GIỚI THIỆU KỲ MÔN PHÁP THUẬT – TỌA CÔ KÍCH HƯ
Trong Kỳ Môn Pháp Thuật thường nhắc đến Lục Giáp Cô Hư, Bối Cô Kích Hư (quay lưng về Cô đánh vào Hư) hay Tọa Cô Kích Hư (ngồi Cô đánh Hư). Tác giả xin được tổng hợp như sau:
1. LỤC GIÁP CÔ HƯ – BÍ THUẬT BINH GIA
Lục Giáp Cô Hư bí pháp vốn là bí thuật binh gia dùng trong sát phạt tranh chiến. Uy lực của nó có thể công, có thể thủ, có thể trợ giúp cực lớn khí thế và lực lượng của phe ta, áp chế và chinh phục đối phương – vô cùng kỳ diệu.
Ngày nay, nó có lợi trong các lĩnh vực như: cờ bạc, trò chơi đối kháng, đàm phán giao dịch, đấu trí tâm lý… Nếu vận dụng đúng, có thể giúp phe ta chiếm thế chủ động, giành ưu thế lớn nhất, khiến đối phương rơi vào thế bị động, yếu thế.
Hoàng Thạch Công nói:
"Quay lưng về Cô, đánh vào Hư, một người con gái cũng có thể địch nổi vạn quân."
Cô là tượng cao thượng, độc tôn.
Hư là tượng thấp hèn, yếu ớt, hư nhược.
Cô – Hư chính là bí đạo thắng trận của nhà binh.
2. PHÂN LOẠI LỤC GIÁP CÔ HƯ
Bí pháp có 4 loại: Niên Cô, Nguyệt Cô, Nhật Cô, Thời Cô. Do Nhật Cô trùng với Thời Cô, Niên Cô trùng với Nguyệt Cô, nên thực chất chỉ có hai loại:
2.1. Niên Cô và Nguyệt Cô
Theo thứ tự 12 Địa chi từ Tý đến Hợi, vị trí đứng trước chi của năm chính là Niên Cô. Ví dụ:
Năm Tý → Niên Cô tại phương Hợi
Năm Sửu → Niên Cô tại phương Tý
Năm Dần → Niên Cô tại phương Sửu
Các năm khác suy tương tự.
Nguyệt Cô cũng suy hoàn toàn tương tự như Niên Cô.
2.2. Nhật Cô và Thời Cô
Dựa vào vòng tuần hoàn 60 Hoa Giáp, mỗi tuần 10 ngày (một tuần), 10 Thiên Can kết hợp với 12 Địa chi sẽ thừa ra hai Địa chi không có Thiên Can đi cùng, hai Địa chi đó gọi là Cô. Cô chính là "Lục Giáp tuần trung không vong" (tuần không). Phương vị đối diện với Cô gọi là Hư.
Phương vị Cô – Hư được tính theo 12 phương, mỗi phương 30 độ: Tý – Bắc, Ngọ – Nam, các phương khác suy tương tự.
3. YẾU QUYẾT LỤC GIÁP CÔ HƯ
3.1. Tầng lớp ứng dụng
Niên Cô, Nguyệt Cô thường dùng cho việc lớn.
Nhật Cô, Thời Cô được dùng nhiều nhất, hiệu quả rất cao.
3.2. Nguyên tắc vận dụng
"Bối Cô kích Hư" – quay lưng về phương Cô, đối diện phương Hư mà hành sự.
3.3. Phân biệt Âm Dương
Phương Cô có Dương Cô và Âm Cô:
Ngày Dương dùng Dương Cô
Ngày Âm dùng Âm Cô
Phân biệt theo Địa chi:
Dương chi: Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất
Âm chi: Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi
Đây là bí mật bất truyền của Lục Giáp Cô Hư, xưa nay ít ai nói rõ. Nếu không phân biệt âm dương, uy lực Cô Hư sẽ không thể phát huy bình thường – xin hãy nhớ kỹ.
3.4. Ảnh hưởng của Ngũ hành Vượng suy
Gặp vượng khí → uy lực gia tăng cực lớn
Gặp bình khí → uy lực nhân đôi
Gặp suy khí → uy lực như thường
Gặp tử khí → uy lực suy giảm
3.5. Âm dương tương ứng
Khi vận dụng: Dương Cô đánh Dương Hư, Âm Cô đánh Âm Hư.
4. BÀN LUẬN NHỎ VỀ KỲ MÔN ĐỘN GIÁP VÀ CÔ HƯ PHÁP
Cách dùng để chiêm đoán: Sách viết: "Dùng Cô Hư để tìm phương hướng kẻ trộm vào và nơi cất giấu tang vật." "Đạo" ở đây nghĩa là từ phương hướng nào. Ví dụ "từ Đông Nam vào", "từ Tây Nam vào"... chính là chỉ phương hướng kẻ trộm đến.
Nhật thần bất toàn, cố hữu Cô Hư (Nhật thần không đầy đủ, nên mới có Cô Hư).
Bảng Lục Giáp Cô Hư chi tiết:
| Tuần | Không vong (Cô) | Đối xung (Hư) |
|---|---|---|
| Giáp Tý | Tuất, Hợi | Thìn, Tỵ |
| Giáp Tuất | Thân, Dậu | Dần, Mão |
| Giáp Thân | Ngọ, Mùi | Tý, Sửu |
| Giáp Ngọ | Thìn, Tỵ | Tuất, Hợi |
| Giáp Thìn | Dần, Mão | Thân, Dậu |
| Giáp Dần | Tý, Sửu | Ngọ, Mùi |
Phàm tuần không là Cô, đối xung là Hư. Các tuần khác suy tương tự.
Niên, nguyệt, nhật, thời cô hư cũng đều theo pháp trên.
5. CHÂN NGHĨA CỦA "TỌA CÔ KÍCH HƯ"
Tọa Cô Kích Hư có nghĩa là: Làm cho địch ngồi vào thế Cô, đứng vào thế Hư, còn ta dùng thực lực đánh vào đó.
Giải thích: Cô là vị trí không vong trong tuần, nơi không được khí, điểm phòng thủ yếu ớt, nơi tinh thần ta dễ phân tán. Quân cướp thường từ hướng Cô xâm nhập, đánh vào chỗ yếu của ta, đó gọi là "khi cô" (bắt nạt chỗ trống).
Hành quân bày trận, âm dương hư thực, địch ta lừa lọc, biến hóa khôn lường. Chiến trường vẫn phải căn cứ vào thế đất thực tế để quyết định cách bày trận, tấn công hay phòng thủ – tức là theo Loan Đầu pháp. Lý khí chỉ là thứ yếu.
6. ỨNG DỤNG TRONG ĐÀM PHÁN
Một trong những nguyên tắc của đàm phán là làm cho mình ở thế có lợi, đối phương rơi vào thế bất lợi tương đối. Tuy nhiên, thương trường ngày nay đề cao chiến lược "đôi bên cùng thắng" (win-win), mới là sách lược tốt. Rốt cuộc ai thiệt, ai lời – ai cũng rõ. Dù có thể thắng thế nhất thời bằng thuật này, nhưng về lâu dài, kinh doanh sẽ không bền – không cần bàn cãi.
Xem xét khí trời đất, căn nguyên ở âm dương, hiểu rõ cô hư, xét kỹ còn mất, mới có thể cân đo địch ta.
Thao tác cụ thể:
Khi đàm phán, bạn nên ngồi vào vị trí Cô (vị trí tuần không), quay mặt về hướng Hư (phương đối xung với tuần không).
Cố gắng dùng Thời Can.
Dù đàm phán kéo dài hơn một canh giờ (một thời), bạn không cần lo, miễn là chưa ra khỏi bản tuần (tức chưa đổi tuần), thì năng lượng "Tọa Cô Kích Hư" vẫn còn.
Ví dụ: Sáng 7 giờ bạn có buổi đàm phán. Hôm đó, 7–9h là Canh Thìn, tiếp theo Tân Tị, Nhâm Ngọ, Quý Mùi – do vẫn chưa đổi sang Giáp tuần mới (Quý Mùi vẫn thuộc cùng Giáp Thân tuần), bạn có thể dùng từ 7h sáng đến 3h chiều, đều có lợi.
Nếu thời can bạn chọn bắt đầu bằng chữ "Quý", thì phải chú ý: sau khi hết một thời này, sẽ đổi sang tuần mới.
Tuy nhiên, đừng lo! Bạn chỉ cần dịch sang phía tay phải 60 độ là được. Làm thế nào để sắp xếp đối phương lại ngồi đối diện bạn – tùy vào kỹ năng ăn nói của bạn.
Ví dụ cụ thể: Trong Giáp Thân tuần: Quý Tị giao sang Giáp Ngọ, Cô sẽ chuyển từ Ngọ Mùi sang Thìn Tị. Vì Thìn Tị nằm ở phía tay phải của Ngọ Mùi, nên bạn phải dịch sang phải 60 độ.
Tại sao 60 độ? Vì 360 độ chia cho 12 Địa chi, mỗi Địa chi chiếm 30 độ, không vong là 2 Địa chi → 60 độ.