp + Canh rơi cung Ly → đau đầu.
Lâm Huyền Vũ → chóng mặt.
Mậu + Canh → nôn mửa.
Thiên Tâm + Canh → bực bội.
Cung Tốn lâm Bạch Hổ → khó thở, thở gấp.
Viêm phổi:
Canh, Tân + Bính, Đinh hoặc Canh + Bính, Tân + Bính, Canh + Đinh, Tân + Đinh rơi cung Ly, Đoài → viêm phổi.
Canh + Thiên Trụ → ho.
Chỉ Phù cộng lên Canh → đau đầu.
Cung Khôn, Khảm + Canh hoặc Bạch Hổ → đau mình.
Quý + Canh → đờm trắng.
Quý + Mậu → đờm vàng.
Quý + Bính → đờm có máu.
Viêm phế quản:
Ất là khí quản, Đinh là viêm.
Ất + Bính, Ất + Đinh lâm Thiên Nhuỵ hoặc Nhật can, Thời can, rơi cung Tốn.
Viêm dạ dày – ruột cấp tính:
Ất, cung Khôn, Cấn, Mậu, Kỷ đều đại diện cho dạ dày, ruột.
Nếu Thiên Nhuỵ, Nhật can, Thời can rơi cung Khôn, Cấn hoặc Ất, Mậu, Kỷ lâm Canh + Bạch Hổ + Mã tinh hoặc lâm Kinh môn → nôn mửa, sôi bụng.
Viêm dạ dày:
Mậu, Kỷ + Bính, Đinh lâm cung Khôn, Cấn → viêm dạ dày.
Viêm ruột:
Ất + Bính, Đinh rơi cung Khôn, Cấn → viêm ruột.
Viêm túi mật, sỏi mật:
Ất + Tân lâm cung Chấn, Tốn → viêm túi mật hoặc sỏi mật.
Viêm túi mật: thêm Bính, Đinh.
Sỏi mật: thêm Canh, Tân, rơi cung Chấn, Tốn.
Viêm thận:
Nhâm, Quý, Huyền Vũ → thận.
Bính, Đinh → viêm.
Mậu + Tân → cầu thận.
Mã tinh → bệnh cấp tính.
Sỏi thận: Nhâm, Quý + Tân rơi cung Khảm.
Sỏi hệ tiết niệu:
Cung Khảm, Chấn, Đoài đều là vùng thắt lưng.
Nếu rơi cung có Canh + Đỗ môn → đau âm ỉ hoặc đau từng cơn.
Cộng thêm Mã tinh → đau dữ dội.
Ung thư tuyến tiền liệt:
Ất + Đinh, Ất + Canh, Ất + Tân, Ất + Bính.
Xem chỉ số sức khỏe. Nếu có Bạch Hổ và Canh → bệnh rất nặng.
Nếu không có → chỉ là viêm.
Điều trị: dùng sơn tra (táo mèo), câu kỷ tử; để chữa bệnh trên Ất dùng hồ lô hoặc dây leo.
Ung thư (nói chung):
Bạch Hổ + Canh + Thiên Nhuỵ.
Bệnh tim mạch vành (coronary heart disease):
Trong Kỳ Môn: cung Ly, Chấn, Khảm, Mã tinh, Bính, Đinh, Nhâm, Quý đại diện cho tim.
Ất và Nhâm đại diện cho động mạch.
Kỷ + Canh, Quý + Tân, lại có Ất lâm cung → xơ vữa động mạch vành, cũng là hẹp lòng mạch.
Đỗ môn → tắc nghẽn, không thông.
Bệnh tim thấp khớp (rheumatic heart disease):
Cung Ly, Chấn, Khảm, Bính, Đinh, Nhâm, Quý → tim.
Lục Hợp → van tim.
Lâm Thiên Nhuỵ + Bạch Hổ.
Huyết áp cao:
Cửu Thiên, Thiên Xung là huyết áp cao.
Nếu lâm cung Ly, Càn, lại có Cảnh môn, Thiên Anh, Bính, Đinh hoặc Nhâm, Quý xuất hiện → đặc trưng của huyết áp cao.
Huyết áp thấp:
Cửu Địa, Huyền Vũ lâm cung Ly, Càn... có Cảnh môn, Thiên Anh, Bính, Đinh hoặc Nhâm, Quý → huyết áp thấp.
Nếu lâm Đằng Xà → huyết áp không ổn định.
Cường giáp (Basedow):
Ất + Mậu, Kỷ + Tân rơi cung Ly, Tốn, Khôn hoặc Đoài, lâm Thiên Nhuỵ + Mã tinh, Nhâm, Quý, Bính, Đinh + Tân hoặc + Kỷ, + Mậu → đặc trưng cường giáp.
Đau dây thần kinh sinh ba (trigeminal neuralgia):
Ất + Canh, Đinh, Bạch Hổ rơi cung Tốn, Ly, Khôn → đau dây thần kinh sinh ba.
Liệt mặt (Bell's palsy):
Ất + Mậu, Kỷ hoặc Mậu, Kỷ + Ất, lâm Tử môn rơi cung Ly, Càn, Khôn, Tốn → biểu hiện liệt mặt.
Tai biến mạch máu não (nhồi máu não, xuất huyết não):
Ất + Bính, Đinh, Tân, lâm Thiên Nhuỵ, Bạch Hổ, Đỗ môn rơi cung Ly hoặc Càn, Tốn, Khôn → thông tin tai biến mạch máu não.
Đau dây thần kinh tọa (sciatica):
Ất + Canh, Bạch Hổ, bệnh tinh Thiên Nhuỵ rơi cung Cấn, Càn, Khảm → đau thần kinh tọa.
Viêm đa dây thần kinh (polyneuritis):
Cung Chấn, Cấn đại diện cho tay, chân.
Nếu có Ất + Tân hoặc Ất + Canh, lâm Thiên Nhuỵ rơi cung Cấn, Chấn → viêm đa dây thần kinh.
Bệnh cuồng loạn (hysteria):
Đằng Xà rơi cung Tốn, Ly, Khôn, Càn, nếu có thêm Bạch Hổ hoặc Thiên Nhuỵ → cuồng loạn, cũng là sang chấn tinh thần.
Bệnh máu (huyết học):
Thiên Nhuỵ và Đỗ môn rơi cung Cấn, Khôn, hoặc Nhâm, Quý + Đỗ môn → vấn đề về máu.
Bệnh cột sống thắt lưng:
Thiên Trụ lâm cung Khảm, Đoài, Khôn, Càn, cộng thêm Thiên Nhuỵ → bệnh cột sống lưng (Thiên Trụ đại diện cho cột sống lưng).
Bệnh cột sống cổ:
Ất + Tân lâm cung Tốn, Ly, Khôn → cột sống cổ.
Bệnh phụ khoa:
Dùng Nhâm, Quý đại diện.
Nhâm + Tân, Nhâm + Kỷ, lâm cung Khảm, Chấn, Đoài, Khôn → u xơ tử cung.
Táo bón:
Kỷ + Canh lâm cung Khảm → táo bón.
Kỷ + Quý → tiêu chảy.
Các bài liên quan:
- Nhập Môn Kỳ Môn Độn Giáp
- Kỳ Môn Độn Giáp Là Gì? Giải Mã Toàn Diện Từ Nguyên Lý Đến Ứng Dụng Thực Tiễn
- Lợi Ích Của Việc Học Kỳ Môn Độn Giáp Là Gì?
- Tại Sao Phải Học Kỳ Môn Độn Giáp? Nó Mang Lại Lợi Ích Gì Cho Chúng Ta?
- Học Kỳ Môn Độn Giáp: Những Điều Kiện Nào Có Thể Hỗ Trợ Nâng Cao Độ Chính Xác
- Kiến Thức Cơ Bản Về Kỳ Môn – Cách Lấy Dụng Thần
- Nhập Môn Nghệ Thuật Lấy Dụng Thần
- Lịch Sử Kỳ Môn Độn Giáp
- Những Sai Lầm Thường Gặp Khi Luận Giải Kỳ Môn Độn Giáp Và Cách Khắc Phục
- Hướng Dẫn Lập Cục Kỳ Môn Chi Tiết
- Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Xác Định Tuần Thủ Trong Kỳ Môn Độn Giáp
