BÀN NHỎ VỀ KỲ MÔN ĐỘN GIÁP: QUY NẠP LỤC THÂN VÀ THẬP THIÊN CAN

BÀN NHỎ VỀ KỲ MÔN ĐỘN GIÁP: QUY NẠP LỤC THÂN VÀ THẬP THIÊN CAN

 

Phép "Kỳ Môn Lục Thân" được nâng cấp dựa trên phép "Kỳ Môn Lai Khách Tiếp Dẫn Pháp", quy nạp lục thân với thập thiên can: sinh ra ta là cha mẹ... v.v.

Ví dụ: Nhật can là Canh (nam), Thời can là Giáp. Mối quan hệ giữa Canh và Giáp: cái ta khắc là vợ và tài, Giáp là tài (tài lộc), vì vậy người này có thể hỏi về vận tài lộc. Nếu lại gặp Sinh Môn và Mậu thì rất chắc chắn. Dưới Nhật can lâm cái can, ví dụ là Bính. Mối quan hệ giữa Canh và Bính: cái khắc ta là quan quỷ, Bính là quỷ, có thể thân thể không tốt. Quỷ đại diện cho sự vật ẩn tàng, có thể xem cung của Thiên bàn Bính.

Phép Lục Thân cơ bản dựa theo nguyên lý sự vật để phân tích việc chính mà người đến hỏi.

Trong Kỳ Môn Độn Giáp, Bát Thần là tư tưởng, Cửu Tinh là tính cách, Bát Môn là sự việc.

  • Nhật can lâm Hưu Môn: người lười biếng, ham chơi. Thời can Hưu Môn liên quan đến hôn nhân gia đình.

  • Nhật lâm Sinh Môn: tính cách hoạt bát.

  • Thời lâm Sinh Môn: quan điểm kinh tế mạnh. Khắc Nhật can thì đời sống kinh tế khó khăn.

  • Nhật lâm Thương Môn: tính cách hiếu động. Cách cục tốt thì người thẳng thắn, nhanh nhẹn. Lời nói hay làm tổn thương người khác.

  • Thời can lâm Thương Môn: liên quan đến xe cộ hoặc tổn thương đầu óc, việc khó làm. Khắc Nhật can thì cơ thể dễ gặp ngũ tai (năm tai họa). Sinh Nhật can thì bản thân làm việc cứng đầu, cố chấp, ưa tranh đấu.

  • Nhật lâm Đỗ Môn: tính cách bảo thủ, nói năng giữ kín, không dễ tiết lộ.

  • Thời Đỗ Môn: liên quan đến kỹ thuật, kỹ xảo. Khắc Nhật can thì có việc bị tắc nghẽn. Sinh Nhật can thì có kỹ thuật.

  • Nhật lâm Cảnh Môn: người có mưu kế, thích náo nhiệt, lễ phép.

  • Thời lâm Cảnh Môn: có kế hoạch, có đầu óc tư tưởng, liên quan đến chứng từ, văn thư.

  • Nhật lâm Tử Môn: không thoải mái, không vui, mặt căng thẳng.

  • Thời Tử Môn: sự việc không tốt, liên quan đến sự vật đứng yên.

  • Nhật lâm Kinh Môn: lo lắng sợ hãi. Thời Kinh Môn: liên quan đến thị phi, làm việc nguy hiểm, có tổn hại. Sinh Nhật can thì biết biến thông. Khắc Nhật can thì sự việc bị tổn thương.

  • Nhật lâm Khai Môn: tính cách cởi mở, phóng khoáng.

  • Thời lâm Khai Môn: liên quan đến công việc. Khắc Nhật can thì công việc có việc phiền lòng, không thuận. Sinh Nhật can thì công việc tương đối hài lòng.

Luận về Cửu Tinh trong mệnh lý lâm thời:

  • Thiên Bồng sinh Nhật can: thông minh. Thiên Bồng không vượng mà sinh Nhật can: láu cá, cơ hội, gian trá.

  • Thiên Nhậm sinh Nhật can: làm việc nghiêm túc, trung hậu, làm chậm rãi tỉ mỉ. Khắc Nhật can thì khá lười. Xung sinh Nhật can thì làm việc dứt khoát, có tốc độ.

Đem Cửu Tinh, Bát Môn so sánh toàn diện với Nhật can. Không chỉ có thể dùng Nhật can mà cả Cửu cung đều dùng. Mỗi người đều có sao Tham Lang (Tham Lang tinh), chẳng lẽ người không lâm sao tham lam thì không có dục vọng ư? Vì vậy, Cửu Tinh phải phát huy ở những nơi khác nhau. Ngồi trong nhà mà biết được mọi sự vật xung quanh xảy ra; trước khi hành động đã biết chuyến đi này có thuận lợi thành công hay không; hôm nay có thể biết trước việc gì sẽ xảy ra sau này. Chúng ta thường chỉ xem Nhật can và Thời can, lượng thông tin thường chỉ phiến diện. Cách xem toàn diện mới thực sự là vua của các thuật số trong Kỳ Môn. Chuyển Thái Cực để xem những điều xảy ra từng ngày trong vòng gần một tháng, thì việc đạt tới cảnh giới cao nhân ngoài thế gian không còn xa. Chúng ta thường chỉ khóa chặt Nhật can, Thời can mà chưa tham ngộ những ý ngoài lời.

Kỳ Môn Độn Giáp: bí pháp hằng ngày

  • Thời can là vận khí, Nhật can là mệnh chủ.

  • Nhật can khắc cung Thời can: đại diện cho sự hy sinh lớn, vất vả mệt nhọc, phải hy sinh mới thành công, làm việc không thuận lợi.

  • Thời can khắc cung Nhật can: đại diện cho gặp việc không thuận, có khốn cảnh, có nan đề, làm việc dễ xảy ra tranh chấp và đình trệ.

  • Nhật can và cung Thời can tỷ hòa: đại diện cho sự việc thuận lợi, trôi qua trong cảnh thuận lợi, vô ưu vô lự, không phiền não.

Ở trên, dựa vào sự so sánh giữa Bát Thần với Bát Thần, Cửu Tinh với Cửu Tinh của hai cung. Sự biến hóa nạp âm của Cửu Tinh, sự vượng suy của Cửu Tinh quyết định sự biến hóa tính cách. Ví dụ: Thiên Bồng vượng đại diện cho trí tuệ, thông minh; không vượng đại diện cho gian trá... Thường có nhiều người khi lập quẻ không phân tích sự vượng suy của Cửu Tinh, vì vậy có sự khác biệt.

  • Bát Môn bị khắc: tác dụng giảm yếu. Hung môn bị khắc: việc hung không khởi phát.

  • Bát Thần không luận ngũ hành. Bất kỳ một thần nào rơi vào cung cũng sẽ xuất hiện sự việc và tình cảm tương ứng với Bát Thần đó.

  • Địa chi cũng được dùng. So sánh Nhật can dương can với địa chi dương và địa chi trong tứ trụ.

Ví dụ: Thời can Mậu rơi vào cung Bát (cung Cấn). Chỉ cần trong tứ trụ xuất hiện một Thân thì sẽ phá tài. Nếu Thân trong tứ trụ bị hợp lại thì không phá tài. Một Thân thì phá tài một lần, hai Thân thì phá tài hai lần. Địa chi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi: tự hình, tự mình làm khó mình, những địa chi này bề ngoài hợp nhưng lòng không hợp. Cách dùng địa chi đã mang đến một thông tin quan trọng cho địa bàn của Kỳ Môn Độn Giáp. Ví dụ: Thời can Kỷ rơi vào cung Tứ (cung Tốn), trong tứ trụ xuất hiện Thân thì Tỵ và Thân hợp, phần nhiều có ngoại tình, có sự vướng bận. Cách dùng địa chi đơn giản như vậy.

Nhật can lâm cung Bát (Cấn). Muốn xem sự việc trong quá khứ thì dùng cung Càn, bát quái tiên thiên có thể thấy việc quá khứ. Muốn xem sau này thì dùng cung Bát (Cấn) và cung Cửu (Ly), xem cung Ly, hoặc tuần thủ tiến một vị. Kỳ Môn truyền thống hỏi cát hung, hỏi họa phúc, trước hết xem xung của tứ trụ thiên can, cung lạc của thiên bàn can tương ứng với xung đó chính là nguyên nhân không thuận của việc mà người đó muốn hỏi.

Ví dụ: Niên can là Quý, Quý và Đinh xung, xem cung Đinh lạc chỗ nào, đó chính là sự việc. Những điều này trong ứng dụng cần thực chiến nhiều hơn. Một bàn Kỳ Môn sẽ không sai, chỉ sai ở trình độ của cách dùng dụng thần mà thôi.

Xem việc ngày mai: tra ra Nhật trụ của ngày mai, can xung với Nhật trụ của ngày mai chính là thông tin cung vị của sự việc quan trọng. Hoặc suy thuận từ cung Ly (cửu cung) theo thiên can và địa chi. Lượng thông tin này cực kỳ lớn, vì vậy cần bỏ qua một số thông tin không cần thiết. Ví dụ: ngày mai gặp Bạch Hổ, có tranh đấu, nhưng nếu ngày mai không ra khỏi nhà thì không phải là tranh đấu mà là nóng nảy, v.v.

Phương pháp lập cục: sắp xếp khắc (thời khắc). Mỗi khắc mười phút. Nếu thiếu mười phút thì tính theo mười phút. Ví dụ: 7 giờ 1 phút, tính theo 7 giờ 10 phút, Ngọ khắc; 7 giờ 11 phút, tính theo 7 giờ 20 phút, Mùi khắc. Lập cục theo số phút. Ví dụ: 8 giờ 58 phút, 58 chia cho 9 lấy số dư làm số cục. Âm độn, dương độn tùy ý, không câu nệ cổ pháp. Có thể ban ngày dùng dương độn, ban đêm dùng âm độn; nam dùng dương độn, nữ dùng âm độn, v.v. Như vậy không chỉ nâng cao tính linh hoạt của thông tin người đến, mà trong cùng một thời gian, mấy trăm người đến hỏi việc cũng đều có thể có được số cục và thông tin khác nhau. Dương gần âm lùi, gia giảm chính phụ. Nếu lười không muốn lập cục, thì dùng sự gia giảm của Nhật can, Thời can trong cục cũ. Ví dụ: dương độn, Nhật can ở cung 8 (Cấn), thì người thứ hai xem cung 9 (Ly), người thứ ba xem cung 1 (Khảm). Âm độn, Nhật can ở cung 8, lùi một cung, người thứ hai xem cung 7 (Đoài), người thứ ba xem cung 6 (Càn), v.v. Gia giảm chính phụ: Nhật can là Canh, dương độn người thứ hai xem Tân, v.v. Dùng để suy tính. Phép Lai Khách Tiếp Dẫn là khi người đến cầu đoán, hãy tìm ra thông tin mà mình nắm chắc nhất, không thể đoán sai ngay câu đầu tiên. Bàn Kỳ Môn thường xuất hiện thông tin kép, xem mình tìm cách nào. Thông tin kép chính xác 100%. Mệnh lý Cửu Cung là Kỳ Môn tứ trụ, có hai phương pháp. Phương pháp thứ nhất: tìm ra cung lạc của tuần thủ năm so sánh với Nhật can. Phương pháp thứ hai: suy tính từ địa chi năm sinh, thuận chuyển mỗi cung năm năm, tứ trụ suy tính vận trình hiện tại nhất định phải kết hợp với năm, tháng, ngày, giờ hiện tại.

Cuối cùng, xin nói một chút tâm đắc: Kỳ Môn Độn Giáp là bí pháp huyền diệu, có những thứ chỉ có thể dùng chứ không thể tuyên truyền. Để đạt tới cảnh giới cao hơn, cần phải liên tưởng Kỳ Môn với thông tin đời sống hàng ngày, chi tiết nhỏ phát huy vấn đề lớn. Hãy gạt bỏ niên mệnh, loại bỏ những dụng thần lặt vặt trong Kỳ Môn, để đạt được Kỳ Môn chân chính "người đến không cần hỏi, theo câu hỏi đáp ngay, lập cục trong lòng bàn tay". Bàn Kỳ Môn ví như lưới trời, hỏi gì xem đó. Bất kỳ vấn đề gì người cầu đoán hỏi đều không thoát khỏi cục Kỳ Môn. "Kỳ đại vô ngoại, kỳ tiểu vô nội" cũng chính là hàm ý "Kỳ Môn biến hình kim cương". Thường thì dụng thần không ở trong cục, mà ở ngoài cục, nhìn cái người khác không nhìn thấy, nghe cái người khác không nghe thấy, đó là sự cảm ứng giữa trời đất và Kỳ Môn.

 

 

Các bài liên quan: